TRỞ LẠI ĐƯỜNG SỐ 19
Đoạn văn kể về các hoạt động quân sự của Sư đoàn bộ binh 3 trên chiến trường Bình Định và Gia Lai đầu năm 1975, trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Việt Nam. Quân ta mở chiến dịch đánh cắt Quốc lộ 19, đặc biệt tại khu vực Đèo An Khê, nhằm cô lập chiến trường Tây Nguyên. Các đơn vị lần lượt đánh chiếm nhiều cứ điểm quan trọng như Hòn Kiềng, Chóp Vung và cao điểm 105, làm tan rã hệ thống phòng thủ của địch. Đỉnh điểm là ngày 17-3-1975, quân ta tiến công và làm chủ An Khê, tiêu diệt và bắt nhiều
Sau những thất bại nặng nề trên khắp các chiến trường, thế và lực của địch ngày càng suy yếu, không còn những ngày đưa quân đi nống lấn và làm mưa, làm gió như trước đây. Chúng phải co vào trong các căn cứ lớn.
Trong những năm vừa chiến đấu, vừa xây dựng và củng cố lực lượng, đến nay ta có thể phối hợp mở nhiều chiến dịch, tiến công địch đồng thời trên phạm vi toàn miền Nam, từ đồng bằng sông Cửu Long đến miền Đông Nam bộ; từ Tây Nguyên đến đồng bằng ven biển miền Trung.
Tại vùng đồng bằng miền Trung, sau khi ta đã giải phóng hàng loạt mục tiêu, trung đoàn bộ binh 12 được lệnh quay lại chiến trường cũ là đường số 19 để chuẩn bị phối hợp với mặt trận B3, Tây Nguyên.
Các năm trước, khi lực lượng ta chưa được phát triển cao, cứ sau mỗi chiến dịch hoặc các đợt chiến đấu tập trung, các đơn vị chỉ để lại một bộ phận duy trì hoạt động thường xuyên. Còn đại bộ phận rút về căn cứ để chỉnh huấn chính trị, huấn luyện quân sự bổ sung quân số và trang bị rồi lại hoạt động tiếp. Điều này đã thành quy luật, không thể làm khác được. Vì thế mà sau các chiến dịch, kẻ địch lợi dụng lúc ta hết lương thực, đạn dược, lực lượng bị tiêu hao, điên cuồng phản kích. Một số mục tiêu ta vừa mới giải phóng, bị địch “líp” lại, đã gây không ít khó khăn cho phong trào cách mạng của quần chúng ở một số địa phương.
Nhưng từ năm 1973 đến đầu năm 1975, bộ đội giải phóng đến đâu, kết hợp với phong trào đấu tranh của quần chúng, trụ lại ở vùng đồng bằng chiến đấu cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Tháng 10 năm 1974, Quân khu 5 triệu tập cán bộ từ trung đoàn trở lên về dự hội nghị tổng kết, đánh giá tình hình từ sau ngày ký kết Hiệp định Paris. Đoàn cán bộ của sư đoàn 3, do đồng chí Trần Bá Khuê, sư đoàn trưởng dẫn đầu. Đoàn bao gồm thủ trưởng 4 cơ quan sư đoàn, các đồng chí chỉ huy về quân sự, chính trị của các đơn vị trực thuộc.
Cùng đi với đoàn cán bộ của sư đoàn bộ binh 3 về Quân khu dự hội nghị quân chính, có cả một số nhà văn, nhà thơ quân đội, như anh Nguyễn Chí Trung, chị Bùi Thị Chiến, anh Nguyễn Trí Huân... Tất cả trên ba mươi người. Khi đi ra Quân khu, hoàn toàn đi bộ; nhưng khi quay về được đi bằng ô tô, theo một nhánh đường Trường Sơn. Anh em chúng tôi thường gọi là “đường dây Trung ương”.
Ngày ấy, các chiến trường trên toàn miền đang đi vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Nhu cầu cung cấp về lực lượng, binh khí kỹ thuật, lương thực, đạn dược rất lớn. Đoàn 559 bộ đội Trường Sơn đã nỗ lực phi thường mở rất nhiều nhánh đường, từ trục đường chính Đông Trường Sơn, Tây Trường Sơn đến các địa bàn trên chiến trường Nam bộ, miền Đông Nam bộ và Liên khu 5. Ở Quân khu 5, chúng tôi đã có thể nhận gạo, đạn... của miền Bắc tại các vùng giáp ranh đồng bằng với miền núi.
Anh Nguyễn Tiến Trình (mật danh của đồng chí Đoàn Khuê) Phó Tư lệnh Quân khu cũng đi với đoàn cán bộ sư đoàn 3 để chỉ đạo triển khai nhiệm vụ sắp đến.
Trước đó, Đảng bộ Quân khu đã họp Đại hội lần thứ ba (từ ngày 15 đến 27-12-1973) quán triệt nghị quyết XXI của Trung ương Đảng, đề ra phương hướng nhiệm vụ của Quân khu trong tình hình mới.
Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 chủ trương mở một đợt hoạt động mạnh, nhằm tiêu diệt một số cứ điểm chi khu, quận lỵ, phá vỡ từng hệ thống phòng ngự cơ bản của địch... Hỗ trợ lực lượng vũ trang địa phương và phong trào nổi dậy của quần chúng phá thế kìm kẹp của địch.
Chủ trương của quân khu, phù hợp với quy luật chiến tranh trong tình hình mới. Từ chỗ đánh nhỏ, phân tán, kết hợp ba thứ quân để phát triển lực lượng ngày càng lớn mạnh, đến hình thành những chiến dịch, những đợt hoạt động, với hàng loạt những trận đánh vang dội. Vừa tiến công địch bằng quân sự, vừa xây dựng và phát triển thành phong trào nổi dậy của quần chúng, đấu tranh chính trị trực diện với địch, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh của chúng. Địch bị tiêu diệt ngoài công sự lúc đi càn quét, nống lấn, giải tỏa, phản kích ngày càng nhiều. Đến lúc chúng phải co cụm trong các căn cứ để phòng ngự, chống đỡ, nhằrn bảo toàn lực lượng. Đến lúc này, trên chiến trường tất yếu sẽ dẫn đến những trận đánh tập trung của quân ta, tiêu diệt sinh lực, phá vỡ thế phòng ngự của địch, đưa cuộc chiến tranh sang bước ngoặt mới, mang tính quyết định thắng lợi chiến tranh, như chiến dịch Điện Biên Phủ, tiêu diệt tập đoàn cứ điểm trong chiến tranh chống Pháp trước đây.
Tôi cũng được triệu tập về Quân khu dự hội nghị và được phân công báo cáo chiến lệ về trận tiến công đánh chiếm đèo Nhông trước hội nghị. Chúng tôi hiểu được phần nào về tầm quan trọng của cuộc họp cán bộ ở quân khu lần này.
Những ngày dự hội nghị Quân chính ở Quân khu 5 thực sự rất bổ ích đối với tôi. Qua báo cáo sơ kết của cơ quan Quân khu và các Tư lệnh chiến trường, tôi thấy được một cách khái quát cục diện chiến trường toàn miền nói chung, trên chiến trường Liên khu 5 nói riêng, đã nâng cao được tầm nhìn về chiến cuộc, chiến dịch và triển vọng vô cùng sáng sủa đang tiến gần của cách mạng giải phóng miền Nam.
Sau cuộc họp, chúng tôi thấy phấn chấn, nôn nao. Ai cũng muốn về nhanh đơn vị để triển khai các kế hoạch.
Trên đường đi, anh em trong đoàn thường hay trêu chọc tôi với chị Bùi Thị Chiến - nhà văn. Thế rồi, sau khi bế nạc hội nghị ở Quân khu, trước khi về đơn vị, tôi nhận được mấy dòng ngắn ngủi của Bùi Thị Chiến - Chiến viết rằng: “... Em vẫn còn giữ mãi cái nhìn và nụ cười gần gũi của anh!...”. Cảm ơn Bùi Thị Chiến, chúng mình tạm chia tay, về lại chiến trường, nơi đang rất cần đến chúng ta...
Trên đường về đơn vị, anh Biền cho tôi biết: Quân khu đã quyết định bổ nhiệm tôi làm cán bộ trung đoàn.
Cuối năm 1974, tôi nhận quyết định Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn bộ binh 12. Khi tôi về đây, anh Lê Văn Thái, trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Trọng Di, chính ủy. Trước đó, anh Nguyễn Duy Thương, trung đoàn trưởng, anh Lê Huấn, chính ủy. Hai anh được điều về sư đoàn nhận nhiệm vụ mới.
Cả sư đoàn bộ binh 3 được lệnh chuyển hướng hoạt động phía Nam tỉnh Bình Định - chiến trường đường số 19, với nhiệm vụ:
* Tiêu diệt lần lượt toàn bộ các cứ điểm chốt bảo vệ đường 19, từ chi khu quận lỵ An Khê tỉnh Gia Lai đến chi khu quận lỵ Phú Phong tỉnh Bình Định. Cắt đứt hoàn toàn đường 19, chủ yếu đèo An Khê, từ cầu Vườn Xoài đến Suối Vối
* Kéo sư đoàn 22 Sài Gòn ra phản kích, giải tỏa để tiêu diệt, không cho chúng tăng viện lên Tây Nguyên theo đường 19 và tiêu diệt địch từ Tây Nguyên theo đường 19 xuống Quy Nhơn, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy, giải phóng vùng đồng bằng. Quân khu tăng cường cho sư đoàn bộ binh 3 lữ đoàn công binh 40 mở đường cho cơ giới cơ động từ Nam Quảng Ngãi vào đến huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.
* Sư đoàn còn được bổ sung trung đoàn pháo xe kéo gồm một tiểu đoàn lựu pháo 122mm, một tiểu đoàn pháo nòng dài 85mm, một tiểu đoàn pháo phòng không 37mm. Sư đoàn mở một con đường cho xe, pháo cơ động từ huyện Hoài Ân đến huyện Vĩnh Thạnh.
Tháng 12 năm 1974 sư đoàn đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị. Đầu tháng hai, năm 1975, tại huyện Vĩnh Thạnh, Bộ tư lệnh sư đoàn báo cáo quyết tâm với đồng chí Chu Huy Mân, tư lệnh Quân khu 5. Sư đoàn xác định nhiệm vụ cho các đơn vị như sau:
* Trung đoàn bộ binh 12 được tăng cường một đại đội pháo 85 mm, 3 khẩu; một đại đội cối 120mm, 2 khẩu và được pháo binh sư đoàn chi viện, có nhiệm vụ lần lượt tiêu diệt các cứ điểm chốt của địch hai bên trục đường 19 từ cao điểm 105 đến núi Cây Rui, bao gồm cao điểm 105, Chóp Vung, đồi RaĐa (tức Hòn Kiềng), Mâm Xôi, Cây Rui và các chốt sườn phía Nam dãy núi Ông Bình, bắc đường 19. Cắt đứt hoàn toàn đoạn đường đèo An Khê. Khi có thời cơ tiến công giải phóng chi khu quận lỵ An Khê. (Ba khẩu pháo 85mm, sau đó được kéo lên đặt ở sườn Nam dãy núi Ông Bình, ngắm bắn trực tiếp xuống các cứ điểm của địch ở đồi Mâm Xôi, Hòn Kiềng, Chóp Vung, Cây Rui...)
* Trung đoàn bộ binh 141 được pháo binh, pháo phòng không sư đoàn trực tiếp chi viện, đêm N tấn công tiêu diệt cụm cứ điểm của tiểu đoàn Bảo An địch ở Truông Ổi, ấp Vườn Xoài (chân đèo An Khê tại tỉnh Bình Định). Sau đó cùng với trung đoàn bộ binh số 2 đánh địch phản kích ở khu vực này.
* Trung đoàn bộ binh số 2 là lực lượng cơ động của sư đoàn, nhiệm vụ chủ yếu là đánh địch phản kích, tăng viện ở khu vực Truông Ổi, ấp Vườn Xoài. Khi có thời cơ phát triển tiến công xuống hướng Quy Nhơn.
Đây là đợt hoạt động tập trung, nằm trong chiến dịch tấn công của quân khu 5 nói riêng, trên toàn chiến trường nói chung của sư đoàn bộ binh 3, có sử dụng đến pháo xe kéo đầu tiên từ sau ngày thành lập sư đoàn. Pháo 85 mm nòng dài, khi đưa lên điểm cao, vào gần mục tiêu trong tầm bắn 1 km, ngắm bắn trực tiếp, xác suất trúng mục tiêu rất cao, địch trong công sự không chịu nổi.
Trước khi chiến dịch mở màn, tháng 2 năm 1975, tại Sở chỉ huy sư đoàn ở huyện Vĩnh Thạnh, sư đoàn tổ chức giao nhiệm vụ và phổ biến kế hoạch hiệp đồng cho các đơn vị. Tại hội nghị cán bộ lần này thể hiện quyết tâm rất cao, bàn bạc rất kỹ, niềm vui lộ rõ trên khuôn mặt của từng người. Tình hình như vậy là đã rõ. Chiến tranh đã tạo cho con người khôn lên, nhạy bén hơn và kinh nghiệm hơn trong thực tế chiến đấu. Những người trong cuộc thường có những nhận định về thời thế trên từng phạm vi của mình rất sát với tình hình thực tế đã diễn ra và sẽ diễn ra. Ở đây, vào thời điểm này, chúng tôi đã cảm nhận được một sự thay đổi lớn lao về diễn biến tình hình trên chiến trường, về tương quan lực lượng giữa ta và địch... Trước đây, trên quốc lộ 19 này chỉ có trung đoàn bộ binh 95 đảm nhiệm đánh giao thông trên đoạn đèo Mang Giang, trung đoàn bộ binh 12 đảm nhiệm đoạn đèo An Khê. Dù mặt trận B3 mở chiến dịch ở Tây Nguyên, cũng vẫn là hai đơn vị trên làm nhiệm vụ phối hợp cắt đường 19. Nay Quân khu 5 và Bộ tổng tham mưu quyết định điều cả sư đoàn bộ binh 3, mở chiến dịch cắt đường 19. Điều đó cho thấy mục đích và tầm quan trọng của nhiệm vụ cắt giao thông lần này mang tầm vóc lớn lao. Cắt đứt đường 19 lần này là thực hiện chia cắt chiến lược có liên quan đến chiến trường miền Nam, là cắt đứt mọi sự liên hệ giữa vùng cao nguyên với vùng đồng bằng của địch.
Tiểu đoàn 6 lại vượt đường 19 sang địa bàn quen thuộc năm xưa. Nhưng lần này với một khí thế hoàn toàn khác trước. Trung đoàn 12 (thiếu tiểu đoàn 6) và một số đơn vị của sư đoàn (chủ yếu là pháo binh) chiếm lĩnh toàn bộ dãy núi Ông Bình, đưa pháo vào gần, lên cao để chế áp toàn bộ các cứ điểm của địch hai bên đường đèo trong phạm vi 9 km đường 19; đồng thời, kìm chế các trận địa pháo của địch ở Truông Ổi, Đồn Phó, cao điển 105... Việc đưa pháo vào gần, lên cao đã được Quân khu 5 đưa ra sau khi đúc kết kinh nghiệm của sư đoàn bộ binh 2 ở Quảng Nam - Đà Nẵng, của lữ đoàn 52 và trung đoàn 22 ở Ba Tơ, Gia Vụt, Minh Long, hoặc ở quận lỵ Hoài Ân của sư đoàn bộ binh 3, v.v...
Tiểu đoàn 6 sang phía nam đường 19 lần này, kéo luôn đường dây điện thoại từ sở chỉ huy trung đoàn ở bắc đường, luồn qua các cầu cống trên đường 19 sang phía nam. Đây là việc mà từ trước đến giờ chưa làm được. Tất cả mọi tình huống đều được xử trí mau chóng từ đơn vị cơ sở phân đội lên đến trung đoàn, sư đoàn và ngược lại. Đây là một thành công trong công tác bảo đảm của ngành thông tin liên lạc.
Đầu năm 1975, sư đoàn bộ binh 3 đã triển khai xong trên mặt trận phía nam tỉnh Bình Định, trọng điểm là đường quốc lộ số 19. Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chiến lược chủ yếu trong chiến dịch tổng lực mùa xuân 1975. Tất nhiên, lúc đó đâu có ai biết được. Mọi người chỉ phán đoán theo quy luật là mặt trận B3 mở chiến dịch, chúng tôi có nhiệm vụ cắt đường 19 để phối hợp.
Trước khi trận “điểm huyệt” then chốt vào Buôn Ma Thuột nổ súng vào ngày 10-3-1975, trên chiến trường toàn miền nói chung, trên chiến trường Quân khu 5 nói riêng, ta đã tiến công đồng loạt các mục tiêu căn cứ hành quân, chi khu quân sự của địch ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và các tỉnh cũ ở nam Đắc Lắc, đưa lực lượng áp sát các sân bay, thị xã và các thành phố lớn như Đà Nẵng, Chu Lai, Tam Kỳ, vào đến thị xã Quy Nhơn, kìm chân các sư đoàn, lữ đoàn chủ lực địch, không cho chúng chi viện lên chiến trường Tây Nguyên, sẵn sàng đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu của địch khi có thời cơ đến.
Một sự phối hợp tiến công trên toàn chiến trường miền Nam, buộc địch phải căng lực lượng ra đối phó. Tạo nên sự bất ngờ về chiến dịch mang tính chiến lược đối với Tây Nguyên nói chung và trận đánh Buôn Ma Thuột nói riêng. Phối hợp với Trung đoàn bộ binh 95, thuộc Quân khu 5, trung đoàn 12, nằm trong đội hình Sư đoàn 3, chốt chặt đường 19, đoạn đường đèo An Khê. Dưới sự chi viện của hỏa lực pháo binh Sư đoàn từ phía Bắc đường 19, trung đoàn 12 cùng các đơn vị đã đánh chiếm một loạt các cứ điểm từ Cây Rui xuống Mâm Xôi, Hòn Kiềng, Chóp Vung, cao điểm 105 phía Đông đèo An Khê và các chốt sườn phía Nam dãy núi Ông Bình. Trung đoàn bộ binh 141 đánh chiếm Truông Ổi, ấp Vườn Xoài, góp phần không nhỏ vào thắng lợi trên chiến trường Tây Nguyên.
Tại cứ điểm Hòn Kiềng, còn gọi là đồi RaĐa, địch có một đại đội. Phía bắc có con suối Dầu chảy qua. Phía bắc suối Dầu là đường 19 chạy ngoằn ngoèo theo sườn dãy núi Ông Bình để lên đỉnh đèo An Khê. Phía nam cứ điểm Hòn Kiềng là rừng liên hoàn. Có thể nói, ít có trận đánh nào có được yếu tố về địa hình thuận lợi như ở đây. Phía bắc đường 19, trận địa ĐKZ75 của trung đoàn 12 bố trí trên sườn núi Ông Bình, ngắm bắn trực tiếp vào cứ điểm ở Hòn Kiềng theo tà âm. Tiểu đoàn 6 sử dụng một đại đội, từ hướng nam, mở qua ba lớp rào kẽm gai, tiến công lên Hòn Kiềng. Sau khi mở xong cửa mở, bộ đội xung phong lên đánh chiếm. Hầu hết địch ở đây bị tiêu diệt. Số sống sót chạy xuống suối Dầu thoát thân. Trận này ta chỉ bị thương một đồng chí, do đạn cối 81mm của địch, đồng chí Đặng Thành Kính, tiểu đoàn phó, tiểu đoàn 6. Hòn Kiềng bị ta đánh chiếm. Bọn địch ở cứ điểm Chóp Vung gần đó bỏ chạy xuống cao điểm 105.
Ngày 4 - 3, tiểu đoàn 4 trung đoàn bộ binh 12, từ sườn phía nam dãy núi Ông Bình đã tiến công đánh chiếm một lúc ba điểm chốt của địch ở phía bắc đường đèo An Khê và chốt lại ở đỉnh đèo. Chốt Cây Rui ở gần đó phải tháo chạy. Trong thời điểm ta tiến công, địch đã tăng cường lên đường 19, (chủ yếu tập trung tại đèo An Khê xuống đến huyện Bình Khê) trung đoàn 47 thuộc sư đoàn 22 cộng hòa cùng với liên đoàn bảo an số 927, thiết lập hệ thống chốt dày đặc để bảo vệ trục đường 19. Chỉ tính riêng 10 - 15 km đèo An Khê, từ núi Cây Rui xuống cống Hang Dơi và cao điểm 105 có từ 12 - 15 điểm chốt. Hầu hết các chốt của địch đều chiếm lĩnh trên điểm cao. Tuy nhiên, do đặc điểm về địa hình ở đây, có khi ta chỉ cần đánh chiếm một số mục tiêu then chốt thì toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch sẽ bị rung động. Thực tế đó là khi tiểu đoàn 4 đánh chiếm 3 điểm chốt sườn phía nam núi Ông Bình, bắc đường 19 thì chốt Cây Rui phía nam đỉnh đèo tháo chạy, và khi tiểu đoàn 6 đánh chiếm Hòn Kiềng thì Chóp Vung gần đó tháo chạy xuống cao điểm 105. Tại cao điểm 105 có sở chỉ huy nhẹ của trung đoàn 47 và tiểu đoàn bảo an số 209 chiếm giữ. Mỗi khi trên đường đèo bị ta tiến công, địch thường kéo pháo lên khu vực cao điểm 105 để chi viện cho lực lượng của chúng. Ngày 8 - 3, tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 47 của địch đóng ở ấp Vườn Xoài bị tiểu đoàn 3, trung đoàn bộ binh 2 của ta đánh chiếm lần 2, chúng cũng dựa vào cao điểm 105 làm bàn đạp để phản kích, chiếm lại.
Sau khi đánh chiếm Hòn Kiềng, tiểu đoàn 6, trung đoàn bộ binh 12 cơ động xuống, áp sát cao điểm 105 (mỏm phía tây); tiểu đoàn 2 trung đoàn bộ binh 2 phối hợp tiến công mỏm phía đông. Ngày 10 - 3 hai tiểu đoàn ta đã đánh chiếm và làm chủ dãy cao điểm 105. Mất cao điểm 105, mọi cuộc phản kích hòng chiếm lại ấp Vườn Xoài của địch đều bị thất bại. Tình hình diễn ra từ Đồn Phó xuống xã Bình Tường cũng tương tự. Quân ta đã lần lượt đánh chiếm hầu hết hệ thống chốt bảo vệ giao thông đường 19 của địch. Ta đã đạt được 2 mục tiêu là cắt đứt giao thông tiếp tế của địch lên Tây Nguyên và loại khỏi vòng chiến đấu trung đoàn 47 sư đoàn 22 Cộng hòa và liên đoàn Bảo an số 927. Tình hình trên khu vực tác chiến cho thấy, tuy địch tập trung một lực lượng khá lớn (từ 8 - 10 tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn xe tăng, thiết giáp), thiết lập một hệ thống chốt kết hợp với cơ động để bảo vệ đường 19; song lực lượng của chúng bị dàn mỏng trên một tuyến (dọc trục đường 19) dễ bị chia cắt, khi bị ta đánh chiếm những mục tiêu then chốt, có ý nghĩa về chiến dịch, chiến thuật, cộng với tinh thần đang hoang mang, dao động thì toàn bộ hệ thống phòng thủ của chúng sẽ mau tan rã.
Rạng sáng ngày 17-3-1975, trung đoàn bộ binh 12 tiến vào An Khê diệt và bắt gần hai ngàn tên địch, thu 1500 súng, có 6 khẩu pháo 155 và 105 mm, 2 cối 106,7 mm, 6 xe tăng, xe bọc thép và nhiều quân trang, quân dụng, góp phần giải phóng hoàn toàn tỉnh Gia Lai1.
Đây là trận đánh tập trung của trung đoàn bộ binh 12, được hỏa lực pháo binh và pháo phòng không của sư đoàn chi viện. Trung đoàn đã hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ ở khu vực đường 19. Cao nguyên bị thất thủ, đường số 19 bị cắt đứt, đường 21 cũng bị ta chặn đánh tại đèo Khánh Dương, đèo Phượng Hoàng, buộc địch phải chọn đường số 7 (là con đường về Củng Sơn đã bỏ từ lâu) hòng tháo chạy xuống tỉnh Phú Yên, nhưng đã bị các lực lượng của ta vận động đánh tơi bời không thoát được. Một bộ phận địch từ tỉnh Kontum, Gia Lai, băng rừng hòng tháo chạy xuống Quy Nhơn bị ta đánh tan tác ở hai đoạn đường đèo Mang Giang và An Khê.



