Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TRỞ LẠI NHÀ TRƯỜNG

Tháng 8/1972, các đơn vị của Trung đoàn 202 rút ra phía bắc sông Bến Hải. Tác giả tiếp tục xử lý nhiều việc hậu cần như giải quyết 80 tấn gạo bằng cách làm việc với Cụm 4 để chuyển sang lấy gạo ở kho gần hơn. Tháng 9/1972, tác giả nhận lệnh trở về Học viện Kỹ thuật Quân sự, dù trung đoàn muốn giữ lại vì đã quen công việc. Trước khi rời đi, anh hoàn tất việc đưa 18 tấn dầu dự trữ về kho trung đoàn. Trên đường hành quân ra Bắc, đoàn nhiều lần gặp máy bay Mỹ ném bom, đặc biệt ở Phú Lộc và Đức Trư

Lai Châu13/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tháng 8 năm 1972, các đơn vị của Trung đoàn 202 được lệnh rút khỏi bờ Nam sông Bến Hải và ra phía bắc. Tôi gặp lại các đồng chí của Học viện Kỹ thuật quân sự đã đi vào phía nam. Không thể biết họ đã trải qua những gì, nhưng tôi nghĩ rằng họ cũng phải trải qua những thử thách gian lao còn hơn cả tôi. Người tôi gặp và rất có cảm tình là anh Phạm Văn Trợ. Anh Phạm Văn Trợ bấy giờ là Trung úy, kỹ sư động cơ ô tô. Tôi rủ anh Trợ đi với tôi ra Vĩnh Thái, để kiểm tra tình hình thu hồi xăng dầu và đạn dược mà người phụ trách là đồng chí Hoạt, Tiểu đội trưởng bảo quản kho. Tôi đưa đồng chí Trợ ra Vĩnh Thái và vào nhà o Khuê chơi, đi tắm biển và hàng ngày ăn cơm với canh cá do o Khuê nấu.

Từ nơi bom đạn ác liệt, tự nhiên lại đến được một bãi biển, được sông trong một khung cảnh như giữa thời bình, đồng chí Trợ nói với tôi: Tôi không thể hình dung được rằng, trong cuộc chiến tranh ác liệt thế này mà ông vẫn tìm ra một vùng bình yên như thế.

Sau khi đi kiểm tra việc thu hồi xăng dầu và đạn dược ở kho Vĩnh Thái, tôi lại trên đường trở về trung đoàn. Tôi vào đến đại đội vận tải ở Rú Lĩnh và gặp đồng chí Tỉnh, Đại đội trưởng Đại đội vận tải. Đồng chí Tỉnh nói với tôi: Trong tuần qua chúng tôi phải nhận lệnh lên miền Tây Vĩnh Linh để nhận gạo, số lượng là 80 tấn. Nhưng kho đang bị B-52 đánh phá. Không một chiếc xe nào có thể vào được kho. Đêm nay đại đội phải tiếp tục cho 2 xe lên đường. Nhưng tôi nghĩ rằng sẽ không vào được vị trí quy định. Anh em trong Đại đội vận tải nghĩ rằng có lẽ anh là người tổ chức kế hoạch này. Tôi không hề biết kế hoạch đi lấy 80 tấn gạo ở miền Tây Vĩnh Linh. Tôi nói với đồng chí Tỉnh: "Đêm nay đồng chí không cho xe đi lấy gạo nữa, tôi sẽ gọi điện về Sở chỉ huy hậu phương trung đoàn". Tôi cầm máy gọi về sở chỉ huy hậu phương trung đoàn, đầu dây bên kia là đồng chí Quỳnh. Tôi đề nghị với đồng chí Quỳnh không thực hiện kế hoạch đi lấy 80 tấn gạo ở miền Tây Vĩnh Linh nữa. Đồng chí Quỳnh hỏi tôi: "Anh có cách giải quyết gì không?". Tôi trả lời: "Ngày mai tôi sẽ tới Cụm 4 và sẽ giải quyết vấn đề này". Sau khi nghe tôi nói, đồng chí Quỳnh lệnh cho Đại đội vận tải không xuất xe đi nữa. Đồng chí Tỉnh lúc đó mới biết rằng tôi không phải là người vạch ra kế hoạch đó. Đêm hôm đó, tôi về tới sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn. Và ngay sáng hôm sau, tôi cùng đồng chí Hậu, Phó Chủ nhiệm Hậu cần đi tới Cụm 4. Khi đến Cụm 4, đơn vị đang tổ chức ăn tươi. Ăn tươi, tức là một bữa ăn trên mức bình thường vào thời bấy giờ. Khi thấy tôi bước vào, anh Tâm, Chỉ huy trưởng Cụm 4 và mọi người đều dừng bữa ăn và hỏi tôi: "Hôm nay anh Chúng đến có việc gì đấy? Nhưng ta sẽ nói sau, bây giờ mời anh vào bàn và chúng ta vừa ăn vừa nói chuyện". Tôi và đồng chí Hậu, Phó Chủ nhiệm Hậu cần ngồi vào bàn ăn. Sau đó tôi nói: "Vừa rồi chúng tôi nhận được phiếu xuất 80 tấn gạo lấy ở miền Tây Vĩnh Linh. Nhưng đã 1 tuần xe đi không thể nào tiếp cận được kho. Nay đến để đề nghị các anh có biện pháp gì giải quyết cho trung đoàn". Sau khi nghe tôi nói, anh Tâm, Chỉ huy trưởng Cụm 4 nói rằng: "Theo quy định của cấp trên, tất cả các đơn vị đóng quân ở phía bắc sông Bến Hải đều phải lấy gạo ở các kho miền Tây Vĩnh Linh, dù kho đang bị đánh phá. Vừa rồi một đồng chí trợ lý quân nhu, đem giấy giới thiệu của Đoàn 202 đến nhận gạo. Chúng tôi nghĩ rằng đây là đoàn An dưỡng 202 ở Quảng Bình vì vậy chúng tôi vẫn viết phiếu xuất lên lấy gạo ở miền Tây Vĩnh Linh. Hôm nay anh đến chúng tôi mới biết. Đối với Trung đoàn 202 các anh là đơn vị chiến đấu ở bờ Nam sông Bến Hải vì vậy chúng tôi sẽ ưu tiên giải quyết cho trung đoàn. Anh đưa lại phiếu xuất kho và chúng tôi sẽ làm lại cho anh". Tôi trả lại phiếu xuất kho và sau khi ăn cơm xong chúng tôi có một phiếu xuất kho khác. Trung đoàn sẽ đi lấy gạo ở dốc 6 độ, chỉ cách trung đoàn chưa đầy 10km. Cụm 4 giao cả số lượng gạo và nhà kho cho chúng tôi. Kết thúc bữa ăn ra về, cầm trong tay phiếu xuất kho 80 tấn gạo và toàn bộ nhà kho, đồng chí Hậu nói với tôi rằng: Ông là một "nhà ngoại giao". Tôi biết đồng chí Hậu nói động viên, nhưng với tất cả những việc tôi đã làm với Cụm 4 suốt từ đầu chiến dịch, tôi đã trở thành một người mà Cụm 4 đặt lòng tin và tôi nghĩ rằng lòng tin là thứ quyết định chứ không phải là ngoại giao.

Tháng 9 năm 1972 chúng tôi nhận được quyết định trở về nhà trường. Đồng chí Hải, Chính ủy Trung đoàn và đồng chí Quỳnh Chủ nhiệm Hậu cần gọi tôi lên phổ biến quyết định của cấp trên. Tuy nhiên theo ý kiến của trung đoàn, trung đoàn muốn giữ tôi lại vì tôi đã biết rất nhiều việc của trung đoàn, bây giờ bàn giao lại sẽ mất rất nhiều thời gian. Đồng chí Hải gợi ý: Trung đoàn đang rất cần cán bộ, nếu tôi đồng ý ở lại với trung đoàn, tôi sẽ được bố trí làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 44 vì cả ban chỉ huy tiểu đoàn đã hy sinh trong một trận bom B-52. Tôi không hề được đào tạo để chỉ huy tiểu đoàn xe tăng trong chiến đấu. Vì vậy tôi trả lòi, tôi làm sao có thể đảm nhiệm được chức vụ này. Đồng chí Quỳnh nói: "Anh không học nhưng anh sẽ làm được". Tôi nói quân hàm tôi chỉ có chuẩn úy, làm sao tôi làm được Tiểu đoàn trưởng xe tăng. Đồng chí Quỳnh nói: "Anh cứ nhận đi rồi anh sẽ có quân hàm". Tôi đồng ý ở lại với trung đoàn nhận bất cứ nhiệm vụ gì vì tôi đã gắn bó với trung đoàn trong những ngày rất gian khổ. Chỉ có một điều tôi vẫn muốn trở về trường để tiếp tục sự nghiệp khoa học của mình. Nhưng đến tháng 9 quyết định từ Bộ Quốc phòng vẫn đưa xuống, chúng tôi phải rời khỏi trung đoàn và trở về trường. Không một ai được ở lại. Tôi được đồng chí Hải và đồng chí Quỳnh gọi lên sở chỉ huy và thông báo quyết định phải trở về trường. Tôi sẽ phải chia tay trung đoàn, nơi tôi đã gắn bó trong những ngày rất khó khăn. Đồng chí Quỳnh nói với tôi: "Thôi cuộc đời là như thế... Tôi muốn đồng chí ở lại trung đoàn, nhưng cấp trên đã quyết định đồng chí phải trở lại trường. Chúng ta phải chia tay nhau. Nhưng chúng ta sẽ còn giữ lại những kỷ niệm tốt đẹp về nhau". Ra khỏi hầm chỉ huy tôi gặp đồng chí Hoạt, đồng chí Hoạt nói với tôi rằng: "Thôi anh hãy về trường đi, chúng em rất cần có anh. Mỗi khi có việc gì anh đều suy nghĩ, đều ra các mệnh lệnh để chúng em hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh chóng và hiệu quả. Nhưng cho đến bây giờ em vẫn không hiểu được vì sao anh vẫn còn sống". Sau khi biết rằng không thể giữ tôi ở lại trung đoàn, đồng chí Quỳnh đề nghị tôi làm những việc mà tôi phải giải quyết. Trước mắt là việc đưa 18 tấn dầu về trung đoàn. Tôi gọi điện cho đồng chí Tâm, Cụm trưởng Cụm 4 đề nghị đưa 18 tấn dầu về trung đoàn. Vị trí là kho xăng dầu của trung đoàn. Đồng chí Tâm đồng ý ngay. Để bảo đảm an toàn, đồng chí Quỳnh điều Đại đội công binh lên đào hào để cất chứa 18 tấn dầu. Ngay tối hôm đó, Cụm 4 cho xe chở về cho trung đoàn 18 tấn dầu. Đồng chí Quỳnh còn muốn tôi đưa về trung đoàn một vài téc xăng 2.500 lít. Nhưng tôi nói điều đó là không thể thực hiện được.

Chúng tôi chia tay trung đoàn và lên đường trở về Học viện Kỹ thuật quân sự. Tôi được thông báo tôi có quyết định được nhận Bằng khen của Trung đoàn 202. Chúng tôi rời khỏi trung đoàn và hành quân ra Bắc. Chúng tôi hành quân bộ và đi qua các trạm giao liên. Chúng tôi đến Cự Nẫm, Lệ Thủy và Đồng Hới. Đồng Hới lúc đó đã bị bom Mỹ san bằng, chỉ còn một cái nhà thờ. Những người dân vẫn ra đồng làm ruộng. Chúng tôi đến một nơi gọi là Phú Lộc. Làng Phú Lộc nằm cách Ba Dốc khoảng 2km. Ba Dốc là trọng điểm ném bom của máy bay Mỹ. Ba Dốc chỉ đơn thuần là ba cái dốc trên đường quốc lộ số 1. Nhưng để ngăn xe vận tải của ta, đêm nào Mỹ cũng ném bom vào Ba Dốc. Bom Mỹ ném vào Ba Dốc lại lạc vào làng Phú Lộc. Gần 2 phần 3 làng Phú Lộc đã bị hủy diệt. Dân làng không dám ở trên nhà. Họ dỡ nhà làm hầm. Những ngôi nhà cột gỗ lim đều bị dỡ bỏ để làm hầm. Những căn hầm thật kiên cố. Khi đến gần Phú Lộc, tôi nói với đồng chí Đình, trưởng đoàn của Học viện Kỹ thuật quân sự rằng ta không nên vào Phú Lộc, máy bay Mỹ thường xuyên ném bom và 2 phần 3 làng đã bị hủy diệt. Ta phải đi vào một nơi cách xa đường số 1 và trú quân. Đồng chí Đình nói với tôi: Dân sống được thì ta cũng sống được. Tôi không nói gì nữa. Chúng tôi đến làng Phú Lộc. Dân làng tiếp đón chúng tôi rất trọng thể. Vì vào thòi buổi chiến tranh ác liệt như thế lại có một đơn vị bộ đội vào làng và họ có cảm giác được chia sẻ những gian khổ nguy hiểm trong những ngày chiến tranh. Sau khi ăn chiều xong, các gia đình xuống các hầm để ngủ. Tôi và đồng chí Trợ, được bố trí ngủ trên một cái bệ thờ cao khoảng l,5m. Nửa đêm khi đang ngủ, đồng chí Trợ đánh thức tôi dậy và nói rằng: "Máy bay B-52 đang bay ra phía Bắc". Tôi nghe tiếng máy bay B-52 đang bay trên đầu. Nhưng bỗng dưng tôi nghe tiếng nổ ngay sau ánh chớp. Như vậy bom đã ở rất gần. Từ trên bệ thờ, tôi lăn xuống đất. Khi tôi lăn xuống đất, tôi cũng thấy đồng chí Trợ lăn xuống cạnh tôi. Từ trên cao gần l,5m mà lăn xuống đất là một việc khá nguy hiểm. Nhưng đó là phản xạ bình thường trong hoàn cảnh đó. Sau 3 loạt bom B-52, từ trong hầm, cả gia đình thức dậy và gọi chúng tôi: Các anh bộ đội ơi, các anh có còn sống không? Tôi trả lòi: Chúng tôi vẫn còn sống!

Cả gia đình đưa chúng tôi xuống hầm ngủ. Trong nhà có cả bà già, con gái và trẻ thơ, nhưng có lẽ không có gì hơn sự sống, họ đưa chúng tôi xuống hầm cho đến ngày hôm sau, chúng tôi lại tiếp tục lên đường.

Đến Hà Tĩnh, đó là quê hương tôi, nhưng tôi lại không thuộc địa hình, vì tôi sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt, tập kết ra miền Bắc, tôi lại học ở trường học sinh miền Nam, không mấy khi được sông ở quê. Tôi đi trên con đường đê, tôi mường tượng hầu như có lần về thăm quê, tôi đã đi qua nơi này nhưng tôi không thể nhớ. Cuối cùng chúng tôi đến trạm giao liên xã Đức Trường, huyện Đức Thọ. Chúng tôi đã ở khá xa chiến trường, nhưng nơi đây cũng không hề bình yên. Trên trời vẫn một chiếc máy bay F-4 bay lượn, nhòm ngó. Hai chiếc máy bay cường kích đang ném bom vào một mục tiêu nào đó rất gần trạm giao liên. Có lần đang bay, nó làm động tác bổ nhào làm chúng tôi có cảm giác là nó sắp ném bom vào trạm giao liên. Đây là hậu phương nhưng trong cuộc chiến tranh này, hậu phương và chiến trường đều ác liệt cả. Qua một đêm ngủ, tôi nhận ra rằng đây là một trọng điểm mà bất cứ lúc nào máy bay Mỹ cũng có thể tập kích. Bên trong Đức Trường là một trạm giao liên, dưới sông là bến đò giao liên, cạnh đó là một cây cầu đang làm dở, tôi nói với đồng chí Đình. Sau khi ăn sáng xong chúng ta phải rời khỏi đây.

Anh Đình nói với tôi: Hôm nay ông làm sao thế?

Tôi nói không làm sao cả, hôm nay ăn sớm xong các anh phải ròi khỏi nơi đây. Bằng thái độ rất gay gắt, tôi đã làm cho các anh phải rời Đức Trường. Ra khỏi làng khoảng 200m. Máy bay Mỹ đến và bất ngờ ném bom. Đó là 2 chiếc máy bay rất lớn. Mỗi lần chúng có thể ném 12 quả bom. Máy bay bổ nhào xuống làng.

Toàn bộ đoàn cán bộ kỹ thuật, nằm sát xuống mặt ruộng. Chỉ sau 4 lượt bổ nhào, mỗi chiếc ném 24 quả bom: Khói bụi trong làng bôc lên nghi ngút. Chúng tôi còn nhìn thấy những cột nước từ dưới sông bốc lên. Kết thúc đợt ném bom, chúng tôi tiếp tục hành quân. Đến Nam Đàn chúng tôi nhận được tin cuộc ném bom vừa rồi của máy bay Mỹ vào Đức Trường đã làm 110 người chết. Đồng chí Đình nói với tôi tại sao ông lại biết việc này, có lẽ ông phải là gián điệp Mỹ. Tôi không là gián điệp, nhưng không hiểu vì sao tôi có cảm giác rằng Đức Trường sẽ bị đánh. Chúng tôi đã thoát khỏi trận bom nhò một thứ gì đó người ta gọi là linh cảm.

Chặng hành trình của chúng tôi ra Bắc không có gì khó khăn, chúng tôi đi qua Thanh Hóa rồi đến ga Nam Định. Chúng tôi lên tàu và lại gặp một trận ném bom nữa của địch nhưng chúng tôi vẫn bình an. Về đến ga Hà Nội, địa chỉ đầu tiên mà tôi đến là nhà dì Minh. Dì Minh là em ruột mẹ tôi, nhà dì ở số 77A đường Trần Hưng Đạo. Đến nhà dì Minh, tôi đeo một khẩu súng AR15 và một khẩu súng ngắn. Khẩu AR15 là tặng phẩm của Trung đoàn 202 gửi cho nhà trường làm kỷ niệm. Tôi được dì và các em tiếp đón rất nồng nhiệt vì là một người lính mới từ chiến trường Quảng Trị trở về. Tôi đã ở giữa lòng Hà Nội, lại được đi trên những đường phố thân thuộc của Thủ đô, nhưng Hà Nội cũng đã không còn bình yên nữa. Tháng 12 năm 1972, trời đã bắt đầu lạnh, những đường phố thưa vắng bóng người vì rất nhiều người đã được lệnh sơ tán. Mỹ đã quay lại đánh phá miền Bắc rất ác liệt, cảng Hải Phòng đã bị phong tỏa. Nhiều thành phố lớn, nhiều nhà ga, bến cảng, cầu đường sắt, đường bộ và cả những khu dân cư trên khắp miền Bắc bị đánh phá. Hà Nội vẫn đang sẵn sàng chuẩn bị cho những trận chiến đấu một mất một còn với không quân Mỹ. Tôi được ở Hà Nội một tuần và sau đó sẽ lên đường trở lại trường. Tròn một năm đã trôi qua, một cuộc hành trình khá dài, gian khổ đã kết thúc. Đó là thử thách đầu tiên của một sĩ quan mới ra trường.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn