Cựu chiến binh

TRỊNH VĂN TÚC - NGƯỜI LÍNH TRẺ NĂM ẤY

Có được thống nhất là một thành quả rất lớn; giữ được sự ổn định và tạo nền tảng cho cuộc sống tốt hơn lại cần sức lực của nhiều năm tiếp theo. Tôi đã sống trong hàng ngũ giữa chính giai đoạn ấy, chứng kiến đất nước từng bước chuyển từ tâm thế chiến tranh sang công cuộc xây dựng lâu dài.

Thanh Hóa16/09/2026Xã Thiệu Hóa (Xã Thiệu Hóa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có lúc con người chỉ nhận ra mình đã đổi khác khi một ngày ngoảnh lại và thấy những điều từng khiến mình băn khoăn giờ đã trở thành phần nền của tính cách. Tôi là Trịnh Văn Túc, sinh năm 1950, quê Thiệu Hóa. Năm 1969, khi khoảng mười chín tuổi, tôi nhập ngũ; quãng phục vụ gắn với 279 – Bộ Tư lệnh Công binh và kéo dài đến năm 1986. Mười bảy năm trong quân đội đã đưa tôi đi qua hai chặng rất khác nhau của đất nước: những năm cuộc kháng chiến chống Mỹ còn quyết liệt và một thời kỳ dài sau ngày thống nhất, khi cả dân tộc phải bắt tay khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ thành quả hòa bình và gây dựng lại cuộc sống. Tôi bước vào hàng ngũ khi còn là một chàng trai chưa đầy hai mươi tuổi, rồi rời quân đội khi đã ngoài ba mươi, đúng vào năm đất nước bắt đầu công cuộc Đổi Mới. Khoảng giữa hai cột mốc ấy là gần trọn những năm thanh niên đẹp nhất của một đời người.

Năm 1969, đất nước vẫn bị chia cắt và cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở trong một giai đoạn đầy thử thách. Với một thanh niên Thiệu Hóa thời ấy, những dự định riêng của tuổi trẻ không thể tách khỏi hoàn cảnh chung của quê hương, đất nước. Tôi cũng từng nghĩ đến một cuộc sống bình thường, đến công việc, đến những điều mà người trẻ nào rồi cũng mong muốn cho tương lai. Nhưng khi non sông chưa thống nhất, có những lựa chọn tự nhiên trở thành trách nhiệm của cả một thế hệ. Tôi bước vào quân đội với nhận thức còn giản dị, chưa thể biết chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu, càng không thể hình dung mình sẽ ở lại trong hàng ngũ tới tận năm 1986. Phía trước lúc ấy chỉ là một chặng chưa thể nhìn hết; điều mình có thể làm là đi từng bước và học cách sống xứng đáng với phần trách nhiệm đã nhận.

Rời Thiệu Hóa, tôi mới cảm nhận rõ một miền quê có thể ở trong con người sâu đến mức nào. Không phải cứ nhắc quê hương là phải nhớ đến một cảnh tượng thật cụ thể. Đôi khi đó chỉ là cảm giác thân thuộc đã theo ta từ nhỏ, một thứ bình yên vốn từng hiện diện tự nhiên đến mức ta ít để ý. Đi xa rồi, cảm giác ấy mới thành nỗi nhớ. Nhưng nỗi nhớ quê trong những năm quân ngũ không chỉ kéo lòng người về phía sau; nó còn giúp tôi hiểu mình đang hướng tới điều gì. Điều người lính mong mỏi sau cùng không phải chiến tranh kéo dài, mà là ngày những miền quê được sống yên ổn, những cuộc chia xa không còn trở thành điều quá quen thuộc. Tôi mang Thiệu Hóa đi cùng mình theo cách ấy: không phải bằng một vật gì cụ thể, mà bằng ý thức rằng nơi mình sinh ra cũng là một phần của đất nước mà thế hệ mình đang góp sức gìn giữ.

Trong đội ngũ công binh, trưởng thành bằng sự chắc chắn

Quãng quân ngũ của tôi gắn với 279 – Bộ Tư lệnh Công binh. Công binh là một lực lượng thuộc quân đội, mang đặc trưng tổ chức và kỹ thuật, đòi hỏi ở con người tinh thần kỷ luật, sự phối hợp và thái độ cẩn trọng. Với tôi, sống trong môi trường ấy nhiều năm đã hình thành một nếp nghĩ rất rõ: càng là công việc có liên hệ với nhiều người, càng không thể tùy tiện. Một người trẻ có thể có rất nhiều nhiệt tình, nhưng nhiệt tình phải đi cùng sự chắc chắn. Sự hấp tấp đôi khi khiến ta tưởng mình đang tiến nhanh, trong khi điều cần thiết hơn lại là làm đúng, hiểu rõ phần của mình và biết đặt nó vào mối liên hệ chung. Những năm đầu quân ngũ giúp tôi dần rời xa sự vội vàng của tuổi mười chín để biết suy nghĩ thấu đáo hơn trước mỗi việc.

Môi trường quân đội cũng khiến tôi hiểu sức chịu đựng của con người không phải điều có sẵn. Nó được tạo nên qua từng ngày. Trong những năm chiến tranh, phía trước luôn có những điều chưa thể biết; khi ấy không ai được quyền nhìn trước trang cuối để chắc chắn bao giờ đất nước sẽ thống nhất. Sống trong hoàn cảnh như vậy, điều quan trọng là không để sự dài rộng của thời gian làm mình mất đi sự tập trung vào hiện tại. Hôm nay còn ở trong hàng ngũ thì hôm nay phải giữ được sự nghiêm túc. Tháng này còn trách nhiệm thì tháng này vẫn phải sống bằng một thái độ như lúc ban đầu. Chính khả năng không để nhiệt huyết chỉ bùng lên trong chốc lát rồi tắt đi đã giúp người lính đi qua những chặng dài. Tôi dần hiểu rằng sức mạnh thật sự nhiều khi không nằm trong một phút quyết liệt, mà trong khả năng giữ được sự vững vàng qua rất nhiều ngày nối tiếp nhau.

Qua năm tháng, tôi cũng bớt nhìn mọi việc chỉ từ phía bản thân. Trong một tổ chức, không có phần việc nào tồn tại hoàn toàn biệt lập. Sự cẩn trọng của người này có thể giúp người kia yên tâm; một sự thiếu trách nhiệm cũng có thể khiến những người khác phải chịu thêm phần vất vả. Từ đó, tôi học được cách nghĩ rộng hơn trước khi hành động. Không phải chuyện gì cũng cần thể hiện mình, không phải lúc nào nhanh hơn người khác cũng là tốt hơn. Có lúc giá trị của một người nằm chính ở chỗ họ khiến những người xung quanh cảm thấy yên tâm vì cách sống và cách làm việc của họ. Quân ngũ đã rèn cho tôi điều ấy một cách chậm rãi, để rồi nhiều năm sau khi không còn ở trong hàng ngũ, sự cẩn trọng và thói quen cân nhắc vẫn tiếp tục theo mình.

Những người cùng mang một quãng thanh xuân

Mười bảy năm quân ngũ đủ dài để hai chữ đồng đội mang nhiều tầng nghĩa. Tôi đã gặp những người từ nhiều miền quê, mỗi người một tính tình, một hoàn cảnh và một đoạn đời riêng. Có người chỉ đi cùng nhau một quãng, có người hiện diện lâu hơn, nhưng một khi đã từng sống cạnh nhau trong những năm tháng quan trọng của tuổi trẻ, hình ảnh ấy rất khó mất. Lúc mới gặp, chúng tôi vẫn là những con người xa lạ. Sau một thời gian cùng sống trong nếp quân đội, sự xa lạ dần nhường chỗ cho cảm giác hiểu nhau. Ai cũng có một nơi để nhớ, những người thân để thương, những điều riêng chưa thể hoàn thành. Biết người bên cạnh cũng mang trong lòng những nỗi niềm như mình, con người tự nhiên dễ chia sẻ với nhau hơn.

Tình đồng đội không phải lúc nào cũng hiện ra trong một kỷ niệm có thể kể thành câu chuyện. Có khi điều sâu nhất lại nằm ở rất nhiều ngày bình thường nối lại với nhau. Ta dần biết ai là người ít nói nhưng sống chân thành, ai thường giữ sự bình tĩnh khi mọi người sốt ruột, ai biết nhường một chút để một khác biệt nhỏ không trở thành khoảng cách. Sống cùng nhau lâu mới hiểu được giá trị của sự bao dung. Không ai hoàn toàn không có khuyết điểm; một tập thể cũng không phải nơi mọi tính cách tự nhiên hòa hợp ngay từ đầu. Điều đáng quý là con người biết điều chỉnh mình để vẫn giữ được sự tôn trọng dành cho người khác. Chính điều ấy giúp những người xa quê có thể xem nhau như những người thân thuộc trong một quãng đời đặc biệt.

Càng nhiều tuổi, tôi càng thấy đồng đội không chỉ là những người từng cùng mình ở trong quân ngũ. Họ còn là những người giữ lại một phần con người mình của ngày trước. Khi nhớ tới họ, tôi có thể gặp lại chàng trai mười chín tuổi của năm 1969, rồi người lính đã đi qua những năm chiến tranh, qua ngày đất nước thống nhất và tiếp tục ở lại trong hàng ngũ giữa thời hậu chiến. Bản thân ta ngoài đời đổi khác từng năm, nhưng trong ký ức của người từng đi cùng, một phần hình ảnh cũ vẫn còn nguyên. Đó là điều rất đáng quý của tình đồng đội: những con người ấy đã cùng nhau chứng kiến sự trưởng thành của nhau, để khi tuổi trẻ không còn trở lại, ta vẫn biết mình từng có những năm tháng sống giữa một tình cảm chân thành và bền chặt đến thế.

Từ chiến tranh đến ngày đất nước tìm một hướng đi mới

Từ 1969 đến 1975, tôi đã ở trong quân đội suốt những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết, tạo nên một bước chuyển quan trọng, nhưng chiến tranh chưa kết thúc và đất nước vẫn chưa thống nhất. Phải đến năm 1975, non sông mới liền một dải. Với một người đã ở trong quân đội từ sáu năm trước, ngày đất nước thống nhất là một cột mốc không thể tách khỏi quãng đời mình. Nhưng tôi cũng sớm hiểu rằng lịch sử không dừng lại ở một ngày chiến thắng. Sau niềm vui đoàn tụ là cả một đất nước bị chiến tranh để lại nhiều tổn thất, cần thời gian rất dài để khôi phục đời sống, ổn định xã hội và bắt đầu xây dựng lại tương lai.

Tôi tiếp tục ở trong quân đội hơn một thập niên sau năm 1975. Những năm hậu chiến đem đến một kiểu thử thách khác. Đất nước thống nhất nhưng kinh tế còn nhiều khó khăn, đời sống của nhân dân thiếu thốn, trong khi cuối thập niên 1970 những vấn đề quốc phòng ở các tuyến biên giới tiếp tục đặt ra yêu cầu bảo vệ Tổ quốc. Trong hoàn cảnh ấy, người lính càng hiểu rằng hòa bình không phải một chiếc cửa mở ra rồi mọi gian nan lập tức nằm lại phía sau. Có được thống nhất là một thành quả rất lớn; giữ được sự ổn định và tạo nền tảng cho cuộc sống tốt hơn lại cần sức lực của nhiều năm tiếp theo. Tôi đã sống trong hàng ngũ giữa chính giai đoạn ấy, chứng kiến đất nước từng bước chuyển từ tâm thế chiến tranh sang công cuộc xây dựng lâu dài.

Năm 1986, tôi rời quân đội khi khoảng ba mươi sáu tuổi, cũng là năm đất nước bắt đầu công cuộc Đổi Mới. Từ chàng trai mười chín tuổi năm 1969 đến người đàn ông đã ngoài ba mươi, tôi đã dành mười bảy năm cho quân ngũ. Khoảng thời gian ấy đi từ lúc chiến tranh còn quyết liệt đến ngày thống nhất, rồi qua hơn mười năm hậu chiến trước khi một chặng phát triển mới mở ra. Nếu chỉ đặt hai con số 1969 và 1986 cạnh nhau, người ta có thể thấy đó là một quãng dài; nhưng với người đã sống qua từng ngày, ý nghĩa không chỉ nằm ở độ dài. Đó là thời gian con người thay đổi cùng đất nước, học cách thích nghi khi hoàn cảnh chuyển biến mà vẫn giữ những điều căn bản đã giúp mình đứng vững từ thuở đầu.

Ơn những năm tháng đã trở thành phần bên trong

Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy điều đáng quý nhất của đời quân ngũ không phải việc mình có thể kể bao nhiêu chuyện, mà là những năm tháng ấy đã trở thành một phần bên trong con người như thế nào. Tôi từng là người lính của 279 – Bộ Tư lệnh Công binh, đi vào quân đội khi còn rất trẻ và rời hàng ngũ khi đã trưởng thành qua nhiều bước chuyển của đất nước. Quãng đời ấy dạy tôi quý sự cẩn trọng, biết nhìn xa hơn cảm xúc trước mắt và hiểu rằng một công việc có ý nghĩa khi mình làm nó bằng sự tử tế, không để người khác phải gánh phần thiếu sót của mình. Những điều tưởng bình thường ấy lại có sức đi theo rất lâu, bởi chúng không chỉ thuộc về một thời quân ngũ mà dần trở thành cách một người đối diện với cuộc sống.

Các thế hệ sau được sống trong một đất nước rất khác với những năm chúng tôi còn trẻ, và đó chính là điều đáng mừng. Người đi trước không mong con cháu phải chịu lại những thử thách của mình mới biết quý lịch sử. Họ mong những người đến sau có thể học tập tốt hơn, sống đầy đủ hơn và tự do hơn trong việc lựa chọn tương lai. Nhưng càng đi xa khỏi chiến tranh, con người càng cần hiểu bình yên không phải một khái niệm vô nghĩa vì đã quá quen thuộc. Nó là điều kiện để những ước mơ riêng có thể lớn lên mà không bị một biến cố của đất nước cắt ngang. Biết điều ấy, người trẻ sẽ tự thấy lòng biết ơn không cần biểu hiện bằng những lời thật lớn; nó có thể nằm trong cách sống có ích, biết trân trọng quê hương và không thờ ơ trước phần trách nhiệm của mình đối với cộng đồng.

Có những thứ được thời gian làm cho mỏng đi, nhưng cũng có những điều càng lâu càng ngấm sâu vào con người. Quãng đời quân ngũ đối với tôi thuộc về vế sau. Nó không cần đứng ở phía trước để ai cũng nhìn thấy; chỉ cần còn hiện diện trong cách mình giữ sự ngay ngắn trước một việc khó, trong cách nhớ đến những người từng đi cạnh mình và trong niềm trân trọng dành cho một đất nước đã trải qua quá nhiều biến chuyển để có ngày hôm nay. Nếu con cháu sau này hiểu rằng mỗi thế hệ đều từng có phần trách nhiệm phải gánh lấy, rồi từ đó biết sống tử tế với thời đại của mình, thì những năm đã qua vẫn tiếp tục có ý nghĩa. Đó cũng là lời biết ơn sâu nhất dành cho những người đã dành một phần đời trong hàng ngũ, lặng lẽ góp sức để từ gian khó, đất nước có thể bước tới những ngày rộng mở hơn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
TRỊNH VĂN TÚC - NGƯỜI LÍNH TRẺ NĂM ẤY | Câu chuyện thời hoa lửa