Trịnh Xuân Bảng - Huyền thoại kình ngư Rừng Sác và lời thề thủy chung với lý tưởng
Rời miền quê cát trắng Quảng Bình, người chiến sĩ đặc công nước Trịnh Xuân Bảng đã biến chiến khu Rừng Sác thành nỗi khiếp đảm của những hạm đội Mỹ - Ngụy. Giữa muôn vàn thử thách khắc nghiệt của chất độc da cam và những trận ốm cận kề cửa tử thời bình, khí chất "thần kinh thép" của người anh hùng vẫn tỏa sáng vẹn nguyên cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời.
Tôi tìm về thôn Hòa Bình, xã Quảng Hưng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình để diện kiến Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trịnh Xuân Bảng. Ông chính là người chiến sĩ đặc công huyền thoại với những trận đánh xuất quỷ nhập thần từng trở thành nỗi khiếp đảm tột cùng của kẻ thù, để được lắng nghe ông kể lại ký ức về những năm tháng chiến đấu kiên cường ngay sát nách địch. Ở độ tuổi bát tuần, lại mang trong mình hàng loạt căn bệnh hiểm nghèo nhưng vóc dáng ông trông vẫn khá săn chắc. Những ký ức vàng son về một thời hoa lửa hào hùng ấy vẫn hiện lên vẹn nguyên, mạch lạc trong tâm trí vị lão thành cách mạng.
Sinh năm 1942, nhờ tinh thần nỗ lực phấn đấu vượt bậc, tháng 4 năm 1964, Trịnh Xuân Bảng vinh dự được kết nạp vào hàng ngũ của Đảng. Đến tháng 5 năm 1965, ông chính thức nhập ngũ và được tuyển chọn vào đơn vị đặc công nước thuộc Quân chủng Hải quân. Một năm ròng rã dầm mình huấn luyện khắc nghiệt trên những luồng lạch, bãi lầy trải dài từ Quảng Ninh đến Hải Phòng đã tôi luyện nên bản lĩnh kiên cường của một người chiến sĩ đặc công chính hiệu. Sau đó, ông được biên chế vào đơn vị C2 - Đoàn 126 và nhận lệnh hành quân vào Nam chiến đấu. Trải qua suốt 10 tháng trời luồn rừng, vượt núi đầy gian khổ, đơn vị ông đã đặt chân đến Nhơn Trạch (Đồng Nai), bổ sung vào đội hình Trung đoàn Đặc công số 10. Tại đây, họ bám trụ kiên cường giữa chiến khu Rừng Sác hiểm trở cách Sài Gòn chỉ chừng 30km, kiên nhẫn tìm kiếm cơ hội thọc sâu, áp sát tiến công vào các kho tàng, bến cảng, sà lan nhằm khống chế hoàn toàn sự lưu thông huyết mạch của địch từ Sài Gòn ra biển và ngược lại.
"Muốn bám trụ vững vàng để hoàn thành nhiệm vụ, người lính đặc công bắt buộc phải có ý chí sắt đá và một tinh thần thép. Bởi trọng trách vô cùng nặng nề, lằn ranh giữa sự sống và cái chết luôn cận kề, người chiến sĩ phải đối mặt trực diện với cái đói và cái khát bủa vây. Dưới lòng sông thì cá sấu hung dữ chực chờ, trên bầu trời thì máy bay địch quần thảo, trút bom đạn và chất độc hóa học xuống bất kể ngày đêm", ông Bảng bùi hồi nhớ lại.
Trải qua hơn 7 năm nếm mật nằm gai ở Rừng Sác, ông đã cống hiến nhiều mưu trí, dũng cảm cùng đồng đội thực hiện chiến thuật "lấy vũ khí địch để đánh địch". Đơn vị đã phá hủy, đốt cháy nhiều kho tàng, bến bãi, đánh chìm và thiêu rụi hàng trăm tàu chiến lớn nhỏ của kẻ thù, trong đó có nhiều tàu trọng tải từ 5.000 tấn trở lên, đặc biệt là hạm đội chở dầu khổng lồ hơn 15.000 tấn. Dù quanh những con tàu này luôn có hàng trung đội lính cảnh giới nghiêm ngặt, hàng chục tàu tuần tra nhỏ áp tải cùng lực lượng người nhái bảo vệ ngày đêm, nhưng tất cả hệ thống phòng thủ kiên cố đó đều trở nên vô hiệu trước mưu trí thao lược và lòng quả cảm vô song của ông cùng đồng đội. Vừa góp mặt trong hầu hết các trận đánh lớn của đơn vị, ông vừa trực tiếp tham gia đánh chìm 4 tàu lớn của địch có trọng tải từ 12.000 đến 15.000 tấn, chính thức trở thành người đầu tiên của trung đoàn được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1969. Ông chia sẻ thêm:
“Muốn đánh sập những con tàu khổng lồ thì buộc phải cần đến những quả mìn lớn. Bom Mỹ dội xuống chiến khu có nhiều quả bị câm, anh em ta liền bí mật đào lên, tháo hạt nổ ra rồi đặt kíp hẹn giờ vào là có thể sử dụng tốt! Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là làm sao để vận chuyển khối thuốc nổ nặng hàng trăm cân ấy tới vị trí mục tiêu? Do không thể kéo trượt quả bom dưới đáy sông bùn lầy, anh em đã sáng tạo tìm các vật liệu nổi để nâng quả bom lơ lửng lưng chừng nước, rồi vừa bơi vừa dìu khối thuốc nổ tiến về phía trước.”
Cay cú trước những thất bại liên tiếp, kẻ địch điên cuồng mở các cuộc càn quét, bố ráp dữ dội hòng “lột da” toàn bộ chiến khu Rừng Sác. Đặc biệt là sau chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, địch tập trung phong tỏa gắt gao, chốt chặn mọi đường tiếp tế quân lương hòng đẩy lực lượng của ta ra khỏi vành đai bảo vệ Sài Gòn. Trước tình hình ấy, Đại đội của ông được giao một nhiệm vụ tối mật: phải tạo bằng được một vụ nổ chiến lược ngay tại căn cứ địch ở Nhà Bè, gây tổn thất nặng nề cho đối phương nhằm đáp ứng niềm mong mỏi của nhân dân. Ông Bảng đã chủ động xung phong dẫn đầu tổ công binh đi đào một quả bom câm của Mỹ nặng chừng 500kg, hì hục chế tác thành mìn hẹn giờ và xin cấp trên được tự chọn thêm hai đồng chí sát cánh. Vào một đêm tối trời, Tổ trưởng Trịnh Xuân Bảng cùng hai chiến sĩ là Trần Dần (quê Hà Tĩnh) và Nguyễn Chất Xê (quê Thái Bình) lặng lẽ lên đường dưới những quầng đèn pha quét dọc ngang vô cùng gắt gao của tàu tuần tiễu địch. Sau hơn 7 tiếng đồng hồ dầm mình dưới nước, ba người đã dìu khối thuốc nổ khổng lồ áp sát mục tiêu, cài đặt xong xuôi toàn bộ hệ thống kích nổ vào lúc 2 giờ sáng. Khi toàn tổ rút ra cách trận địa được khoảng một giờ đồng hồ và đang dập dềnh trên sông, một tiếng nổ xé toạc màn đêm vang trời vang đất xuất hiện, con tàu chở 1,5 vạn tấn dầu của địch bốc cháy dữ dội rồi chìm dần xuống lòng sông sâu. Sức công phá khủng khiếp của khối thuốc nổ đã hất dạt các ông mỗi người bắn ra một nơi, phải mất đến 5 ngày lạc nhau giữa rừng sâu, họ mới tìm thấy nhau để trở về căn cứ an toàn... Trước khi hành quân ra Bắc nhận trọng trách mới, ông còn trực tiếp giúp đỡ những người bạn Campuchia đánh chìm một tàu chở 5.000 tấn vũ khí tiếp tế cho quân Pôn-pốt đang neo đậu tại vịnh Sihanoukville.
Hiến dâng gần 23 năm tuổi trẻ trong quân ngũ, vừa bị nhiễm chất độc hóa học sâu sắc, vừa là thương binh với 32% tỷ lệ mất sức khỏe, năm 1987, ông chính thức nghỉ hưu với quân hàm Trung tá. Rời trận địa về quê hương chưa kịp ổn định cuộc sống mới, ông lại tiếp tục được nhân dân tin tưởng bầu giữ chức Bí thư chi bộ. Trên mặt trận mới không tiếng súng, người anh hùng Rừng Sác năm nào lại trăn trở, đêm ngày tìm cách giúp bà con thoát khỏi cảnh nghèo đói. Sau bao đêm thức trắng suy nghĩ, ông đã đưa ra quyết định táo bạo là tổ chức bắt thăm để phân chia lại ruộng đất một cách công bằng. Nhờ cách làm minh bạch này, ruộng của gia đình nào cũng có cả phần đất tốt lẫn đất xấu, giúp nhà nhà đều phấn khởi, tích cực tăng gia sản xuất, đẩy mạnh chăn nuôi và cải thiện rõ rệt đời sống. Dù đã bước sang tuổi bát tuần, vợ chồng ông vẫn tất bật, cần mẫn quán xuyến 7ha rừng bạch đàn trên núi cùng mấy luống rau xanh quanh nhà. Dù có một người con trai và một đứa cháu nội chịu ảnh hưởng nặng nề do phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin, bản thân lại trải qua nhiều trận ốm thập tử nhất sinh, ông vẫn kiên trì duy trì sinh hoạt Đảng, tham gia các đoàn thể xã hội và coi đó là món ăn tinh thần không thể thiếu. Vừa tích cực tham mưu cho chính quyền địa phương nhiều sáng kiến phát triển kinh tế hay, ông vừa gương mẫu vận động gia đình, con cháu và thôn xóm tuyệt đối tin tưởng vào đường lối của Đảng, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân cùng chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Trong căn nhà cấp bốn đơn sơ của ông, có nhiều khung hình được treo đặt một cách nghiêm cẩn, nhưng đối với ông, tài sản tinh thần tự hào nhất là bức ảnh nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết về thăm gia đình vào tháng 1 năm 2008, nhân chuyến công tác và chúc Tết sớm cán bộ, chiến sĩ cùng nhân dân miền Trung. Tại không gian ấm cúng này, vị nguyên thủ quốc gia đã thốt lên câu nói đầy xúc động: “Tôi nghĩ, tất cả đặc công Rừng Sác đều xứng đáng là anh hùng.” Nói rồi, Chủ tịch nước thân mật khoác vai ông Trịnh Xuân Bảng, cùng chụp với mọi người bức hình lưu niệm quý giá. Với ông Bảng, đó là ngày hạnh phúc nhất đời. Suốt hơn 10 năm sau đó, ở cái tuổi gần đất xa trời, ông luôn ghi nhớ như in lời dặn dò lúc chia tay của Chủ tịch nước: “Đã là đặc công Rừng Sác thì không có thử thách nào là không thể vượt qua.” Ông luôn tự nhủ phải ra sức phối hợp cùng các cựu chiến binh, giúp thế hệ con cháu hiểu rõ hơn về truyền thống cha ông để ra sức rèn luyện, cống hiến cho tổ quốc. Khi nói về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, ông mộc mạc chia sẻ:
“Học Bác chủ yếu là để làm người công dân tốt, người đảng viên tốt và người hội viên tốt.”
Những lời tâm sự của người chiến sĩ đặc công anh hùng sao mà thấm thía và sâu sắc đến thế. Nhưng giá trị hơn cả chính là những bài học sống động về nhân cách cao đẹp ở con người ông. Ông chọn lối sống bình dị đến mức tối giản, hơn cả những người bình thường. Mỗi lần có công việc cần đến công sở, ông vẫn lặng lẽ ngồi xếp hàng chờ đợi cho tới khi được gọi tên như bao người dân khác, tuyệt nhiên không hề tỏ ra nôn nóng hay cậy quyền thế. Được Đảng, Nhà nước và Quân đội tặng thưởng hàng loạt Huân, Huy chương cùng các danh hiệu cao quý khác, song ông chỉ cẩn thận nâng niu, cất giữ trong hộp kỷ niệm chứ chưa từng một lần đeo lên ngực áo. Chính vì vậy, những tấm ảnh chân dung của ông từ trước đến nay chưa có một tấm Huân, Huy chương nào được gắn lên ngực. Cảm phục sâu sắc trước nhân cách của người anh hùng, tôi đã xin phép được giúp ông đeo những phần thưởng vinh quang đó lên bộ quân phục trang trọng, rồi tự tay chụp một bức ảnh kỷ niệm tặng ông. Hơn một năm sau, khi đại dịch Covid-19 tràn qua, chính tấm ảnh rực rỡ Huân chương ngày ấy đã được gia đình trân trọng dùng làm di ảnh, ngày ông nhẹ bước ra đi về cõi vĩnh hằng.



