TRỞ VỀ CHIẾN ĐẤU TRÊN QUÊ HƯƠNG
Đoạn kể là hồi ký đầy xúc động và hào hùng về cuộc đời binh nghiệp của một người chiến sĩ đặc công, bắt đầu từ dấu mốc được kết nạp vào Đảng năm 1959 và hành quân vượt Trường Sơn vào miền Nam chiến đấu. Qua những trận đánh vang dội như Bót Xít, Phò Nam, Thanh Vinh, đèo Hải Vân và Hòa Mỹ, tác giả đã tái hiện sinh động nghệ thuật tác chiến “nở hoa trong lòng địch” đầy mưu trí, dũng cảm của bộ đội đặc công trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Đan xen giữa những chiến công hiển hách là những mất m
Trước khi trở về miền Nam chiến đấu, có một vinh dự lớn đã đến với tôi vào ngày mùng 1 tháng 1 năm 1959. Đó chính là ngày tôi được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Sau đó, đến ngày 15 tháng 7 năm 1959, tôi được công nhận đảng viên chính thức. Khoảng đầu tháng 8 năm 1959, thực hiện Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II), đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân ra Sơn Tây huấn luyện bổ sung nghiệp vụ đặc công để trở về miền Nam chiến đấu. Lúc này, tôi nghiệm lại lời dạy của cha ông ta “Có học mới hay” quả không sai. Trước đây, tôi từng tham gia nhiều trận đánh của bộ đội đặc công, đã được đào tạo một số kiến thức cơ bản về cách đánh “nở hoa trong lòng địch”. Nhưng khi được huấn luyện một thời gian ngắn ở đây, tôi cảm thấy đầu óc mình mở mang ra rất nhiều, có thể tin khẳng định mình đủ khả năng chỉ huy một đại đội đặc công tiềm nhập, phá hủy một căn cứ quân sự của địch. Sau gần hai tháng huấn luyện theo bài bản, đến tháng 10 năm 1959, chúng tôi bí mật hành quân và Quảng Bình, Vĩnh Linh (Quảng Trị) chính thức nhận nhiệm vụ, quân trang, quân dụng và vũ khí trang bị để lên đường. Đơn vị đặc công Quân khu 4 được chia thành nhiều bộ phận. Riêng đoàn chúng tôi về Quảng Nam - Đà Nẵng được biên chế sáu đồng chí. Nếu bốn năm trước, chúng tôi tập kết ra bắc, lênh đênh trên biển trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu thì bây giờ đường hành quân lại là xuyên rừng, lội suối và cũng luôn sẵn sàng chiến đấu. Quãng đường từ Quảng Bình đến Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế có giao liên đi trước dẫn lối, báo động, hướng dẫn đi tránh đường vòng ở những nơi địch thường mai phục. Khó khăn gian khổ dọc đường thì hết chỗ nói. Các địa danh như Khe Sanh, dốc Ba Rền, Dốc Bút, v.v. từng ám ảnh bộ đội ta một thời đều có dấu chân chúng tôi. Lúc đầu, ba lô đồng chí nào cũng căng phồng, chứa đầy thức ăn, củi duốc và cả những vật kỉ niệm của miền Bắc. Đi được vài chặng, mồ hôi túa ra ướt đẫm quần áo. Mỗi lúc bước đi, quai ba lô lại cà vào vai đau điếng. Thế là nhân lúc nghỉ giải lao, ai nấy tranh thủ kiểm tra ba lô, cảm thấy thừa cái gì là vứt, kể cả nặng một gam cũng bỏ. Chúng tôi đi, chân bước thấp bước cao, tai luôn nghe ngóng động tĩnh, mắt nhìn ra phía trước. Lâu lâu, có tiếng xuýt xoa của ai đó khi nhìn lên đỉnh dốc cao vời vợi. Nếu như lúc lên dốc, ba lô như một vật nặng níu phía sau thì xuống dốc nó chẳng khác gì một khối đá đè nặng lên lưng, chỉ cần chúng tôi sẩy bước một chút là có thể bị lăn xuống vực sâu hun hút. Có đoạn đi trong sương đêm, cảm giác cẳng chân hơi ngứa ngáy là y như rằng một chú vắt đã yên vị trong quần từ lúc nào. Khó khăn chồng chất khó khăn. Gian khổ nối tiếp gian khổ. Nhưng lúc ấy không thể có sức mạnh nào có thể chiến thắng lòng căm thù giặc, khát khao được về miền Nam chiến đấu giải phóng quê hương trong mỗi chúng tôi.
Sau hơn hai tháng trèo núi, luồn rừng, vượt đường 9 - Khe Sanh, trèo lên dốc Bút..., băng qua thác ghềnh theo dọc đường Trường Sơn Đông, đến khoảng cuối năm 1959, đầu năm 1960, đoàn cán bộ đặc công về đến buôn làng A Banh, A Tép thuộc huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Khi chúng tôi vừa ổn định nơi ăn chốn ở thì cấp trên giao nhiệm vụ ngay. Trước mắt, anh em được phân công về địa bàn các huyện miền núi Đông Giang, Nam Giang và Tây Giang làm công tác dân vận, xây dựng vùng du kích; đồng thời, tổ chức quân báo trinh sát điều tra cứ điểm. Trong thời gian này, bọn ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn thường xuyên đưa quân lên càn quét tận biên giới Việt - Lào. Âm mưu lâu dài của chúng là bình định các vùng dân tộc miền núi, khai thác tài nguyên, nắm dân đặt hội đồng hương chính xã thôn, tổ chức ra nhiều giáo phái chia rẽ đồng bào Kinh, đồng bào Thượng nhằm chống lại cộng sản. Do đó, quân ngụy và hội đồng hương chính đóng đồn bốt cấp tiểu đoàn, đại đội, trung đội như: Bót Xít, Ga Lâu, Lờ Bơ, A Ró, Trao, Rô và một nơi khác nhằm hỗ trợ cho bọn bình định chiêu an dồn dân lập ấp. Nói chung, ba huyện miền núi đều có địch chốt giữ. Chúng dồn đồng bào dân tộc K’tu vào ấp chiến lược, nhằm ly khai cộng sản. Tuy nhiên, nhờ có sự giúp đỡ của các đồng chí cán bộ huyện ủy nằm vùng, hoạt động hợp pháp như đồng chí Ấp Lò... nên chúng tôi sớm hoàn thành tốt nhiệm vụ, điều tra nắm địch. Các anh chính là những cán bộ đã được ta bố trí ở lại từ năm 1954, không đi tập kết. Để đảm bảo an toàn tránh địch phát hiện, các đồng chí ấy đã phải cưa răng, căng tai, thực hiện sống “ba cùng” với đồng bào dân tộc (cùng ăn, cùng ở và cùng làm). Có thể ví đội ngũ cán bộ nằm vùng như những người giữ ngọn lửa cách mạng trên dải đất vùng cao của ba huyện miền núi tỉnh Quảng Nam. Các anh đã lãnh đạo phong trào cách mạng nơi đây luôn vững mạnh. Vì thế, dù trong hoàn cảnh khó khăn hay địch tra tấn dụ dỗ, đồng bào K’tu vẫn một lòng, một dạ theo Đảng, Bác Hồ.
Ngày 20 tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời đã kêu gọi thành lập lực lượng vũ trang tại chỗ. Ở Quảng Nam - Đà Nẵng, ta chủ trương chọn số cán bộ đặc công từ miền Bắc vào làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh. Trên tinh thần Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 11 (tháng 1 năm 1959), ta gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang, sẵn sàng tổ chức tấn công địch. Trước đó. Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng đã phối hợp với Quân khu 5, mở chiến dịch đánh địch từ đầu năm 1960. Trước đó mấy hôm, địch dùng máy bay thả dù xuống đồn này khoảng 15 tấn gạo và thực phẩm để cho hai đại đội lính ngụy đổ quân càn quét. Đặc biệt, nơi đây có bãi cỏ tranh rộng lớn, địa hình bằng phẳng, trống trải, gần sông Bung của ba làng dân tộc là: Bà Bân, Bà Ghì và Bà Tý, nằm trên một thung lũng của huyện Tây Giang, rất thuận lợi cho việc đổ quân, triển khai lực lượng càn quét của địch. Vì thế, ta cũng khó tiếp cận. Để chủ động tìm cách đối phó với trận càn sắp tới của địch, sáu anh em đặc công chúng tôi, do anh Tám Công chỉ huy, đến gặp đồng chí Ấp Lò nhờ dẫn đường xuống A Bát, A Dính để gặp các đồng chí Tỉnh ủy và Tỉnh đội đóng ở A Vương bàn kế hoạch trinh sát nắm địch. Ấn tượng ban đầu của tôi về người cán bộ “ba cùng” là anh có nước da ngăm đen, giọng nói chậm rãi y hệt đồng bào K’tu. Sau một lúc hỏi thăm tình hình, đồng chí Ấp Lò cung cấp tư liệu và cho cơ sở dẫn chúng tôi đến chỗ ở của Ban Tác chiến tỉnh đội, do anh Nguyễn Chơn làm Trưởng ban. Anh Chơn sau này được phong quân hàm thượng tướng, làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Lúc ấy, chỉ huy tỉnh đội quyết định phải tiêu diệt đồn Bót Xít, Ga Lâu và tiểu đoàn quân ngụy đóng ở đồn A Ró. Anh Trần Thận, Chính trị viên, thay mặt Tỉnh đội giao nhiệm vụ cho đội trinh sát đặc công ở miền Bắc mới vào ghép đội hình vào bộ phận quân báo trinh sát làm nhiệm vụ điều tra các cứ điểm A Ró, Ga Lâu, Bót Xít. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đồng bào dân tộc sẽ nuôi dưỡng bộ đội, nhưng chúng tôi cũng tham gia làm nương phát rẫy trước là để giúp đỡ nhân dân, sau là tăng thêm tình cảm quân dân.
Tháng 12 năm 1960, Đội Trinh sát đặc công của chúng tôi chính thức nhận nhiệm vụ điều tra đồn Bót Xít. Địch bố trí ở đồn này một đại đội tăng cường. Chấp hành quyết định của trên, Đội cử sáu đồng chí gồm: Ngôn, Dâng, Hiền, Hữu, Thủy và Tế, chia thành hai tổ đi chuẩn bị chiến trường. Trong đó, tôi được phân công làm tổ trưởng tổ trinh sát, có nhiệm vụ phối hợp với bộ phận đặc công H29 để nghiên cứu tình hình địch, lựa chọn cách đánh phù hợp.
Đêm mùa đông, trời mưa lâm thâm, gió bấc thổi lạnh thấu xương. Anh em trinh sát mình trần, nằm trên bãi cỏ tranh trống trải, sên vắt bu, bù hùm... bám đầy mình nhưng không thể bắt. Mặc cho chúng cắn no rồi tự rớt xuống. Tuy nhiên, đó chưa phải là khó khăn lớn nhất trong quá trình trinh sát. Vấn đề gây nhức nhối cho chúng tôi là cách bố phòng, tổ chức canh gác của địch. Chúng bố trí ở đây nhiều hàng rào, trong đó có bờ rào tre dày đặc khiến chúng tôi không cắt được buộc phải nhổ, cấu tạo phức tạp cộng với hệ thống hào giao thông dày đặc, chiến hào sâu tới 2,5 mét. Bọn lính gác thường xuyên ném lựu đạn, bắn súng ra ngoài bờ rào. Đặc biệt, khi canh gác, bọn bên này đánh kẻng thì bên kia phải trả lời để không ngủ gật. Hướng của chúng tôi là hướng chính nên phải điều tra tỉ mỉ. Là người trực tiếp chỉ huy tất cả, phải dự kiến phương án chiến đấu đề xuất lên cấp trên, tôi lần lượt chui rào, đo cự ly, xác định bao nhiêu lớp rào, số lượng lô cốt, chiến hào, nhà lính... sau đó vẽ sơ đồ và báo cáo lên trên. Điều kiện thời tiết khắc nghiệt, địch canh gác cẩn mật là những yếu tố tác động mạnh mẽ đến tâm lý của tôi và đồng đội, những cán bộ mới từ miền Bắc trở về. Trường hợp này vừa là thử thách đầu tiên, vừa là cơ hội để kiểm chứng những gì mình đã được học. Vì thế, anh em chúng tôi xác định quyết tâm chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ. Trước hết, đánh tiêu diệt để rút kinh nghiệm thực tế trên chiến trường, sau đó lấy lương thực gồm 15 tấn gạo địch mới đổ xuống cho bọn lính đi càn để cứu đói cho dân, đồng thời làm nguồn dự trữ cho bộ đội sau này. Điều tra ban đêm xong, ban ngày trèo lên cây cách đó khoảng 500 mét đặt đài quan sát, vẽ sơ đồ. Buổi tối, đội trinh sát chia lực lượng đột nhập vào đồn địch theo ba hướng. Đêm thứ nhất, sau khi chúng tôi bò qua được hai lớp rào dây thép gai thì không thể tiến thêm được nữa vì địch báo động liên tục và cho lính ra ngồi dày đặc trên chiến hào. Tôi tự nhủ: “Có lẽ bọn chỉ huy nằm ngủ mơ thấy ác mộng bị ta tấn công nên mới bắt lính la hét, ném lựu đạn, bắn liên tục ra ngoài nhằm ngăn chặn đối phương”. Vì thế, chúng tôi đành phải chờ địch ngớt tiếng súng, bò quay về, đêm sau tiếp tục. Hôm trinh sát thứ hai, anh em họp bàn xác định quyết tâm đột nhập vào bên trong cho bằng được, bởi quân địch có canh phòng cẩn mật đến đâu cũng không qua được kinh nghiệm điêu luyện của bộ đội đặc công có tài xuất quỷ nhập thần. Nhưng đêm thứ hai thì có mũi vào được tận trung tâm, có mũi chỉ đến hàng rào cuối cùng. Chúng tôi xác định bằng mọi giá đêm hôm sau là đêm cuối cùng phải trinh sát được toàn bộ mục tiêu. Đúng như kế hoạch, đêm hôm ấy cả ba hướng đều lọt qua ba lớp hàng rào, vào được bên trong cứ điểm. Theo sự phân công từ trước, anh em núp dưới các kho gạo để quan sát nắm chắc toàn bộ cách bố trí chi tiết, hoạt động của địch. Sau khi quan sát kỹ tình hình bên trong, chúng tôi nhận thấy địch vẫn còn nhiều sơ hở. Dựa vào hệ thống phòng thủ bên ngoài kiên cố, chúng cho rằng đối phương không thể chui qua những lớp rào thép gai, các bãi mìn bố trí không theo quy luật, v.v. Thực tế, quả thật đúng như vậy. Ở ngoài cùng là bãi tranh rộng lớn, trống trải, ta không dễ dàng ẩn náu, tiếp cận. Bao bọc xung quanh đồn là ba lớp rào kiên cố. Đặc biệt, ở lớp rào bên trong cùng, địch trồng tre nứa đan nhau dày đặc, đến một con chồn cũng khó lọt qua. Bên cạnh đó, bờ tường chiến hào được xây cao 2 mét sát bờ rào, hào sâu 2,5 mét, rộng 2 mét có bệ bắn cá nhân. Trên tường hào, cứ cách 15 mét, địch bố trí một vọng gác. Ở bốn góc có 4 lô cốt cố thủ, mỗi lô cốt có một khẩu trung liên. Trong đó, một vọng gác chỉ huy trực chiến. Cứ 10 phút, chúng đánh 3 tiếng kẻng. Các vọng gác đều trả lời theo thứ tự và la ó, bắn súng, ném lựu đạn ra bên ngoài. Qua quan sát tại chỗ, chúng tôi nhận định: “Điều này đã nói lên sự sợ hãi của chúng”. Kể ra địch sợ hãi cũng đúng, vì ở đây rừng núi âm u, hoang vắng, không biết sẽ bị đối phương tấn công khi nào, từ hướng nào tới.
Sau ba đêm, tổ trinh sát đặc công điều tra đạt kết quả tốt. Tôi kịp thời về báo cáo cấp trên. Đồng chí Trần Thận và đồng chí Nguyễn Hữu Đức triệu tập cuộc họp thông qua Tỉnh đội. Tôi trực tiếp trình bày phương án tác chiến để các đồng chí phê duyệt. Toàn thể cuộc họp nhất trí 100% với quyết tâm tiêu diệt đồn Bót Xít, thu toàn bộ vũ khí, quân trang quân dụng, làm chủ chiến trường, cắt đứt con đường từ hến Giằng lên ba huyện miền núi, thu 15 tấn gạo để cứu đói cho dân và dự trữ lương thực cho tỉnh để mở chiến dịch lớn giải phóng ba huyện miền núi Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang.
Theo phương án chiến đấu, Đội trinh sát đặc công của Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng gồm có các đồng chí: Ngôn, Tám, Vũ, Dâng, Hồng, Lan, Thư, Lâm và Thủy, được biên chế thành 3 mũi. Trang bị vũ khí gồm có súng tiểu liên AK, thủ pháo, lựu đạn, bộc phá ống phá rào. Mũi 1 do tôi làm mũi trưởng, đồng chí Lân mũi phó, có nhiệm vụ đánh từ hướng đông lên đánh sập hai lô cốt đầu cầu, phát triển vào bên trong tiêu diệt các nhà lính. Mũi 2 do đồng chí Dâng làm mũi trưởng, đồng chí Hồng mũi phó, có nhiệm vụ đánh từ hướng tây xuống diệt hai lô cốt đầu cầu, phát triển đánh vào nhà lính, chiếm giữ các kho gạo. Mũi 3 do đồng chí Thủy làm mũi trưởng, đồng chí Lan mũi phó, có nhiệm vụ đánh từ phía nam đánh vào, diệt hai nhà lính và hai lô cốt; chiếm giữ cổng ngõ, không cho địch tháo chạy ra ngoài. Truy quét tàn quân địch dưới chiến hào. Ba mũi bắt liên lạc tại trung tâm cứ điểm.
Sau khi nắm chắc phương án tác chiến, toàn đội hiệp đồng giờ G nổ súng. Đúng 15 giờ ngày N, đơn vị hành quân đến vị trí tập kết, trú quân cách đồn địch 500 mét, nằm sâu trong rừng rậm cho anh em nghỉ lại vì sáng ngày mới đánh. Khi hành quân, đi trong đội hình chiến đấu, tôi trăn trở với vai trò là mũi trưởng mũi chủ công của mình. Dẫu không nói ra nhưng tôi biết cấp trên đã tin cậy khi giao cho tôi trọng trách vinh quang và nặng nề này. Kết quả thực hiện nhiệm vụ của chúng tôi có thể nói ảnh hưởng rất lớn đến toàn cục trận đánh. Đơn vị đến vị trí tạm trú khi thời gian đến giờ nổ súng còn khá dài, tôi bàn bạc với các anh chỉ huy, đề xuất cho anh em tranh thủ ngủ để có sức khỏe chiến đấu. Nhân lúc trời chưa tối hẳn, anh em đặt ống nhòm quan sát mục tiêu để khi đánh khỏi bị nhầm lẫn, sau đó thay nhau lần lượt ngả lưng ngủ vội chờ đến giờ tiếp cận mục tiêu. Sợ khi mọi người ngủ không may địch bắn cầm canh vào đội hình, hoặc rắn rết, sên vắt, muỗi rừng.v.v. chui vào, hơn nữa biết mình có nằm cũng không ngủ được vì lo lắng đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ nên tôi tình nguyện gác cho anh em tranh thủ chợp mắt trước khi vào trận. Nhìn anh em chiến sĩ vô tư ngáy khò khò trước giờ nổ súng, má căng mọng, mặt còn nhiều lông măng, những người chỉ huy chúng tôi phải trăn trở, suy nghĩ cách đánh làm sao ta ít tổn thất, thương vong mà giành thắng lợi lớn nhất. Đó cũng là điều dặn dò của cấp trên trước lúc chúng tôi làm lễ xuất quân. Trong tôi chợt trào dâng một tình cảm khó tả. Liệu sau đêm nay, những gương mặt còn đượm chút thơ ngây của tuổi học trò kia có ai vĩnh viễn nằm lại với núi rừng hay không? Càng nghĩ, tôi càng thương anh em. Vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mà họ phải gác lại bao mơ ước để lên đường chiến đấu. Trong số đó, liệu mấy người có thể đi suốt cuộc chiến tranh để đến ngày đất nước ca khúc khải hoàn. Cũng có thể sau trận đánh này, tôi là người dừng lại với nấm mồ xanh để anh em đi tiếp cuộc trường chinh vĩ đại. Tôi miên man suy nghĩ như vậy đến khi chiếc kim ngắn của đồng hồ chỉ đến số 12 giờ mới gọi chiến sĩ trong mũi dậy, nhắc lại mục tiêu, hướng tiến công để anh em nhớ và tổ chức động viên lần cuối. 1 giờ, chúng tôi bắt đầu thực hành vận động tiếp cận mục tiêu. Tôi dẫn anh em bò đến sát hàng rào thứ nhất, hướng dẫn tiềm nhập. Toàn mũi bò theo đội hình hàng dọc, lần lượt tháo gỡ bom mìn, chống chui, luồn sâu vào bên trong đồn địch. Lúc này, trời nổi gió heo heo, địch liên tục bắn ra ngoài. Tôi bò gần 12 chiến sĩ, động viên anh em nếu không may trúng đạn thì nằm im để đảm bảo bí mật, không làm ảnh hưởng đến trận đánh. Đúng 2 giờ, ta cắt hàng rào thứ hai, tiến sâu vào trong. 3 giờ, các hướng mở bờ rào tre nứa thứ 3 và đặt bộc phá ống phá rào sang một bên nhằm đề phòng tình huống xấu có thể xảy ra, nghĩa là nếu địch phát hiện thì sẽ đánh sập bờ rào tre và nhảy vào ngay. Toàn đội hình nằm theo hàng dọc chuẩn bị tư thế vọt tiến. Tuy nhiên, do địch bắn rát nên đến 3 giờ 30 phút, chúng tôi mới vượt qua được các lớp rào vào chiến hào tiếp cận được mục tiêu. Bấy giờ trời đã chuyển mưa lâm thâm. Các loại sên, vắt bu dày đặc, đốt chúng tôi hết lớp này đến lớp khác. Cán bộ, chiến sĩ mình trần, đã chịu đựng qua một đêm mưa phùn gió lạnh, bây giờ lại thêm nạn sên vắt. Nhưng tất cả mọi điều đó không làm chúng tôi nản chí quyết tâm. Tất cả đã sẵn sàng nổ súng. Đêm chuyển dần về sáng, quân địch canh gác sơ sài, tiếng kẻng trên các lô cốt thưa dần. Các mũi các hướng đã nắm được quy luật của địch nên nhanh chóng vượt qua bờ thành của hào giao thông, áp sát các nhà lính một cách an toàn, bí mật. Một tình huống bất ngờ xảy ra. Đồng chí đi sau cùng của mũi một không may bị rơi xuống hào gây nên tiếng động khiến tên lính đi tuần tra phát hiện vội la lên: “Ma! Ma! Ma! Tụi bây ơi”. Lính ở hai bót gác hai bên phát hiện cũng kêu lên “Ma! Ma! Bắn”. Như một sự trùng hợp may mắn, lúc đó vừa đúng 4 giờ sáng, tức giờ G, ta đồng loạt nổ súng bắn sập 4 lô cốt ở bốn góc đồn. Các hướng mũi lập tức nổ súng theo mục tiêu đã phân công. Tôi chỉ huy anh em xung phong, đồng thời ném thủ pháo, lựu đạn vào nhà chỉ huy, nhà lính. Trong sự khẩn trương của trận đánh, tôi dùng tiểu liên truy lùng địch, vừa chỉ huy vừa đánh, đồng thời bắt liên lạc với các mũi. Từ vị trí nhà chỉ huy đại đội địch, mũi của tôi tiếp tục đánh chiếm các nhà lính. Tôi lưu ý cho anh em không nên đốt cháy các kho gạo. Như vậy, chỉ sau gần một giờ, cán bộ, chiến sĩ đặc công đã xung phong tiêu diệt hoàn toàn một đại đội lính bảo an ngụy tại đồn Bót Xít, thu toàn bộ vũ khí và quân trang quân dụng, bắt sống một số tên. Trận đánh kết thúc vừa đúng 5 giờ sáng, 300 dân công của ba làng dân tộc là Bà Bân, Bà Ghì, Bà Tý, do cán bộ chỉ huy dẫn vào thu chiến lợi phẩm. Còn chúng tôi hành quân về làng Bà Bân, được nhân dân khao quân một con bò ăn mừng chiến thắng Bót Xít. Cứ ngỡ rằng bò đã có sẵn nên tôi đôn đốc anh em tắm rửa nhanh chóng để tham gia làm thịt bò với bà con. Ai dè khi chúng tôi đến nơi tập trung, mấy người dân Bà Bân mới chỉ khu rẫy của đồng bào có con bò rừng rất hung dữ. Nhân dân ba làng đều sợ nó, nhưng chưa có cách trừ khử, nay nhờ bộ đội lên bắn đem về liên hoan. Tôi dẫn một số anh em theo người dẫn đường lên bao vây con bò. Bò phát hiện có người nên nhảy ra chỗ rẫy trống, ghếch sừng, giương cặp mắt đỏ ngầu như thách thức. Chỉ với một phát đạn của bộ đội và mấy mũi tên của thanh niên dân tộc đi cùng, con thú hoang bấy lâu phá phách nương rẫy của đồng bào nằm gục xuống, một sừng cắm xuống đất, sừng kia chổng lên trời. Chúng tôi khiêng về ăn mừng chiến thắng. Bà con liên tục cảm ơn bộ đội đã đánh giặc cứu dân, giết bò rừng để đồng bào yên tâm lên rẫy.
Sau trận Bót Xít một thời gian, thừa thắng, Đội trinh sát đặc công tiếp tục cùng Đơn vị H29 tổ chức phục kích tại khu vực làng Trao, diệt gọn một đại đội lính ngụy thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Hôm ấy, một đại đội địch hành quân từ làng Trao lên làng A Dinh. Dưới sự chỉ huy chung của đồng chí Nguyễn Chơn, tôi được phân công chỉ huy tổ chặn đầu và bố trí đội hình phục kích ngay đường dọc bờ sông A Dinh. Khu vực tập trung diệt địch là đoạn đường Trao - A Dinh. Đây là một đoạn đường hiểm trở chạy dọc bờ sông. Các đơn vị phối hợp chiến đấu gồm: Đặc công H29, trinh sát đặc công và dân quân du kích hai làng Trao và A Dinh. Lực lượng dân quân phối hợp 2 tổ, vũ khí chủ yếu bẫy đá, chông thò. Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi bố trí trung liên, tiểu liên phục kích cách đường hành quân của địch khoảng năm mét. Phát hiện địch từ xa, nhưng quán triệt phương châm trận đánh phải chắc thắng, diệt địch hiệu quả, chúng tôi kiên trì chờ chúng đến thật gần mới nổ súng. Khi toán lính cảnh giới cách trận địa phục kích khoảng năm mét, tôi sử dụng tiểu liên tiêu diệt tên đi đầu, đó cũng là hiệu lệnh nổ súng của tổ chặn đầu. Bị đánh bất ngờ, địch vội vàng co cụm đúng vào khu vực diệt địch của tổ chính diện. Ngay lập tức, quân ta bắn đá, bấm thò,v.v. Trước tình thế chiến đấu diễn biến mau lẹ, tôi lập tức chỉ huy xung phong, cùng anh em tiêu diệt hết toán đi đầu. Chúng tôi nhảy ra chiếm lòng đường, lập thành phòng tuyến lâm thời không cho địch tiến lên tháo chạy để các bộ phận khác chiến đấu.
Trong “chùm chiến thắng” Bót Xít, Rô, Trao, A Ró của quân ta tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thì chiến thắng A Ró là “nhàn” hơn cả. Vì thực tế, ở đồn này chúng tôi chỉ mới điều tra thì địch đã chủ động rút chạy khi ta đánh Bót Xít. Thời gian điều tra đồn này, tổ trinh sát quân báo làm nhiệm vụ điều tra do tôi phụ trách gồm có tôi, Lâm, Thư, Tám, A Lăng Bin được một bà mẹ dân tộc tên là Bơ Ngơi là người làng A Ró tận tình giúp đỡ. Ban ngày chúng tôi lên nhà trên rẫy (đồng bào gọi là dun) của bà ở, chuyện cơm nước bà lo. Đêm xuống, mẹ Bơ Ngơi lại dẫn anh em về làng, chỉ đường vào đồn, tránh làng chó sủa. Sau khoảng 2 tuần làm nhiệm vụ, chúng tôi tạm biệt bà mẹ dân tộc về đơn vị. Khi tổ điều tra về đến nơi thì được tin địch đã bức rút cả tiểu đoàn về Thạnh Mỹ, Đại Lộc.
Những chiến thắng trên đã buộc quân ngụy đóng quân ở ba huyện: Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang, rút hết về đồng bằng, ta giải phóng hoàn toàn miền núi Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1960, giải phóng xong miền núi, lực lượng đặc công chúng tôi tiến xuống đồng bằng, phá ấp chiến lược, tiêu diệt đồn, bốt Mỹ - ngụy ở cánh trung, cánh nam và cánh bắc.
Về với đồng bằng, những năm 1960 đến 1961, đội đặc công bên cạnh việc đi công tác phong trào, phát động quần chúng cùng Huyện ủy Hòa Vang, chúng tôi còn có nhiệm vụ đánh địch bằng nghệ thuật “nở hoa trong lòng địch” của bộ đội đặc công. Cuối năm 1961, trận đánh đồn Phò Nam đã đi vào kí ức tôi như một mốc son không bao giờ phai. Trận đánh này không chỉ thể hiện sự quả cảm của người lính đặc công mà còn đọng lại trong lòng những cán bộ, chiến sĩ tham dự tinh thần lập công tập thể của người chiến sĩ cách mạng, một đặc điểm tiêu biểu của “Bộ đội Cụ Hồ” mà quân đội các nước khác không dễ gì có được.
Đồn Phò Nam nằm trên trục đường từ dãy Bạch Mã ra Huế, song song với dòng sông Cu Đê chảy từ thượng nguồn uốn lượn qua Nam Yên, Phò Nam, Trường Định, Thủy Tú, xuôi về Nam Ô và đổ ra biển. Từ trên cao trông xuống, dòng Cu Đê như một dải Ngân Hà sáng lấp lánh. Mỗi lần đi công tác qua đây, tôi đều cố gắng dừng chân đứng trên đỉnh Ba Viên nhìn xuống. Dòng Cu Đê lượn quanh Phò Nam theo hình bán nguyệt, cây xanh nghiêng mình soi bóng tạo nên một bức tranh thủy mặc đẹp vô ngần. Đối với Phò Nam, sông Cu Đê như người mẹ tần tảo ngày đêm chở nặng phù sa bồi đắp ven bờ. Mặc dù bom đạn chiến tranh dội khắp hai miền Nam, Bắc, nhưng mảnh đất Phò Nam vẫn xanh tươi với lúa, khoai, sắn, bắp, hoa màu, vườn cây trĩu trái. Không riêng người Phò Nam, các thôn Nam Yên, Trường Định cũng được hưởng lộc của thiên nhiên ban tặng. Cứ mỗi lần dừng chân trên đất quê hương, thả hồn theo dòng sông Cu Đê, tôi như thoát khỏi không khí của chiến tranh, tâm hồn không còn vướng nỗi đau trần thế. Dòng sông chảy mê mải, lòng người trôi vô định. Nhưng thực tế chiến tranh đã không cho tôi có thời gian nghĩ vẩn vơ. Tôi đi. Đồng chí, đồng đội của tôi cũng đi. Chúng tôi phải đi cho đến ngày toàn thắng.
Chắc hẳn Phò Nam, Nam Yên, Trường Định sẽ còn trù phú hơn, nên thơ hơn nữa nếu như không có gót giày của bọn đế quốc xâm lược, cùng bọn tay sai bán nước dày xéo trên mảnh đất này. Chúng vơ vét, đọa đày bóc lột, đánh đập, bắt bớ, tù đày, giết hại những người dân vô tội, quanh năm chỉ biết vui thú với điền viên. Những ngày ấy, câu hò, giọng hát đò đưa trên sông xuôi ngược đâu còn nữa.
Mít non gửi xuống, cá chuồn gửi lên”.
Thi thoảng có người tiếc nuối, hay ước mong quê hương; đất nước sớm sạch bóng loài lang sói đã cất lên câu ca trên nghe lẻ loi, ai oán. Trước đây, khi đặt chân lên đây, thực dân Pháp đã biến nơi này thành đồng không, nhà trống. Chúng đã đẩy nhân dân ta vào cảnh màn trời chiếu đất, cực khổ khốn cùng. Nạn đói, ốm đau bệnh tật, chết chóc,v.v. đua nhau tàn phá cái xóm làng yên bình như bức tranh thủy mặc. “Con giun xéo mãi cũng oằn”, lời cha ông nói không có sai. Trước sự tàn bạo của kẻ thù, quân và dân nơi đây đã đứng lên để “đòi cái công lý” mà khi thực dân Pháp mang danh nhà nước bảo hộ từng rêu rao. Một cái kết dành cho mọi kẻ xâm lược trên thế giới đã được định đoạt, âu cũng là cái giá phải trả cho những gì chúng đã gây ra. Phò Nam, Quan Nam trở thành mồ chôn giặc Pháp, cảm phục trước chiến công của những con người chân đất áo vải trên quê hương, tôi đã viết nên mấy dòng thơ đầy cảm kích vừa thể hiện tình cảm của mình, nhưng cũng là lời cảnh báo cho những kẻ đang tâm giày xéo lên hạnh phúc của con người:
Nhiều tên lính Pháp có đi không về
Thực dân Pháp rút đi, đế quốc Mỹ nhảy vào tiếp tục dựng lên bộ máy chính quyền bù nhìn tay sai. Bọn tay sai bán nước hại dân đã quên đi đạo lý của dân tộc. Thể hiện lòng trung thành với ông chủ Mỹ, chúng tiến hành dồn dân lập ấp, tuyên truyền rùm beng cái gọi là tự do quốc gia, quốc sách ấp chiến lược, ấp tân sinh, khu trù mật. Âm mưu của chúng lộ rõ là nhằm ngăn chặn phong trào cách mạng trên đà phát triển mạnh mẽ của ba huyện miền núi: Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang. Lúc đó, các huyện này đã được giải phóng. Bị thất bại nặng nề trong chiến lược “chiến tranh đơn phương”, để tiếp tục hình thức chiến tranh mới, Mỹ - ngụy đã đẩy quân ra chốt chặn nhiều nơi từ đèo Mũi Trâu nằm ở phía tây nam huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế, theo dọc đường Bạch Mã vào Nam Yên, Phò Nam, Quan Nam, gò Ông Tự, Tùng Sơn, An Ngãi. Đèo Ông Gấm, Cao Sơn, An Lợi... thành vành đai phòng thủ vững chắc tại phía tây và tây bắc Hòa Vang, đây cũng là tuyến phòng thủ từ xa của thành phố Đà Nẵng. Để chia cắt sự liên hệ của nhân dân đối với bộ đội và các lực lượng cách mạng, địch tổ chức dồn dân vào khu tập trung, lập ấp người Phò Nam, Nam Yên, Trường Định, Quan Nam. Tình thế cách mạng vì thế trở nên khó khăn, nhân dân như “cá chậu, chim lồng”, không dễ dàng tiếp tế cho anh em chúng tôi gạo thóc, thuốc men như trước. Cũng trong thời gian này, Ngô Đình Diệm đẻ ra cái quái thai “Luật 10/59” để siết chặt cổ người dân, dìm phong trào cách mạng trên lưỡi lê, máy chém. Hoàn cảnh của quân và dân đã ngặt nghèo càng ngặt nghèo hơn.
Về phía ta, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đơn vị H29 đặc công, đứa con đầu lòng của lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng ra đời và trưởng thành, đã lập nhiều chiến công vang dội như chiến thắng Hiệp Đức, Bót Xít, đồn Rô, Ga Lâu... làm nức lòng đồng bào dân tộc miền núi. Chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của cấp trên, đẩy mạnh diệt ác phá kềm, hỗ trợ nhân dân nổi dậy chống dồn dân, mở rộng vùng giải phóng đến nông thôn, đồng bằng, đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ tiêu diệt địch ở đồn Phò Nam. Đây là một đồn có vị trí quan trọng về chiến lược quân sự, nó khống chế một vùng rộng lớn phía tây bắc Hòa Vang.
Lãnh đạo, chỉ huy Đơn vị H29 lúc bấy giờ là các anh Phan Hồng Dâng, Hồ Sỹ Tỵ, Lê Tung, Nguyễn Thanh Thủy. Trước khi thực hành tiêu diệt cứ điểm Phò Nam, H29 được phối thuộc một trung đội trinh sát và quân báo do tôi chỉ huy và một trung đội bộ binh thuộc Đơn vị H30, do anh Đỗ Châu Sa phụ trách. Tham gia trận đánh, về phía chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng có anh Trần Tốc, Chính trị viên, và anh Đặng Đình Vân cùng đi lãnh đạo, chỉ đạo.
Tôi 25 tháng 11 năm 1961, đơn vị chúng tôi làm lễ xuất quân từ thượng nguồn sông Voi, là một nhánh của sông A Vương, đi về hướng bắc huyện Hòa Vang. Dọc đường, chúng tôi hành quân đến đâu cũng được đồng bào dân tộc K’tu dẫn đường, ủng hộ lương thực mang theo, mặc dù lúc ấy đời sống của đồng bào còn khó khăn, thiếu thốn đủ thứ như “thiếu cơm hụt muối”. Trong giai đoạn Mỹ - Diệm kìm kẹp, dùng những thủ đoạn xảo quyệt mị dân, mua chuộc, dụ dỗ,... nhưng đồng bào vẫn một lòng một dạ theo Đảng, Bác Hồ, không ai theo giặc làm tay sai cho chúng. Nhiều câu chuyện xúc động về đồng bào K’tu đã làm không ít người rơi nước mắt cảm động. Những ai từng sống trong những ngày đói khổ, địch càn quét liên miên thì làm sao có thể quên được câu chuyện người K’tu còn nghèo, còn khổ, thiếu thốn quần áo, phải đóng khố, phát rừng làm rẫy, nhưng thu hoạch lúa rẫy mỗi năm một hộ được 50 gùi thì ủng hộ cách mạng 30 gùi. Bữa ăn hằng ngày của đồng bào là sắn, bắp, rau rừng, còn gạo để dành nuôi bộ đội đánh Mỹ - ngụy. Tình thương vô bờ bến của đồng bào K’tu dành cho bộ đội được đúc kết một cách thật giản dị, chân thành qua câu nói: “Mình thương hắn như thương con đẻ của mình”. Trên đường hành quân, nghe những câu chuyện như vậy tôi thấy ấm lòng biết bao. Dù chiến tranh tàn khốc đến đâu, điều kiện chiến đấu ác liệt như thế nào, nếu được đồng bào chở che, nuôi dưỡng thì bất chấp thủ đoạn nào của giặc, chúng tôi luôn là người chiến thắng.
Sau ba ngày hành quân băng rừng, lội suối, chúng tôi đã hành quân từ Đông Giang ra Giàn Bí, Dốc Quạt và về đến Ba Viên vào ngày 28 tháng 11 năm 1961. Trên cương vị Đội trưởng Quân báo trinh sát đặc công của tỉnh đội Quảng Nam Đà Nẵng, tôi được phân công đi liên hệ với địa phương, các cơ sở mật để nắm lại tình hình. Đoàn công tác tiền trạm gồm có tôi, Phan Hồng Dâng và Nguyễn Thanh Thủy là Chính trị viên phó Đại đội 29. Chúng tôi đã gặp anh Ba Thế - Bí thư Huyện ủy Hòa Vang, anh Hùng - Phó Bí thư đứng cánh bắc Hòa Vang, chị Hai Cưu (tức Phạm Thị Cưu) và anh Hoàng. Những người lính đặc công một thời sát cảnh cùng Huyện ủy Hòa Vang đi công tác phong trào nay được gặp lại các anh, chị, ai cũng mừng mừng tủi tủi. Mọi người ân cần đón tiếp anh êm tôi như những đứa em đi xa mới về. Chúng tôi tiếp tục được các anh, các chị cung cấp thêm thông tin về tình hình địch từ cơ sở và nhân dân địa phương báo về như: quân số, chỉ huy, vũ khí và hệ thống phòng thủ của địch. Trên cơ sở đó, kết hợp với kết quả trinh sát thực địa, các đồng chí chỉ huy trận đánh đã kịp thời bổ sung vào phương án chiến đấu để đảm bảo chắc thắng”.
Bên lề cuộc vui hội ngộ, trao đổi tình hình nhiệm vụ, anh Ba Thế không quên hỏi thăm cuộc sống riêng của gia đình tôi, hỏi về tình cảm của tôi và cô du kích Trần Thị Bán, người con gái được anh xe duyên. Chuyện tình của tôi được bắt đầu từ khi Thành ủy Đà Nẵng phân công tổ trinh sát đặc công đi công tác phong trào cùng Huyện ủy Hòa Vang, do anh Ba Thế, Huyện ủy viên, phụ trách. Nhiệm vụ của chúng tôi là xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng trung du và vùng ven đô thị để nắm địch phục vụ chiến đấu, phá ấp chiến lược, diệt ác phá kìm, giành dân giữ đất. Một hôm, tôi cùng các đồng chí trong đơn vị đi công tác xuống đồng bằng. Cán bộ địa phương đã bố trí du kích dẫn đường và đảm bảo cơm ăn, nước uống. Ban đêm, chúng tôi được bố trí nghỉ lại chiến khu Lỗ Trào, Đá Hang. Sáng hôm sau, vào khoảng 10 giờ, có một đoàn người cơ sở gánh gồng gạo, mắm đem lên. Đoàn cán bộ đi công tác phong trào vô cùng cảm ơn tình cảm của nhân dân và tổ chức tiếp đón nồng nhiệt. Tôi bất ngờ phát hiện trong đoàn có cô du kích Trần Thị Bán, là người dẫn đường cho chúng tôi đêm hôm trước. Từ đó, tôi và Bán trở nên thân thiết. Nhiều lần cùng xẻ núi luồn rừng đi xây dựng cơ sở, tôi tâm sự với em những trầm luân của cuộc đời mình đã trải qua. Bán cũng không ngại ngần khi kể cho tôi nghe về cuộc sống riêng tư. Những câu chuyện như vậy đã làm cho đường đi của chúng tôi bớt đi phần khó nhọc, nói cách khác là làm dịu đi sức nóng của cuộc chiến. Đồng thời, tôi cũng có cảm giác mơ hồ một thứ tình cảm đặc biệt dành cho em đang len lỏi trong trái tim. Vì thế, dù biết rằng đi xuống đồng bằng không may gặp địch là có thể hy sinh, tù đày.v.v., nhưng tôi vẫn mong thường xuyên có nhiều chuyến đi để được gần gũi “cô du kích nhỏ”. Có lẽ Bán cũng có tâm trạng giống tôi nên mỗi lần đi bên nhau tôi thấy em rất vui. Không biết do anh em đồn đại hay trực tiếp tìm hiểu mà anh Ba Thế biết chuyện tôi và Bán có ý quyến luyến nhau. Anh đã nhiều lần chủ động tâm sự với tôi: “Cuộc kháng chiến còn dài. Nếu cậu đồng ý xây dựng với cô Bán thì tôi rút lên cho đi bộ đội”. Lúc đầu, tôi cũng còn e ngại vì mình dẫu gì cũng đã một đời vợ. Sau đó, tôi về ngẫm nghĩ: “Chiến tranh đã khiến tôi biệt ly người vợ thứ nhất. Không lẽ cũng chiến tranh đem đến cho tôi người kế tiếp?”. Tôi thăm dò tình cảm của Bán. Dường như anh Ba Thế đã nói hết với cô ấy nên em đã nhận lời cầu hôn của tôi nhanh chóng. Được sự đồng ý của tổ chức và hai bên gia đình, chúng tôi quyết định tổ chức kết hôn. Hôm vợ chồng tôi làm đám cưới, không quà tặng, không rước dâu, không ồn ào nghi lễ. Trên chiếc bàn dài của đơn vị, chỉ có bình nước trà, bao thuốc lá và gói kẹo. Số người tham dự, chứng kiến hạnh phúc lứa đôi của chúng tôi cũng ít ỏi. Tính đại diện cả hai cơ quan đơn vị vừa đúng 7 người. Nhưng không vì thế mà đám cưới bớt đi phần vui vẻ, đầm ấm và hạnh phúc. Vợ chồng tôi say mê trong lời chúc mừng của anh em, đồng chí đồng đội. Mọi người đều tin rằng, chiến tranh dù ác liệt đến đâu cũng không thể tiêu diệt được mầm hạnh phúc. Tôi và Bán hứa với anh em bầu bạn khi đất nước thống nhất sẽ tổ chức cưới lại cho bõ những ngày gian lao. Bây giờ được “ông mai” quan tâm, tôi vui vẻ báo cáo về những tháng ngày hạnh phúc vừa qua. Anh Ba Thế cười lớn: “Ông tơ này cũng biết xe chỉ đấy chứ”. Mọi người nghe vậy cũng cười vui làm vơi bớt vẻ căng thẳng trước khi bước vào trận đánh đồn Phò Nam.
Khoảng 17 giờ hôm ấy, bộ đội ta bắt đầu thực hành tiếp cận mục tiêu. Đến vị trí tạm dừng cách đồn địch chừng 500 mét, chúng tôi đứng trên đồi cao quan sát. Bao nhiêu lô cốt lù lù của địch đều lộ ra, đập vào mắt cán bộ, chiến sĩ rõ mồn một. Lúc đó, có hai toán quân từ hướng cầu Sụp lần lượt kéo về đồn. Như mọi trận đánh trước, công tác chuẩn bị chiến trường được chỉ huy đơn vị tổ chức chặt chẽ, nhất là công tác điều tra. Quá trình điều tra đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí Đặng Đình Vân và Trần Tốc. Tôi cùng với đồng chí Dâng, đồng chí Thủy thực hành đột nhập vào hướng đông nam nắm tình hình địch. Khó khăn ở hướng này là đồn đóng gần núi, nằm trên trục đường Bạch Mã Đà Nẵng - Huế, Đà Nẵng và Tây Nguyên, đây cũng là hướng trên núi xuống nên địch hay để ý. Đêm đầu, chúng tôi vào hết bốn lớp rào đến chiến hào an toàn, sau đó lùi ra. Hôm đó, đồng chí Tốc, đồng chí Vân đi cùng, nhưng nằm ở ngoài hàng rào. Chúng tôi bò ra báo cáo với các đồng chí đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngày hôm sau, tổ điều tra trở về vị trí tạm trú để vẽ sơ đồ. Đêm thứ hai, chúng tôi cũng vào đến vị trí đêm đầu để so sánh đối chiếu sơ đồ với thực địa và đến đêm thứ ba thì kiểm tra lần cuối xem địch có thay đổi gì không. Vì thế, khi đơn vị hành quân chiến đấu, dựa trên kết quả điều tra và thông báo của các anh cán bộ địa phương, chúng tôi được biết lực lượng địch nơi đây gồm một đại đội lính bảo an do tên thiếu úy Nguyễn Thông K chỉ huy. Vũ khí trang bị gồm có 5 trung liên và còn lại là ga-răng, các-bin, súng trường, lựu đạn, một máy PRC10. Thực chất, đồn Phò Nam có từ thời chống Pháp; đến thời Mỹ - Diệm, chúng xây thành đắp lũy kiên cố hơn, nằm trên trục đường Bạch Mã, một con đường quân sự chiến lược được nối từ nam Khe Tre ở phía tây huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế, kéo qua sông Bắc, sông Nam, Phò Nam, Quan Nam, ngã ba Tùng Sơn An Ngãi rồi chạy xuống thành phố Đà Nẵng. Năm 1961, khi làm xong con đường này, Ngô Đình Diệm đi kinh lý cắt băng khánh thành. Bọn quan chức địa phương đã bắt nhân dân đứng hai bên đường cầm cờ ba que hô vang: “Tống thống Việt Nam cộng hòa muôn năm”, có cả may bay, xe tăng, binh lính hộ tống từ Thừa Thiên - Huế vào Đà Nẵng.
Sau khi quan sát kỹ địa thế, tình hình bố phòng của địch, ban chỉ huy kịp thời bổ sung và nhắc lại phương án hiệp đồng chiến đấu, hạ quyết tâm “đánh chắc, thắng chắc”, thống nhất khẩu lệnh, tín hiệu, các hướng xác định, vị trí từng mũi, theo giờ G nổ súng.
Mũi 1: các anh Lê Tân Viễn và Nguyễn Thanh Thủy trực tiếp chỉ huy đánh vào 2 lô cốt phía tây và hai nhà lính.
Mũi 2: Anh Phan Hồng Dâng và tôi trực tiếp chỉ huy đánh vào 2 lô cốt, các nhà lính phía đông và nhà chỉ huy.
Mũi 3: gồm các anh Tiến Râu, Thanh Ngọc, Lâm Liêm và Hồng đánh vào lô cốt dộc lập phía bắc đường Bạch Mã. Anh Trần Tốc, Đặng Đình Vân trực tiếp chỉ huy đi cùng.
Chỉ huy các bộ phận nhanh chóng về triển khai cho lực lượng của mình. Lúc này, những chiếc kim đồng hồ như nặng nề hơn, nhích chậm chạp từng tí một. Là người chỉ huy từng kinh qua trận mạc, tôi không nôn nóng nhưng cũng không tránh khỏi sự hồi hộp. Chỉ sau mấy tiếng đồng hồ nữa, đồn Phò Nam như cái gai trong mắt của bộ đội, nhân dân nơi đây sẽ bị chúng tôi nhổ đi. Nhưng cũng chỉ mấy tiếng đồng hồ nữa thôi, trong số đồng đội của tôi liệu có ai nằm xuống hòa vào lòng đất mẹ để đất nước sớm bình yên.
Thời gian chờ đợi cũng qua đi. Đúng 23 giờ, chúng tôi bắt đầu tiềm nhập, tiếp cận chuẩn bị cắt hàng rào, rà mìn để lót đội hình. Theo phương án chiến đấu, tôi được giao nhiệm vụ chỉ huy bộ phận của mình đánh vào lô cốt phía nam và nhà lính. Khi các mũi đang thuận lợi phát triển đội hình thì bất ngờ gặp lính địch đi tuần có dẫn chó theo. Con chó đánh hơi, sủa ăng ẳng. Trước tình huống oái oăm đó, anh em đành phải lùi ra ngoài hàng rào chừng 20 mét nằm chờ. Trong đồn, địch sinh nghi đã bắn pháo sáng báo động. Bọn lính từ trong các nhà bạt chạy ra ngoài hào chiến đấu và bắn hú họa về hướng chó sủa. Đến 0 giờ, địch vẫn không thấy động tĩnh gì, chúng cho rằng chó sủa là cọp, beo hay heo rừng đi kiếm ăn. Vì đồn này nằm sát chân núi lớn, toàn cây cối rậm rạp và lau lách là nơi trú ngụ của nhiều loài chim, thú. Bầu không khí căng thẳng bỗng chốc bao trùm lên trận địa. Địch thì cố căng mắt nhìn vào bóng đêm, ta thì kiên trì mai phục. Sự giằng co của hai bên là cơ hội tốt nhất để bầy muỗi rừng kiếm ăn. Chúng tha hồ bay vo ve và đậu bất cứ chỗ nào phát hiện có mùi máu. Chúng tôi vẫn nằm im lìm, mắt căng ra theo dõi động tĩnh của địch. Nhiều tên lính đã bắt đầu có biểu hiện ngứa ngáy, có tên còn làu bàu cái gì đó. Tôi đoán chắc chúng đang trách bọn chỉ huy thần hồn nát thần tính, bắt lính ra canh thú rừng. Khoảng 1 giờ ngày 28 tháng 11, bọn lính ở ngoài hào chiến đấu lục tục kéo nhau vào nhà bạt ngủ để tránh muỗi đốt. Chớp thời cơ, chỉ huy trận đánh và các mũi chớp nhoáng hội ý nhận định: “Ta thực hiện phương án hai lúc này có nhiều yếu tố bất ngờ. Vì địch sơ hở, chủ quan. Chúng bị mất ngủ, mệt mỏi và cho rằng khu vực này là an toàn, quân giải phóng không dám tấn công nữa”. Đây là thời cơ và điều kiện thuận lợi để ta hạ quyết tâm tiêu diệt địch. Sau đó, các mũi tiếp tục cắt rào, bí mật cơ động vào đồn địch. Hết lớp rào thứ hai, chúng tôi nhảy xuống hào áp sát gần các lô cốt, nằm ép mình để che khuất quầng sáng của pháo sáng do địch bắn lên khi đi tuần. 1 giờ 30 phút, toàn trận địa vẫn tĩnh lặng như tờ. Lũ muỗi rừng cũng hết kiên nhẫn để bám theo các chiến sĩ quân giải phóng đang chờ thời cơ để tiêu diệt quân thù. Ở mũi phía tây, do đồng chí Tấn Viễn chỉ huy, đã ra lệnh cho tổ trưởng Nhỏ dùng quả thủ pháo nặng một cân thuốc nổ vọt lên khỏi hào và lao về phía lô cốt địch, đồng thời giật nụ xòe đút nhanh vào lỗ châu mai. Ngay lập tức một chớp lửa xanh lè và tiếng nổ long trời lở đất vang lên làm rung chuyển không gian yên tĩnh của núi rừng. Đây là lô cốt đầu tiên của địch bị tiêu diệt, cũng là hiệu lệnh để các tiếng nổ dữ dội khác tiếp tục chôn vùi lực lượng địch ở các lô cốt phía đông, phía bắc trong đống bê tông đổ nát. Nghe tiếng nổ, tôi ra lệnh cho tổ viên của mình nhảy lên đánh chiếm lô cốt bằng cách ném thủ pháo, lựu đạn vào lỗ châu mai, sau đó phát triển chiến đấu đến các nhà lính. Bị đánh bất ngờ lại đang trong trạng thái mỏi mệt nên địch nhanh chóng bị thất thủ. Trong khi tảo trừ bọn sống sót, tôi bắt được 3 tên lính bị thương nhưng giả chết, hai tay vẫn ôm khư khư hai quả lựu đạn liền thu lựu đạn và bắt chúng đứng dậy dồn ra sân đồn giao cho anh em quản lý. Tôi quay lại nhà bếp, bắt gặp tên lính nấu cơm ôm khẩu súng ngồi trên bếp run cầm cập. Biết nó đang hoảng sợ, tôi hô đứng dậy, thu khẩu súng và hỏi:
- Mày làm gì mà núp ở đây?
- Dạ! Em là người nấu bếp, sợ quá nên núp vào đây. Tên lính trả lời.
Tôi tước luôn khẩu súng, trói lại, đồng thời dồn tên lính vào trước sân đồn. Theo thông báo của chỉ huy trận đánh, sau gần mười phút chiến đấu, thế trận hoàn toàn thuộc về ta, quân địch trong đồn phần lớn đã bị tiêu diệt. Biết địch không còn khả năng kháng cự, chúng tôi bắc loa tay gọi hàng: “Đầu hàng thì sống, chống cự thì chết”. Lúc ấy, trước mắt chúng tôi, quân địch chết và bị thương nằm la liệt. Không nghe tiếng địch chống cự, bộ đội ta ngừng nổ súng. Từ trong các góc, hầm trú ẩn, nhiều tên lính đưa hai tay lên cao, buông vũ khí xin đầu hàng. Trước khi vào trận, đơn vị chưa dự kiến hết tình huống thắng lợi giòn giã như vậy nên không chuẩn bị đủ dây trói, đành phải trói hai tên làm một. Hai mũi tiến công phát tín hiệu, khẩu lệnh gặp nhau giữa sân đồn. Trong lòng chúng tôi ngập tràn cảm giác sung sướng của người chiến thắng. Kết quả trận đánh, quân ta chỉ có một đồng chí bị thương. Chiến thắng trên càng làm cho anh em chúng tôi vui mừng hả dạ. Riêng mũi 3 đánh lô cốt độc lập ra phía bắc, cũng diệt gọn lô cốt và thu toàn bộ vũ khí, trong đó có một khẩu trung liên.
Thế là chỉ gần một giờ chiến đấu, đồn Phò Nam bị quân ta xóa sổ. Chúng tôi bắt tù binh, thu vũ khí, quân trang quân dụng, đạn dược, thuốc men.v.v. và thực hành lui quân. Trong số chiến lợi phẩm có 5 khẩu súng trung liên, còn lại là tôm-xông, các-bin, ca-rân, súng trường và một máy PRC10. Số địch bị bắt làm tù binh lên tới 15 tên, trong đó có thiếu úy Nguyễn Thông K bị thương gãy chân. Bộ đội tổ chức băng bó cho đồng chí thương binh của mình và cả số lính địch bị thương. Cán bộ ta tuyên truyền, giáo dục và phóng thích tại chỗ 14 tù binh. Trong khi đó, Trung đội bộ binh H30, do anh Đỗ Châu Sa chỉ huy, được lệnh phối hợp chiến đấu, đã tổ chức phục kích quân địch tiếp viện trên đường Bạch Mã, khi chúng từ đồn Quan Nam sang ứng cứu. Song địch đã đi hướng khác nên ta đành phải lui quân.
Khoảng 5 giờ sáng, sau khi thu dọn toàn bộ chiến trường, đơn vị tổ chức lui quân. Chúng tôi dẫn một tên lính bị bắt về trại địch vận là trung sĩ Vũ N, là dân miền Bắc di cư vào miền Nam năm 1954. N tỏ ra biết có tội với cách mạng và nhân dân. N ra vẻ ăn năn hối cải, như muốn làm một việc gì đó để chuộc tội. Vì thế, dù tay bị trói, nhưng anh ta vẫn xin mang giúp chiến lợi phẩm. Thấy thế, chúng tôi đã nói đùa với nhau tên tù binh này ngoan ngoãn. Sau 3 tháng học tập, cải tạo tại trại, ta phóng thích số tù binh về lại đồng bằng, nhưng N đã xin ở lại theo cách mạng, làm bất cứ việc gì cách mạng giao cho. Tôi cũng đã có dịp gặp lại anh ấy vào dịp cuối năm 1962, khi chúng tôi đi giữ lúa ở làng Lừng của đồng bào K’tu. Tôi giật mình hỏi ra mới biết N phụ trách tiểu đội sản xuất, chuyên phát rừng làm rẫy và đi gùi hàng cho cơ quan sản xuất của tỉnh.
Sau trận đánh đồn Phò Nam của bộ đội đặc công, bọn dân vệ ở các thôn ấp: Nam Yên, Phò Nam, Trường Định, Thủy Tú và Quan Nam đã khiếp sợ bỏ súng về nhà. Số khác bỏ nhà vào thành phố lao động kiếm sống vì họ tin chắc cách mạng sẽ thắng lợi. Thông tin về chiến thắng Phò Nam đã được nhân dân truyền miệng lan nhanh từ miền núi đến đồng bằng, đi vào thành thị. Tài xuất quỷ nhập thần của bộ đội ta đã khiến địch ở các nơi hoang mang dao động mạnh, thậm chí một số nơi khác còn co cụm về đồng bằng. Sự khát khao, mong mỏi, chờ đợi của người dân huyện Hòa Vang bấy lâu nay được khơi dậy. Ta có chủ trương đánh địch bằng 3 hình thức phối hợp là quân sự, chính trị và binh vận đã làm cho địch mỗi ngày một suy yếu và tan rã. Từ đó, các đội vũ trang tuyên truyền của huyện Hòa Vang hỗ trợ cùng với nhân dân đứng lên phá ấp trở về làng cũ làm ăn, xây dựng làng chiến đấu và chính quyền cách mạng. Lúc này, ban tự quản ở các thôn ấp tiến hành xây dựng lực lượng du kích chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
Chúng tôi sau một tuần chiến đấu, trở về căn cứ, đơn vị tổ chức sinh hoạt bình công, mừng chiến thắng và rút kinh nghiệm trong chiến đấu, phối hợp tác chiến. Dẫu có người được phát biểu ý kiến, có người không, nhưng trong lòng mỗi chúng tôi đều chung ý nghĩ thầm cảm ơn những người cha, người mẹ, người anh, người chị dân tộc K’tu đã tuy bao đời chịu đựng gian khổ, nhưng rất giàu lòng nhiệt tình cách mạng. Đặc biệt là đồng bào ở ba thôn Giàn Bí, Lồ Ô và Tà Lang. Đây là những thôn nằm dọc theo đường Bạch Mã (nay là xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng). Sau này khi hòa bình lập lại, xã Hòa Bắc đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Bây giờ, mỗi khi nhớ lại hay gặp lại đồng đội năm xưa tay bắt, mặt mừng, tôi lại trào lên cảm giác trân trọng những con người đã một thời hiến trọn tuổi thanh xuân cho cuộc trường chinh của đất nước, với sức chịu đựng bền chặt mà nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Hai mươi năm không đêm nào ngủ được” hay: “Vạn ngày có buổi nào yên/Cá ăn phải máu, chim quên lối về”. Với những dòng hồi ký muộn màng, tôi xin được thay nén hương để tưởng nhớ tới các anh: Đào Ngọc Chua, Ba Thế, Đặng Đình Vân và bao đồng bào, đồng chí đã nằm yên trên đất mẹ Hòa Vang anh dũng. Sự hy sinh cao cả của các anh đã để lại cho chúng tôi và thế hệ mai sau tiếp bước xây dựng quê hương giàu đẹp. Tổ quốc muôn đời sẽ không bao giờ quên công ơn của các anh. Tôi tự nhủ nếu mình còn sống để đi hết cuộc chiến thì sẽ làm một cái gì đó để góp phần giáo dục cho thế hệ sau hiểu được những gì thế hệ chúng tôi đã cống hiến cho đất nước và tôi đã bắt đầu viết lại những gì mình đã làm, được chứng kiến ngay sau khi kết thúc chiến tranh. Có lẽ mong ước ấy sẽ trở thành hiện thực khi những trang viết này đến tay bạn đọc.
Trở lại những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, năm 1961, tôi được triệu tập về tham gia thành lập đội tình báo, dưới sự chỉ đạo của Thành ủy Đà Nẵng. Nhiệm vụ chủ yếu của Đội là theo dõi nắm địch, xây dựng cơ sở nội thành, xây dựng lực lượng giao liên biệt động thành và du kích mật và nắm tình hình địch phục vụ chiến đấu. Trong chiến tranh, người lính có thể gặp nhiều tình huống bất ngờ như đụng địch phục kích, cơ sở bị lộ, gặp thú dữ,v.v, nếu sơ suất hoặc không nhanh trí thì khả năng tổn thất là khó tránh khỏi. Đối với tôi, đụng địch là chuyện bình thường, nhưng hai lần chạm trán chúa sơn lâm đã trở thành những kỷ niệm khó phai. Lần thứ nhất xảy ra trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp, tôi đã kể ở trên. Còn lần thứ hai tôi lại gặp hổ trong dịp đi mua lương thực. Đó là một ngày trung tuần tháng 8 năm 1962, tôi lúc ấy là Trung đội trưởng đang cùng với các chiến sĩ trinh sát đặc công gồm Hồng Râu, Lâm, Thư và Vấn đi công tác đồng bằng mua lương thực. Hoàng hôn buông xuống, đường về khó khăn hiểm trở. Mỗi người gùi 3 ang gạo, đồ dùng cá nhân và súng đạn, tổng trọng lượng khoảng 35 đến 40 cân. Từ chân dốc lên đến đỉnh phải đi mất bốn tiếng đồng hồ, chúng tôi động viên nhau cố gắng đi lên trước khi trời tối, vì con đường này thỉnh thoảng có biệt kích hay đi tìm dấu vết cộng sản. Lúc này, tôi đi sau đội hình khoảng từ 15 đến 20 mét. Bất ngờ, từ bên vách ta luy núi, một con cọp vằn vện to như con ngựa xuất hiện. Nó đứng cách tôi khoảng hai mét. Cọp gầm lên một tiếng như xé trời đêm, âm thanh rung chuyển cả núi rừng. Vừa ngẩng đầu lên, không kịp suy nghĩ, tôi nhanh chóng bật khóa an toàn khẩu súng AK treo trước ngực và chĩa nòng súng vào họng cọp siết cò. Loạt đạn tiểu liên đã kết liễu đời con ác thú. Bây giờ, mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn có cảm giác ớn lạnh khi đối diện với chúa sơn lâm.
Tôi tham gia lực lượng tình báo từ năm 1961 đến hết năm 1963. Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian này, địch tập trung đánh phá ác liệt phong trào cách mạng của quân và dân ta. Quân đội Mỹ - ngụy tăng cường đóng đồn bốt dày đặc, tổ chức khủng bố nhân dân, bao vây cấm vận thường xuyên, nhất là các làng thuộc vùng ven đô. Tôi cùng các đồng chí Đặng Ngọc Phương, Võ Thanh Hùng (Phó Bí thư Quận Nhì) bí mật nhận nhiệm vụ cấp trên giao vào thành phố xây dựng cơ sở cách mạng, nắm địch, diệt ác phá kềm, xây dựng lực lượng chính trị trong dân và xây dựng các chi bộ Đảng ở cơ sở. Khi vào đứng chân ở những khu phố có mật độ địch đóng quân dày đặc như Thanh Khê 6, Thanh Lộc Đán, Xuân Hà và Tam Thuận. Để nắm được tình hình, ta phải đột nhập vào tận doanh trại của chúng. Nhưng quân địch đông, thỉnh thoảng bị biệt động thành, bộ đội đặc công “choảng” cho một trận nên chúng rất cảnh giác. Vì thế, chúng tôi phải cải trang khi thì làm lính ngụy, lúc lại là thanh niên làm nghề đánh cá biển. Vào một buổi chiều, bọn lính đồn Thanh Khê tổ chức thi đấu bóng chuyền. Tôi nhận thấy đây là cơ hội tốt để mình trà trộn vào điều tra. Bản thân vốn là một cầu thủ nên tôi lẫn lộn vào đánh mà không ai có thể phát hiện được. Tôi đứng ở vị trí cầu chuyền 2, nêu cho tên lính đập. Những quả chơi bóng cao tay của tôi được tung lên như đặt vào tay cầu công. Mọi người đứng xem vỗ tay nhiệt liệt. Bên có tôi tham gia đã thắng liền 3 hiệp. Lúc nghỉ giải lao, biết nếu ở thêm có thể bị lộ nên tôi lặng lẽ rút êm. Bọn chúng không hề hay biết. Tôi vừa về đến nhà cơ sở, đồng chí Phương đồng chí Hùng vỗ vai tôi khen ngợi:
- Khen cho ông Ngôn không bao giờ sợ địch.
- Nếu sợ địch thi linh đặc công không bao giờ đánh được địch. Tôi pha trò.
Tối hôm đó, chúng tôi tiếp tục theo cơ sở địa phương dẫn đường đi điều tra mâm hội đồng quán cơm ngụy và trung đội địa phương quân đóng ở đồn Phú Lộc.
Một thời gian sau, Thành đội Đà Nẵng rút tôi về xây dựng một trung đội trinh sát đặc công với đội công tác bảo vệ thành ủy, có địa bàn hoạt động ở cánh trung và cánh bắc Quận Nhì. Chúng tôi trực tiếp xây dựng cơ sở đặc công, biệt động thành, tham gia đánh tề, diệt ác ôn, đào hầm bí mật ở vùng ven và đô thị.v.v. Năm 1965 đối với tôi có khá nhiều kỷ niệm về công việc cũng như chuyện gia đình. Trong đó, ngày 16 tháng 3, vợ tôi sinh đứa con gái đầu lòng tại thôn Nam Yên, nơi được mệnh danh là chiếc nôi cách mạng. Khi con mở mắt chào đời, tai nghe bom nổ giật mình đã khóc ré lên hoảng hốt. Trong thời gian này, lính Mỹ đi càn quét liên tục. Vì thế, tôi phải nhờ đồng đội đưa vợ con lên vùng dân tộc K’tu ở thôn Tà Lang, Giàn Bí tạm trú một thời gian. Nhờ có sự cưu mang, giúp đỡ của bà con dân tộc, mẹ con cô ấy vẫn bình yên. Về sau bom đạn ác liệt quá, tôi lại chuyển vợ con vào vùng B Đại Lộc để tiếp tục đi công tác. Khi con gái chưa tròn một tuổi, vợ chồng tôi đã gửi về cho ông bà nội nuôi dưỡng. Vợ tôi trở lại với công việc của người lính quân y. Cũng trong năm 1965, một lần lính Mỹ đi càn quét bắt nhân dân đưa vào ấp chiến lược để thanh lọc, vợ tôi đã bị chúng giam ở nhà lao Hội An.
Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phải có một tiểu đoàn hậu cứ (của Thành đội Đà Nẵng) để làm nhiệm vụ chuyên trách đánh sân bay, bến cảng, kho hàng, cơ quan đầu não, trận địa tên lửa và pháo binh, kho xăng dầu, bom đạn của địch; thực hiện chủ trương của Thành ủy và Thành đội Đà Nẵng, ngày mùng 5 tháng 11 năm 1965, Tiểu đoàn Đặc công 89 được thành lập; tôi có quyết định làm Đại đội phó. Sau một thời gian ngắn, cấp trên bổ nhiệm tôi làm Đại đội trưởng Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn Đặc công 89 của Thành đội Đà Nẵng.
Nhận nhiệm vụ mới chưa được bao lâu, vào tháng 5 năm 1966, tôi được phân công trực tiếp đi điều tra trận địa pháo binh Mỹ tại Thanh Vinh và báo cáo cấp trên phê duyệt phương án. Tình hình chung trên chiến trường miền Nam lúc bấy giờ, cuộc tiến công Đông Xuân (1964-1965) và Hè Thu 1965, đỉnh cao là các chiến thắng Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài đã làm làm cho chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ bị phá sản, kế hoạch Giôn-xơn - Mắc Na-ma-ra bị thất bại. Các đòn tiến công vối sức mạnh của ba thứ quân kết hợp với phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng đã đánh bại quân ngụy trên khắp chiến trường miền Nam, đẩy chính quyền Sài Gòn ngày càng lún sâu vào cuộc khủng hoảng. Giữa mùa hè năm 1965, mặc dù Mỹ đã từng bước đẩy cuộc “chiến tranh đặc biệt” lên tới đỉnh cao, vượt quá mức dự kiến ban đầu, nhưng mọi sự cố gắng đều rơi vào vô vọng và chịu sự thất bại nặng nề. Nhằm cứu vãn sự thất bại của “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ buộc phải đưa quân Mỹ vào để tiến hành “chiến tranh cục bộ”. Ngày 8 tháng 3 năm 1965, hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ của Mỹ chính thức đặt chân lên thành phố Đà Nẵng. Đây là những đơn vị chiến đấu của Mỹ đầu tiên đến Việt Nam, một biểu hiện của sự thất bại hiện hữu của “chiến tranh đặc biệt”. Chúng đã lập ra nhiều căn cứ quân sự, trong đó có căn cứ pháo binh Thanh Vinh, là nơi tập trung nhiều pháo lớn, ngày đêm bắn phá vùng giải phóng của ta, gây ra nhiều tội ác với nhân dân, đặc biệt ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Để chặn đứng bàn tay tàn bạo của kẻ thù, quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng phải đánh phủ đầu, tiếp sức với các chiến trường trên toàn miền Nam, bằng mọi giá phải phá hủy căn cứ này nhằm tiêu hao sinh lực của chúng. Nhiệm vụ nặng nề, nhưng vô cùng vinh quang được cấp trên giao cho Đại đội 1, Tiểu đoàn Đặc công 89, là đơn vị mới được thành lập ngày mùng 5 tháng 11 năm 1965, thực hiện.
Nhận nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường và trực tiếp chỉ huy trận đánh, tôi không khỏi băn khoăn, hồi hộp. Tôi tự nhủ, mình phải phấn đấu sao cho xứng đáng với sự tin cậy của cấp trên. Cách đánh đặc công thì mình cũng đã được học và cũng từng kinh qua nhiều trận. Song đây là trận đầu tiên tập kích vào trận địa pháo binh Mỹ, liệu mình phải tổ chức đánh như thế nào để trước hết diệt gọn quân địch, ít tổn thất cho ta. Với hỏa lực và lực lượng hùng hậu của địch, chỉ cần có cơ hội phản kích là chúng có thể đẩy lui hoàn toàn đội hình của ta. Mặc dù đây là vinh dự, tự hào, nhưng trên vai tôi là sinh mạng của đồng đội, là niềm tin của tổ chức, của nhân dân, nếu không may trận đánh không thắng thì liệu lịch sử sẽ viết như thế nào về mình. Tôi luôn trăn trở để tìm cách đánh sao cho hiệu quả, ít thiệt hại nhất.
Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi chọn năm đồng chí là Bân, Ngưu, Qui, Tỉnh và Chuyên cùng với tôi đi điều tra căn cứ pháo binh Thanh Vinh. Chúng tôi mang theo lương khô, gạo rang, cơm vắt... và vũ khí cá nhân. Tôi động viên anh em: Muốn thành công thì ngay từ đầu cả tổ phải quyết tâm vượt qua khó khăn và hoàn thành nhiệm vụ trước thời gian cấp trên giao. Chiều hôm đó, chúng tôi đến đồi Hố Chuối (Kim Liên) để đặt đài quan sát chọn hướng điều tra căn cứ Thanh Vinh. Từ đây, anh em có thể đưa ống nhòm lên nhìn rất rõ mục tiêu. Căn cứ pháo binh Mỹ nằm giữa bãi cát trắng bao gồm nhiều lớp rào kẽm gai, hào giao thông, lô cốt, nhà tôn, cụm pháo... hiện lên mồn một trong mắt các cán bộ, chiến sĩ đi chuẩn bị chiến trường. Như vậy, hướng điều tra căn cứ đã được chúng tôi xác định.
Hoàng hôn buông xuống, toàn tổ lần mò đến bờ sông Thủy Tú và tìm cách sang bờ bên để tiếp cận căn cứ. Chúng tôi lặng lẽ vạch cỏ, nhẹ nhàng buông mình xuống dòng sông quê xanh mát. Lúc chúng tôi bơi đến giữa dòng thì một tình huống bất ngờ xảy ra. Một chiếc trực thăng từ sân bay Xuân Thiều bay lên đèn pha rà sát mặt nước tìm mục tiêu. Ánh đèn sáng đến nỗi tôi có cảm tưởng một con cá nhỏ đớp bóng cũng có thể bị chúng phát hiện. Đội công tác nhanh trí lặn sâu xuống nước khiến máy bay địch không phát hiện được gì. Khi tiếng động cơ nhỏ dần, chúng tôi nổi lên và tiếp tục bơi, coi như thử thách đầu tiên đã vượt qua.
Tuy nhiên, để tiếp cận được mục tiêu chúng tôi còn phải qua mấy chặng đường gay go nữa như đột nhập ấp chiến lược, đụng địch phục kích phải đi đường vòng, gặp chim, thú đi ăn đêm đánh hơi thấy người liền bay loạn xạ, kêu oang oác.v.v. Soi đồng hồ, chiếc kim dạ quang chỉ gần 4 giờ sáng, tôi quyết định tìm nơi trú ẩn bí mật trong ngày cho anh em. Lúc này, trong xóm làng, tiếng gà gáy, tiếng chó sủa vang lên từng hồi. Một vài đồng chí băn khoăn, có người hỏi:
- Trời sáng, làm sao bây giờ?
- Các đồng chí yên tâm. Tôi sẽ bố trí chỗ cho chúng ta trú ẩn an toàn.
Tôi đáp liều như vậy để trấn an anh em, chứ mình vẫn chưa nghĩ ra chỗ nào. Bất chợt, tôi nhớ ngay đến gia đình mình ở cách đây không xa, chỉ cách căn cứ pháo binh Mỹ khoảng 250 mét. Nhà tôi nằm trong vùng địch kiểm soát, ở vùng cát xóm Hóc Bộ, thôn Hồng Phước. Mẹ tôi, tức bà Xiềng, là cơ sở của Quận Nhì, do ông Phan Văn Tải là Quận ủy viên Quận Nhì và tôi xây dựng. Trong nhà, ngoài vườn nhà tôi thường xuyên có những căn hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, bộ đội. Nghĩ đến đây, tôi quyết định đưa anh em đột nhập về nhà mình. Khi về gần đến nhà, lòng tôi bồi hồi xúc động. Bao nhiêu năm xa gia đình, những tưởng chúng tôi sẽ đoàn tụ trong niềm vui thống nhất như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Ai ngờ hôm nay mình lại trở về với nhiệm vụ đặc biệt trong trận đánh quyết định này. Lúc ấy mọi người trong nhà thấy tôi về liền tròn xoe mắt chứa đầy sự ngạc nhiên. Mẹ tôi chỉ biết đứng nhìn và từng giọt nước mắt lặng lẽ chảy trên gò má đầy nếp nhăn nheo. Không chần chừ, tôi đề nghị gia đình bố trí cho một căn hầm bí mật để bộ đội trú ẩn trong ngày. Lúc ấy, mẹ tôi cũng như bao bà mẹ Việt Nam thời bấy giờ sẵn sàng đáp ứng yêu cầu này. Mọi người trong nhà khẩn trương ngụy trang, biến ngay hầm trú ẩn bom pháo Mỹ của gia đình thành hầm bí mật cho anh em chúng tôi. Có một điều khá may mắn là nhà tôi ở sát căn cứ của Mỹ nên kẻ địch có phần nào chủ quan, không đi lùng sục nhiều. Mẹ hướng dẫn cho chúng tôi cơi nới thêm hầm, làm thêm ngách để bảo đảm đủ nằm, vì vách hầm đã có sẵn bao cát. Sau khi xong xuôi mọi chuyện, mẹ tồi căn dặn:
- Các con dưới hầm cứ bình tĩnh ngủ yên, đừng lo lắng. Trên này có động tĩnh gì để một mình mẹ đối phó.
Lúc đó, trong lòng chúng tôi chợt trào lên một cảm giác rưng rưng khó tả. Dù không ai nói với ai một lời nào, nhưng anh em chúng tôi cùng chung ý nghĩ: “Nơi trú ẩn an toàn nhất đó chính là tình cảm, lòng thương yêu dũng cảm của mẹ. Người đã lo từng miếng ăn, giấc ngủ cho bộ đội”. Có thể nói, trong chuyến đi điều tra trận địa pháo Thanh Vinh, chúng tôi gặp không ít khó khăn, nhưng cũng khá nhiều thuận lợi. Chẳng hạn như ngay buổi chiều hôm ấy, em tôi là cơ sở cũng có mặt ở nhà. Buổi tối, em đã dẫn chúng tôi đột nhập vào toàn bộ căn cứ Mỹ. Cần nói thêm rằng, quê tôi hồi ấy không riêng gì gia đình tôi mà còn nhiều bà mẹ khác một lòng trung thành với cách mạng. Có thể đơn cử như gia đình bà Phạm Thị Dĩ cả nhà đều tham gia cách mạng. Nhà bà ở nơi đầu sóng ngọn gió, đêm đêm thắp ánh đèn dầu để cảnh giới bọn địch. Trong nhà bà có 4 căn hầm bí mật để nuôi cán bộ, bộ đội. Bản thân bà Dĩ đã trực tiếp tham gia phục vụ nhiều trận đánh như lo cơm nước, thuốc men, khiêng thương binh, tải đạn cho bộ đội đặc công quận Nhì xuyên suốt trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hoặc gia đình bà Võ Thị Chinh ở thôn Phái 6, xã Hòa Liên. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đây là một trong những gia đình có công với cách mạng. Bà Chinh luôn thể hiện là một người mẹ mẫu mực, không sợ địch, kiên cường trụ bám, thường xuyên thu mua lương thực, thực phẩm giúp cho bộ đội địa phương và đơn vị đặc công quận Nhì. Bà nuôi bộ đội ăn uống ngày đêm thường xuyên từ 15 đến 20 người và hàng đêm gùi hàng trăm kilôgam gạo cho bộ đội.
Trở lại nhiệm vụ chính, khi đột nhập vào đồn địch, quan sát thấy rõ các cụm pháo 105mm và nội ngoại vi căn cứ, tôi tiến hành phân công mỗi người đột nhập một hướng. Quy luật tuần tra canh gác của địch, những chi tiết trong căn cứ.v.v. đều được ghi vào trong trí nhớ của chúng tôi. Đúng 2 giờ sáng hôm sau, tôi dẫn anh em trở lại vị trí an toàn, xem như đã hoàn thành công tác chuẩn bị bước một. Khi quay vào núi X, tôi bất ngờ gặp lại các đồng chí Ba Đằng và Sáu Tài, là cơ sở có nhà ở sát đồn lính Mỹ, đang giả vờ đi lên núi đốn củi. Hai anh tiếp tục cung cấp thêm một số chi tiết, quy luật của địch. Do đó, chúng tôi càng hiểu rõ hơn, giúp cho việc vẽ sơ đồ quá trình điều tra trận địa pháo mọt cách chính xác hơn. Trong thời gian chúng tôi đi chuẩn bị chiến trường, anh em ở lại tiếp tục huấn luyện bổ sung phương án chiến đấu.
Khi về đến đơn vị, tôi nhanh chóng vẽ sơ đồ và đắp sa bàn trận địa pháo của địch, sau đó thông qua phương án chiến đấu và được Đảng ủy, Ban Chỉ huy tiểu đoàn phê duyệt, nhất trí giao nhiệm vụ cho tôi trực tiếp chỉ huy trận đánh này.
Ngày 10 tháng 6 năm 1966, đại đội chọn 60 đồng chí, tổ chức thành 3 mũi, do các đồng chí Bân, Ngưu, Chuyên làm mũi trưởng tiến công căn cứ địch ở 3 hướng. Bố trí lực lượng cụ thể như sau: Đối với hướng Tây, là hướng chủ yếu, do tôi trực tiếp chỉ huy từ hướng Tây đánh xuống; ngoài ra còn một đội hình dự bị có thể chi viện kịp thời khi có tình huống ngoài dự kiến xảy ra. Mũi thứ hai do đồng chí Bân phụ trách, có nhiệm vụ từ hướng đông đánh lên. Mũi thứ ba do đồng chí Chuyên phụ trách, đảm nhiệm đánh từ hướng bắc đánh vào. Vũ khí trang bị gồm có: súng B40, B41; thủ pháo, lựu đạn, 7 khối bộc phá 5kg bằng thuốc TNT, 3 bộc phá ống dùng để phá rào. Sau đó, đơn vị tập hợp kiểm tra lần cuối cùng để chuẩn bị xuất phát. Đúng 14 giờ cùng ngày, chúng tôi bắt đầu hành quân. Tôi cắt cử lực lượng trinh sát đi trước bám địch, do đồng chí Nhưng phụ trách. Dọc đường đi, có lúc tôi chợt thấy trong lòng xao xuyến lạ. Năm xưa đi chiến đấu, tôi không ngờ có một ngày mình trở lại quê hương, trực tiếp chỉ huy một trận đánh lớn như thế này. Nghĩ trước lại nghĩ sau, trong số chiến sĩ tham gia đánh trận này có không ít đồng chí là con một trong gia đình. Tôi có quan niệm rất rõ ràng: Làm người chỉ huy, bên cạnh việc xây dựng quyết tâm chiến đấu và chiến thắng, còn phải suy nghĩ cho anh em, đồng chí, đồng đội. Tôi có may mắn hơn nhiều anh em, vì trước khi bước vào trận đánh đã được gặp lại người thân trong gia đình. Đối với chúng tôi thời bấy giờ, đó là niềm hạnh phúc hiếm hoi của người lính trận mà không phải ai cũng có thể có được.
Khi đến vị trí tạm dừng, tôi tổ chức đắp sa bàn và lên phương án huấn luyện bổ sung cho đơn vị. Về công tác chính trị tư tưởng, cấp trên cũng như chỉ huy đơn vị đã giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ thể hiện quyết tâm bằng cách cắt dán câu “Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” lên báng súng AK từng đồng chí, nghĩa là quyết tâm đánh thắng trận đầu, diệt nhiều phương tiện vũ khí hiện đại nhất của quân đội Hoa Kỳ, trong đó có loại pháo 175mm tự hành, được gọi là “vua chiến trường”. 19 giờ, đội hình bắt đầu vượt sông Thủy Tú. Khác với lúc đi điều tra, lần này chúng tôi qua sông rất an toàn. Dường như đó cũng là dấu hiệu ngày tận số của căn cứ pháo binh Thanh Vinh. Khoảng 22 giờ, tôi cho dừng đội hình ở cánh đồng Hòa Hiệp để kiểm tra lần cuối cùng. Trong quá trình hành quân gần đến mục tiêu, cũng có vài đồng chí chưa thực sự quyết tâm, còn mang cả hỏa lực B41 đi lạc đường, thực ra thì đây chỉ là số ít anh em chưa có kinh nghiệm chiến đấu, không ảnh hưởng gì. Nhưng trước tình thế như vậy, tôi phải nhanh chóng xốc lại đội hình, để tiếp tục hành quân.
23 giờ đơn vị bắt đầu triển khai các hướng để tiếp cận mục tiêu. 30 phút sau mũi chủ yếu dọ đồng chí Ngưu phụ trách tiến hành cắt rào đưa hỏa lực vào bên trong. Các đồng chí phụ trách B40, B41 cơ động áp sát lô cốt đầu cầu, sẵn sàng nhả đạn. Quân ta lúc này nằm theo đội hình hàng dọc chuẩn bị đánh chiếm mục tiêu. 23 giờ 40 phút, mũi số 2 cũng khắc phục được vật cản đưa toàn bộ đội hình vào bên trong cứ điểm. 23 giờ 50 phút, tiếp tục mũi thứ 3 từ hướng bắc vào được bên trong, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng. Đêm đặc quánh, thời gian như ngừng trôi. Trong trái tim tôi lúc ấy dường như chỉ có một suy nghĩ duy nhất: Bình tĩnh quan sát, chờ đến giờ G phát lệnh nổ súng tiêu diệt cứ điểm địch đã gây ra nhiều tội ác đối với nhân dân. Tôi nhẩm đếm từng tích tắc, mỗi tiếng như vậy là khoảng thời gian để anh em chúng tôi kiểm tra lần cuối trước khi siết cò, giật nụ xòe.
Đúng 24 giờ, tức giờ G, hướng mũi phía tây còn một hàng rào thép gai cuối cùng. Đồng chí Ngưu thực hành cắt, bất ngờ vấp phải quả mìn sáng bật lên nổ, làm cả trận địa sáng như ban ngày. Chúng tôi đã dự kiến trước tình huống có thể xảy ra nên bình tĩnh tìm nơi ẩn nấp. Khi quả mìn sáng vừa tắt, mũi phía đông của đồng chí Bân tranh thủ lót đội hình vào. Một tình huống bất ngờ lại đến làm thót tim chúng tôi. Trong lúc cơ động vào bên trong cứ điểm, một đồng chí chiến sĩ do sơ suất đã vướng phải quả mìn sáng khác. Mìn bật lên nổ, cháy xè xè, phun ra những tia lửa như chùm pháo hoa bắn lên không trung làm sáng cả một góc trời, thời gian kéo dài khoản 5 phút. Toàn đội hình án binh bất động. Tôi xác định có thể bị lộ và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, dù hy sinh tất cả cũng phải nhổ cho được cái ung nhọt trên đất quê hương. Tuy nhiên, trong đồn vẫn im lặng. Chắc có lẽ lính Mỹ cho rằng chó mèo của dân đi ăn đồ hộp bị vấp mìn chiếu sáng, vì đó là chuyện thường xảy ra tại căn cứ này nên chúng không mấy để ý. Qua một cơn bất thần điên đảo, vô cùng hồi hộp lo sợ, chúng tôi hình dung giống như một cuộc diễn tập ở thao trường. Cũng may không có tình huống xấu nào xảy ra. Lúc này, ở hướng mũi 1, tôi cho hai tổ vọt qua bãi trống, áp sát hai lô cốt đầu cầu sẵn sàng nổ súng.
Khoảng 24 giờ 15 phút, mũi phía đông lót được 2 tổ vào sát hào giao thông. Một bất ngờ nữa lại đến khi toán lính Mỹ đi tuần tra. Chúng đạp trúng đầu hai đồng chí Tỉnh và Quy, hoảng hốt hét lên: “Vi-xi! Vi-xi!”. Mìn sáng tắt, nhanh như chớp, Ngô Tấn Tỉnh nổ súng diệt ngay toán lính Mỹ, đó cũng là hiệu lệnh tấn công cho toàn trận đánh. Đồng chí Tĩnh, đồng chí Quy dẫn đội hình bàng qua chiến hào thọc sâu vào sở chỉ huy, nổ súng tiêu diệt địch hết nhà này đến nhà khác. Riêng đồng chí Bân, dẫn 25 cán bộ, chiến sĩ triển khai đánh chiếm các mục tiêu như trong phương án.
Mũi phía tây được lệnh nổ súng. Những phát đạn B40, B41 chính xác của đồng chí Ngưu, đồng chí Hiền nhanh chóng đánh sập hai lô cốt đầu cầu. Hai đồng chí tiếp tục dẫn 8 chiến sĩ thọc sâu đánh vào trung tâm bắt liên lạc với mũi 2 và mũi 3. Lúc này, quân địch đã qua những giây phút hoảng loạn ban đầu. Chúng tập trung đội hình còn lại đánh phản kích vào hướng tây. Bọn lính trong lô cốt ở đồi phía nam dùng đại liên M60 bắn dọc theo hàng rào phía tây của mũi 1, cắt đội hình còn lại phía sau của ta chưa vào kịp. Tình thế chiến đấu vô cùng khẩn trương. Nếu để địch kịp hồi phục phát huy các loại hỏa lực mạnh thì ta khó bề chiến thắng. Trước tình hình như vậy, người chỉ huy phải thật sự tỉnh táo, bình tĩnh và dũng cảm thì mới có thể đạt được hiệu suất chiến đấu cao, ngược lại sẽ khó tránh khỏi tổn thất. Tôi vừa chỉ huy anh em đánh địch vừa nghĩ ra cách vượt rào nhanh nhất. Lúc đầu, tôi bồng từng đồng chí ném qua rào. Bồng được khoảng chín mười đồng chí thì nghe tiếng súng nổ dồn dập bên trong, hỏa lực địch cay xé trước mặt, tôi vội nằm chồng lên dây thép gai thành một chiếc cầu để anh em tiếp tục vượt qua. Lúc này, địch đã hoàn hồn đánh trả quyết liệt. Khi đồng chí cuối cùng đã vào bên trong, tôi cũng nhảy lên vượt qua rào, vừa chạy vừa hô to: “Đảng viên! Đảng viên đâu theo tôi. Hãy dũng cảm tiến lên!”. Đồng chí Ngưu dẫn tổ của mình vòng ra phía sau, tiêu diệt ngay lô cốt địch ở tiền duyên, thu được khẩu đại liên M60.
Mũi 3 do đồng chí Chuyên mũi trưởng dẫn đội hình thọc sâu đánh chiếm các khu nhà bạt, lô cốt, hầm ngầm, sau đó nhanh chóng phát triển vào khu trung tâm, bắt liên lạc với mũi 1 và mũi 2. Khi các mũi liên lạc được với nhau, tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Trần Ngọc Trung độc lập tác chiến, một mình đánh một lô cốt ngoài cổng đồn. Đồng chí Trung nhanh chóng dùng súng B40 bắn sập lô cốt, sau đó nhảy vào tung luôn mấy quả thủ pháo diệt gọn một tiểu đội lính Mỹ và chiếm giữ luôn, sẵn sàng bắn xe tăng địch chi viện từ trận địa pháo 175 của tiểu đoàn lính Mỹ cách đó 300 mét về phía bắc. Trận địa pháo Thanh Vinh lúc này thực sự trở thành một biển lửa chôn vùi quân xâm lược Mỹ.
Trận đánh vô cùng ác liệt kéo dài 30 phút, các mục tiêu cơ bản đề ra trong phương án đều thực hiện được. Sở chỉ huy của Mỹ ở Đà Nẵng đã báo động cho máy bay trực thăng, Đa-cô-ta bay lên thả đèn sáng, bắn rốc-két vu vơ hòng cứu vãn tình thế. Nhưng mọi sự cố gắng của chúng chỉ rơi vào vô vọng. Các chiến sĩ đặc công của ta đã làm chủ hoàn toàn trận đánh. Tôi bình tĩnh chỉ huy bộ đội đặt bộc phá khối vào các bệ pháo và đồng loạt giật nụ xòe. Các khối thuốc nổ đã xé tung các bệ pháo 105mm ra thành từng mảnh. Kiểm tra lại trận địa, phát hiện thấy còn một khẩu pháo chưa đánh, tôi liền ra lệnh cho đồng chí Hiền dùng quả bộc phá ống đút vào nòng pháo 105mm phá hủy luôn. Sau khi quan sát, nhận báo cáo từ các mũi, hướng, tôi hô to: “Đơn vị tiếp tục tấn công!”, đây là ám hiệu riêng của chỉ huy trận đánh. Lúc này, trận địa đã im tiếng súng, anh em hiểu ý tự động lui về điểm hẹn an toàn. Kết quả trận đánh, ta đã tiêu diệt gần hai trăm lính Mỹ, phá hủy 7 khẩu pháo 105mm, 7 xe kéo pháo, 20 nhà bạt cùng công sự, lô cốt hầm ngầm, thu 4 đại liên M60 và một số súng đạn, quân trang quân dụng. Đây là lần đầu tiên bộ đội ta trực tiếp chạm trán với phương tiện chiến tranh hiện đại bậc nhất thế giới của quân đội Mỹ. Quả là một đòn choáng váng, gây đảo điên, bất thần đối với những tên lính xâm lược khi chúng mới đặt chân lên đất Đà Nẵng. Cũng trong trận đánh này, có nhiều tấm gương chiến đấu xuất sắc, dũng cảm ngoan cường nổi lên như các đồng chí Ngô Tấn Tĩnh, Lê Văn Quy, Nguyễn Văn Bân, Lê Ngưu, Phạm Văn Hiền, Phạm Nhưng, Phạm Văn Chuyên và Trần Ngọc Trung cùng nhiều đồng chí khác. Đối với cá nhân tôi, được cấp trên đánh giá là người chỉ huy mưu trí, sáng tạo, bình tĩnh, dũng cảm trước, trong và sau trận đánh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Để ghi nhớ chiến công, tập thể Đại đội 1 và nhiều đồng chí đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng huân chương cao quý. Kết quả trận đánh đã thiết thực góp phần tô thắm truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, Tiểu đoàn Đặc công 89 Đà Nẵng nói riêng, luôn xứng đáng với truyền thống oanh liệt của quê hương “trung dũng, kiên cường đi đầu diệt Mỹ”. Có thể khẳng định, trận tiêu diệt cứ điểm trận địa pháo Thanh Vinh là một trong những trận đánh hay của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn Đặc công 89 anh hùng. Tuy nhiên, để có được chiến thắng này một phần phải nhờ vào sự giúp đỡ tận tình của nhân dân các thôn Thủy Tú (Hòa Hiệp), Quan Nam (Hòa Liên) Hồng Phước (Hòa Khánh) đã tạo mọi điều kiện để đơn vị tập kích trận địa pháo Thanh Vinh đạt hiệu suất chiến đấu cao. Đặc biệt, sau khi chúng tôi tập kích trận địa pháo Thanh Vinh, đồng chí Phạm Văn Hiền chạy lạc vào nhà bà Chính trong lúc lính Mỹ đang lùng sục. Bà đón vào hầm bí mật, sáng hôm sau đi chợ may quần áo cho đồng chí Hiền mặc và cải trang đi chăn trâu để xuống Xuân Thiều nhằm đánh lạc hướng địch và đưa đồng chí Hiển lên căn cứ.
Đến tháng 4 năm 1967, Thành đội Đà Nẵng có chủ trương thành lập thêm một tiểu đoàn đặc công hậu cứ, nhiệm vụ là đánh các mục tiêu tương tự Tiểu đoàn Đặc công 89. Thành đội giao cho tôi và đồng chí Chính trị viên Đặng Thanh Nam chỉ huy Đại đội 1 ra cánh bắc Hòa Vang để tổ chức thành lập Tiểu đoàn Đặc công 87 Đà Nẵng. Cùng lúc đó, hậu phương lớn miền Bắc bổ sung thêm 400 cán bộ, chiến sĩ cho đơn vị, được biên chế thành 3 đại đội. Tuy nhiên, số cán bộ, chiến sĩ này phần lớn chưa kinh qua chiến đấu. Như vậy, quân số tiểu đoàn lúc này khoảng 500 người. Tôi được cấp trên giao nhiệm vụ làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Tán Mào làm Chính trị viên, về cơ cấu tổ chức, ban chỉ huy tiểu đoàn gồm có 5 đồng chí là: Ngôn, Mão, Thượng, Phước và Công. Đây cũng chính là thời điểm ta đánh vào nhà lao Hội An, giải vây cho cả ngàn người chạy ra vùng giải phóng. Tôi không biết đó là hạnh phúc, hay báo trước một sự đau đớn đến tột cùng khi vợ tôi thoát ra, tiếp tục về làm việc cho ngành quân y tiền phương cánh bắc Hòa Vang. Cùng công tác trên một địa bàn nên thỉnh thoảng vợ chồng gặp mặt, chúng tôi thường động viên nhau công tác. Chiến tranh đã mang đến hy sinh, mất mát, nhưng cũng không thể ngăn cản nổi sự sống bất diệt của những con người anh dũng của một dân tộc anh hùng. Chính những ngày khó khăn, ác liệt ấy, vợ tôi đã mang bầu đứa con thứ hai. Tình hình chiến sự ở cánh bắc Hòa Vang lúc này, ta gặp rất nhiều khó khăn vì địch bao vây phong tỏa. Toàn thể các cơ quan, đơn vị đều đói cơm nhạt muối. Bộ đội phải ăn toàn rau rừng và củ móng ngựa suốt 3 tháng trời. Chiến khu chỉ còn một ít gạo, dành để nuôi thương binh. Đến lúc gạo ưu tiên cũng hết. Bộ đội, du kích thiếu ăn da xanh như tàu lá. Nhưng dẫu sao thì họ vẫn có thể ăn rau, củ, quả thay cơm. Còn các đồng chí thương binh thì không thể như thế. Anh em phải có chút gạo để lấy sức giành lại sự sống khỏi tay tử thần. Là một người chỉ huy, nhìn bộ đội, du kích và thương bệnh binh lả đi vì đói, tôi không thể đành lòng phó mặc cho may rủi. Sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi quyết định dùng chiến thuật đặc công để lọt qua vùng địch, xuống nhà dân xin gạo về nuôi thương binh. Lần đó, tôi dẫn 5 đồng chí chiến sĩ công binh xuống ranh Trường Định. Nhìn thấy địch dăng hàng ngang phục kích bên kia sông, tôi hướng dẫn anh em chui qua hai lớp rào, đi quanh đồn lính Mỹ đóng ở Quan Nam, sau đó bò vào nhà cơ sở. Lúc ấy, anh em cán bộ, chiến sĩ công binh đi cùng tỏ ra vui mừng và khâm phục. Đặc biệt, khi chúng tôi vào đồn thì đi không, lúc trở về mỗi người mang 3 ang gạo vẫn theo đường cũ, cách lô cốt lính Mỹ từ 15 đến 20 mét. Chuyện chúng tôi đi lấy gạo giữa vòng vây quân thù nghe ra thật khó lý giải. Vì thế, sau này có người hỏi tôi vì sao mà chúng tôi có thể làm được chuyện động trời đó. Tôi chỉ thủng thẳng trả lời: “Chỉ có tinh thần dũng cảm, gan dạ của người chiến sĩ cách mạng, kết hợp với kỹ thuật, sự khôn khéo của người lính đặc công mới có thể vượt qua được khó khăn và giành thắng lợi”. Cũng trong dịp ấy, tức năm 1968, chị em bên bệnh xá xuống Kim Liên lấy gạo, trong đó có vợ tôi, nhưng gặp địch phục kích không đi được phải quay vào núi và ở lại đến tối hôm sau. Vì thế, mấy chị em phải nhịn đói suốt một ngày, một đêm. Buổi tối, mọi người lại xuống tiếp. Không ngờ đó là chuyến đi định mệnh của các y, bác sĩ, nhân viên bệnh xá. Họ bị địch phục kích hy sinh tất cả. Vợ tôi mất đi khi đứa con trong bụng mới gần 4 tháng, được đồng đội đưa về căn cứ chôn cất. Thế là tôi lại mang thêm trên mình hai vành tang trắng. Chiến tranh đã cướp đi của tôi nhiều quá. Hai bà vợ và một đứa con chưa kịp chào đời. Khỏi phải nói lúc ấy tôi căm thù giặc như thế nào. Nước mắt tôi lặn vào trong để nhường chỗ cho sự minh mẫn, khả năng sáng tạo của người chỉ huy bộ đội đặc công trong chiến đấu. Tôi thề sẽ quyết tâm chiến đấu để đền nợ nước, trả thù nhà. Xin nói thêm, sau ngày 29 tháng 3 năm 1975, Đà Nẵng được giải phóng, tôi lên chuyển vợ con tôi về nghĩa trang liệt sĩ. Còn cô con gái Hồ Thị Liễu được vợ chồng tôi gửi về ở với nội nên không biết mẹ mình còn hay mất, ở đâu. Nó lớn lên chỉ biết có ba, người ba thương yêu độc nhất. Hiện nay, vợ chồng Liễu đang sinh sống ở quê chồng, thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Cũng trong năm 1967, lực lượng đặc công biệt động quận Nhì, thành phố Đà Nẵng, đã tập kích đồn Phú Lộc, tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch, thu toàn bộ vũ khí, khai thông hành lang vào nội thành Đà Nẵng. Chiến thắng này đóng vai trò quan trọng trong việc đưa nhiều thanh niên, học sinh lên căn cứ bổ sung cho các đơn vị đặc công, biệt động và cơ quan dân chính Đảng. Họ được giáo dục, học tập chính trị và huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật đặc công, sau đó biên chế quân số cho Quận đội quận Nhì và cơ quan Quận ủy quận Nhì. Số đồng chí này sau đó đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu nhiều chiến công xuất sắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần to lớn vào thành tích chung của lực lượng vũ trang Quận Nhì đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trực tiếp tham gia lãnh đạo, chỉ huy quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang Quận Nhì trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tôi càng thấm thía sự hi sinh anh dũng, lòng nhiệt tình cách mạng của những con người ấy. Sau này, mỗi khi nhớ lại một thời hào hùng của dân tộc, tôi lại cảm thấy tự hào vì mình đã đóng góp một phần nhỏ bé vào chiến thắng chung.
Những năm tháng ăn núi, ngủ rừng một thời đã trở thành kỷ niệm không thể nào phai mờ trong tôi. Vì nơi ấy, chúng tôi đã sống chiến đấu vì nền độc lập của dân tộc, nơi có những con người bình dị đi vào cuộc chiến tranh với trái tim đầy nhiệt huyết cách mạng. Có những chiến công đã được sử sách ghi danh, cũng có những chiến công thầm lặng chỉ in dấu trong trái tim mỗi con người trực tiếp tham gia chiến đấu. Trường hợp tôi muốn nói đến là trận đánh bất ngờ trên đường đi công tác tiêu diệt một tiểu đội lính biệt kích của Mỹ tại thung lũng Khe Răm vào thượng tuần tháng 5 năm 1967.
Địa danh này nằm về phía bắc dòng sông Cu Đê. Thiên nhiên đã ban cho nơi đây một cảnh đẹp sơn thủy hữu tình. Nếu không có chiến tranh thì có lẽ nơi đây sẽ là một khu du lịch sinh thái tốt cho những ai muốn nhìn mây ngắm núi. Dọc hai bên bờ sông là hai thôn Phò Nam và Nam Yên. Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, đây là chỗ dựa vững chắc của quân và dân ta ở chiến trường tây bắc huyện Hòa Vang. Vì vậy, để ngăn chặn đường tiến của quân ta xuống đồng bằng, vào thành phố Đà Nẵng, bọn giặc không từ một thủ đoạn chiến tranh tàn ác nào. Chúng ngày đêm đánh phá quyết liệt, hành quân càn quét, chà đi xát lại, lùng sục, bố ráp các khu vực dân cư. Trên không, pháo tầm xa, pháo đài bay B-52 ngày đêm trút xuống khu vực này hàng ngàn tấn bom đạn và chất độc hóa học. Xóm làng trở nên tiêu điều xơ xác. Địch đã biến nơi đây thành bãi chiến trường để tha hồ hoạt động thám báo, biệt kích. Có thể nói, lá rừng cũng ghi không hết tội ác của chúng. Tuy nhiên, nhân dân ta vẫn một lòng kiên trung với Đảng, với cách mạng; vẫn kiên cường bám trụ làng quê chiến đấu, giữ vững niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc.
Cuộc sống của cán bộ, bộ đội trên căn cứ vì thế cũng gặp không ít khó khăn, nhất là vấn đề lương thực, thuốc men. Người khỏe mạnh chịu đựng còn thấy khó khăn, với anh em thương binh càng cực khổ bội phần. Để góp phần giải quyết tình thế, tôi quyết định tổ chức một số đồng chí đi xuống thăm nhân dân nắm tình hình bà con, tình hình địch và tiện thể thu hái ớt rừng, mang xuống đồng bằng đổi lấy ít gạo, mắm. Trong một chiều hè tháng 5 oi bức, tôi cùng bốn anh em xuống Khe Răm với ý định bơi sang thôn Phò Nam, sau đó sẽ đi thu hái ớt như dự kiến.
Chúng tôi xuống đến Khe Răm khoảng hai giờ chiều. Bất ngờ, một chiếc máy bay trinh sát L.19 của địch bay đến, quần lượn mấy vòng trên cao rồi sà xuống thấp ném quả mù xuống bãi cỏ tranh. Chúng tôi chưa kịp xác định hành động đó của địch nhằm thực hiện âm mưu gì thì một chiếc trực thăng bay đến và đổ xuống bãi cỏ tranh một toán biệt kích. Bọn chúng gồm có 12 tên, sau một lúc sục sạo xung quanh thấy không có gì, bèn tìm cách tránh nắng. Chúng tôi lặng lẽ quan sát. Cái nắng gay gắt chiều hè miền nhiệt đới không ủng hộ những tên lính xâm lược đến từ phía bên kia bán cầu. Tụi biệt kích tụ tập lại bên khóm chuối rừng, cởi bỏ quần áo, tổ chức ăn uống no say và nằm lăn ra đất tắm nắng, nghỉ ngơi thoải mái. Chúng không hề biết rằng chúng đang bị năm cặp mắt tinh tường của các chiến sĩ đặc công theo dõi. Đối với chúng tôi, đây là tình huống xảy ra bất ngờ và thời cơ diệt địch rất thuận lợi. Tôi trao đổi với anh em về tình hình. Toàn tổ nhất trí quyết tâm tiêu diệt địch. Phương án tác chiến được vạch ra ngay trên dốc Khe Răm.
Trời càng về chiều, nắng hè càng chói chang. Dường như vạn vật đều sợ cái nắng nung người của miền sơn cước. Không một loài chim thú cất tiếng kêu nên không gian càng trở nên tĩnh mịch. Thỉnh thoảng, vài ngọn gió nồm lọt qua khe núi làm bãi cỏ tranh xào xạc, uốn lượn dập dờn theo chiều gió như những làn sóng xanh mơn man, làm mát dịu cái nắng nóng mùa hè. Chúng tôi cơ động theo bờ khe nước, bí mật bò qua bãi cỏ tranh, men theo chiều gió cách địch chừng 50 mét. Khoảng cách của chúng tôi và tụi biệt kích được rút ngắn dần. Khoảng 20 mét thì toàn tổ dừng lại, dàn thành hàng ngang sẵn sàng nổ súng. Năm giờ chiều nắng nóng bắt đầu dịu dần, bọn lính Mỹ lục tục gọi nhau ngồi dậy. Chớp thời cơ, tôi phát lệnh nổ súng. Những tiếng súng AK và lựu đạn đồng loạt phát huy sức mạnh. Tiếng hô xung phong của chúng tôi hòa lẫn tiếng la hét của những tên lính biệt kích làm vang động cả một vùng, cỏ tranh bốc cháy ngùn ngụt, khói lửa bốc cao rần rật càng thôi thúc khí thế hăng say chiến đấu của chiến sĩ ta, góp phần uy hiếp tinh thần của lính Mỹ. Bị đánh phủ đầu, bọn lính biệt kích chưa kịp phản ứng đã bị tiêu diệt gọn. Một tên lính da đen bị thương vào chân, cố bò lại khẩu đại liên M60. Nhưng hắn chưa kịp nổ súng đã bị một chiến sĩ cũng đang bị thương nằm cạnh đó diệt luôn. Tên cuối cùng thoát chết trong trận đánh bất ngờ, cố chạy ngược vào rừng cũng bị quân ta truy kích tiêu diệt nốt. Như vậy, trong phút chốc, trên đường đi công tác, 5 cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đã diệt gọn toán biệt kích của Mỹ khi chúng chưa kịp gây tội ác; thu 10 khẩu tiểu liên cực nhanh AR15, một đại liên M60, một súng phóng lựu M79, một máy thông tin PRC 25 cùng toàn bộ quân trang, quân dụng. Bên ta một chiến sĩ bị thương và đã hy sinh trên đường chuyển về đơn vị. Trận đánh dù không lớn, nhưng đã gây chấn động các đồn địch gần đấy. Chúng không ngờ Việt cộng ở đâu xuất quỷ nhập thần như vậy. Do đó, địch ngay tại căn cứ và một số đồn bốt ở gần đó cũng không có phản ứng gì. Sáng hôm sau, chúng mới cho máy bay đổ bộ, xe tăng lên để lấy xác đồng bọn về. Có thể nói, đây là một trận đánh xuất sắc, có hiệu suất chiến đấu cao, với tinh thần dũng cảm kiên cường, ý chí kiên quyết tấn công tiêu diệt địch bất kể chúng ở đâu và trong hoàn cảnh, điều kiện nào. Chiến công trên đã góp phần tô thắm truyền thống anh dũng kiên cường của bộ đội đặc công Đà Nẵng nói chung, Tiểu đoàn Đặc công 87 Đà Nẵng nói riêng.
Ngay sau khi thành lập khoảng ba đến bốn tháng, tức tháng 7 năm 1967, Tiểu đoàn đặc công 87 đã tổ chức tập kích đại đội pháo binh Mỹ đóng ở phía bắc đèo Ông Gấm, thuộc các thôn Tùng Sơn và An Ngãi Tây, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 20 cây số về phía tây. Có thể nói, đèo ông Gấm là tiền đồn án ngữ về phía tây khu vực dân cư đông đúc. Nhân dân ở đây chủ yếu là đồng bào theo đạo Thiên Chúa thuộc các thôn Tùng Sơn và An Ngãi. Căn cứ của địch nằm trên trục đường 14B, nay là đường đi du lịch Bà Nà - núi Chúa. Trước đây, tức năm 1966, Tiểu đoàn Đặc công 89 tập kích trận địa pháo Thanh Vinh. Để tránh bị đối phương đánh bất ngờ vào các căn cứ trong thành phố, năm 1967, Mỹ đã điều lên đây một đại đội pháo binh 105mm, đóng dã chiến trên dãy đồi Lai Láng, nằm về phía bắc đèo Ông Gấm. Chúng thường xuyên bắn phá ác liệt ngày đêm lên các căn cứ của ta như: Phú Túc, An Lợi, Hòa Trung, Nam Yên, Trường Định và khu vực núi Chúa, nay là khu du lịch Bà Nà, nhằm ngăn chặn từ xa để bảo vệ khu hậu cần Mỹ ở Bàu Tràm (Đa Phước) và sân bay trực thăng Xuân Thiều (Hòa Hiệp). Trong khi đó, cục diện chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng lại đang nghiêng về phía ta, khi ta mở chiến dịch hè - thu tấn công quân Mỹ - ngụy đã thu được nhiều thắng lợi lớn.
Tình hình đơn vị chúng tôi lúc ấy vừa mới thành lập đang trong tình trạng vừa phải sắp xếp biên chế tổ chức, bố trí cán bộ, chiến sĩ vào từng vị trí theo khả năng; vừa xây dựng doanh trại, huấn luyện chiến thuật đặc công và chuẩn bị chiến trường để tiểu đoàn tham gia chiến đấu và phối hợp với các đơn vị bạn cùng hiệp đồng chiến đấu tấn công quân địch. Nhận nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng địch ở đèo Ông Gấm, Ban chỉ huy Tiểu đoàn cử lực lượng đi chuẩn bị chiến trường, gồm 9 đồng chí, chia thành 3 tổ do tôi chỉ huy. Trong quá trình điều tra, các đồng chí Tạo, Tùng, Phước, Sửu, Hiền đã đạt được kết quả tốt sau 2 đêm đột nhập vào trận địa pháo đèo Ông Gấm.
Qua điều tra, chúng tôi biết được cứ điểm địch phòng thủ sơ sài; bên ngoài chỉ có 2 lớp rào bùng nhùng, 4 lô cốt, 1 hào giao thông; bên trong toàn nhà bạt và các ụ pháo. Chỉ huy đơn vị xác định đã nắm chắc 95% phần thắng, có thể tác chiến dễ dàng. Bên ngoài, cách căn cứ khoảng 500 mét, chung quanh là đồng bào Thiên Chúa giáo thuộc các thôn Tùng Sơn và An Ngãi. Bọn ngụy quân, ngụy quyền đóng ở đây khoảng 800 tên và cho rằng khu vực này là bất khả xâm phạm. Trên thực tế, trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địch đã lợi dụng đồng bào, gây chia rẽ Kinh - Thượng, lương - giáo để chống lại phong trào cộng sản. Vì thế, đây cũng là một khó khăn khi ta tiếp cận mục tiêu.
Kể từ khi thành lập, đây là trận đánh mở màn của Tiểu đoàn Đặc công 87, vì vậy phải quyết tâm đánh thắng để lập thành tích xây dựng đơn vị và làm nền tảng cho những trận đánh sau. Đó cũng là một trong những trọng tâm của công tác chính trị tư tưởng mà Đảng ủy Tiểu đoàn xác định, nhằm lãnh đạo động viên đơn vị, nhất là bộ phận tham gia chiến đấu lần đầu, ra quân là đánh thắng. Tiểu đoàn lấy Đại đội 1 trước đây thuộc Tiểu đoàn Đặc công 89 làm nòng cốt, chọn 25 đồng chí cán bộ, chiến sĩ có kinh nghiệm chiến đấu tốt trong trận tập kích trận địa pháo Mỹ ở Thanh Vinh năm 1966 và 15 đồng chí cán bộ, chiến sĩ mới từ miền Bắc vào làm dự bị trận đánh. Bên cạnh đó, công tác bảo đảm hậu cần, vận chuyển thương binh, liệt sĩ cũng được chỉ huy đơn vị phân công, bố trí chặt chẽ, cụ thể, tỉ mỉ. Vũ khí mang theo được trang bị mạnh, đặc biệt có 6 khối bộc phá 5 cân để đánh các cụm pháo.
Ngày 10 tháng 7 năm 1967, đơn vị bắt đầu hành quân trên trục đường hành lang. Chúng tôi phải vượt sông, trèo đèo, lội suối, có không ít đoạn đường Mỹ đổ quân phục kích và càn quét khu vực. Thỉnh thoảng pháo binh ở trận địa pháo Hòa Lộc bắn chặn đường. Đặc biệt khó khăn và nguy hiểm khi đội hình vượt qua hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra. Ở đây, địch đặt máy ra-đi-ô xung, loại máy mà dân ta gọi nôm na là cây nhiệt đới, khi phát hiện tiếng động của đối phương sẽ ngay lập tức báo về tổng đài. Đồng thời, các cụm pháo cối lập tức bắn dồn dập đến tọa độ do tín hiệu xác định. Tuy nhiên, quân đội Mỹ dù có cố gắng bao nhiêu cũng không thắng nổi những trinh sát đặc công điêu luyện của ta. Trong điều kiện bình thường, một người dân có thể đi từ cánh bắc sang cánh nam chỉ mất 4 giờ. Nhưng để qua đoạn đường trên đảm bảo an toàn, bí mật thì chúng tôi phải hành quân mất 2 ngày 2 đêm nghĩa là phải đi đường vòng không những để tránh địch mà còn phải tránh nhân dân đi lại trên trục đường này, vì kẻ địch thường trà trộn vào để đi do thám tình hình. Bên cạnh đó chúng còn sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi để phát hiện bộ đội hành quân, hay cán bộ đi công tác qua vùng này. Có trường hợp ta không thể lường trước được, chỉ cần sơ suất nhỏ là có thể rơi vào tay địch ngay. Tôi xin đơn cử một thủ đoạn của địch khiến ta không dễ gì phát hiện. Trên các trục đường hẻm và đường luồn bắt buộc ai cũng phải đi qua, cứ độ 5 giờ chiều, chúng quan sát, trà trộn vào dân để chờ mọi người đi làm về hết rồi đem kẹp heo đặt trên trục đường và cột tranh cỏ qua đường. Sáng hôm sau lên, chúng kiểm tra nếu thấy mất kẹp, mất cỏ tranh là có cộng sản đi qua đây. Trên cơ sở đó, địch sẽ tổ chức phục kích hoặc đặt mìn nhằm để sát thương bộ đội hoặc cán bộ của ta. Có một lần, đồng chí Ngô Văn Hiên là Bí thư chi bộ xã Hòa Ninh, trên đường đi công tác bị dính kẹp của địch, loại kẹp nặng 8 cân. Đồng chí đã phải dùng súng ngắn bắn đứt khóa rồi mang kẹp đi luôn.
Vì thế, trong quá trình hành quân, ta luôn thực hiện khẩu hiệu đối phó với địch là: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không to, ho không tiếng”, đó cũng là nguyên tắc bắt buộc mọi cán bộ, chiến sĩ đặc công phải chấp hành và thực hiện tốt. Ngày 12 tháng 7, đơn vị hành quân đến vị trí tạm dừng tại thôn Hòa Trung (Hòa Liên) và tổ chức đội hình chiến đấu. Lực lượng biên chế thành hai mũi. Mũi 1 do đồng chí Thái Thanh A làm mũi trưởng cùng 8 đồng chí đột nhập vào hướng bắc trận địa pháo và sở chỉ huy của địch. Mũi 2 là mũi chính, do đồng chí Trịnh Xuân Tạo làm mũi trưởng cùng các đồng chí Hiền, Tùng, Sách, Chí... đột nhập từ hướng tây đánh xuống, tôi đi theo mũi này. Đội dự bị gồm 9 đồng chí do đồng chí Phước chỉ huy. Sau đó, các bộ phận lần lượt cơ động đến thôn Mỹ Sơn, đèo Ông Gấm. Theo kế hoạch hiệp đồng, 18 giờ ngày 12 tháng 7, tổ trinh sát tiểu đoàn đi tiền trạm cảnh giới bám địch; 20 giờ, đơn vị tổ chức hành quân; 22 giờ tiếp cận mục tiêu; 23 giờ bí mật cắt rào để lót đội hình sẵn sàng nổ súng.
Khi đội hình dừng lại phía bắc đồi Lai Láng, tôi ra lệnh triển khai, thực hành tiềm nhập theo các hướng như đã phân công. Trời càng về khuya, sương mù càng dày đặc. Đêm tối mịt mùng như bưng lấy mắt bộ đội. Tôi có cảm tưởng chỉ quơ nhẹ cánh tay ra là có thể bốc được một nắm bóng tối và sương mù. Lúc này, pháo của địch tăng cường bắn phá dữ dội về phía tây các căn cứ của ta. Tiếng nổ dồn dập, liên hồi, ánh lửa chớp sáng lòa cả trận địa. Chúng không hề biết rằng đó là những phát đạn gây tội ác cuối cùng của mình. Sự có mặt của những tên lính viễn chinh không hề được nhân dân bản xứ hoan nghênh, ngược lại một cái chết đang chờ đợi chúng. Chỉ trong giây lát nữa thôi, các chiến sĩ đặc công của chúng tôi sẽ biến cái căn cứ tiền đồn này thành mồ chôn những tên lính xâm lược. Nghe tiếng đạn nổ, tôi miên man suy nghĩ như vậy. Nhận định trước tình hình, đúng hơn là đã có trong phương án chiến đấu nên đội hình của ta vẫn bí mật nằm trước họng súng 105mm của địch. Mặc dù tiếng nổ làm rung chuyển cả người nhưng anh em vẫn nằm yên chờ lệnh. Tôi bò theo động viên anh em cứ đúng 23 giờ là thực hành cắt rào lót đội hình. 24 giờ, nghĩa là đã đến giờ G theo hiệp đồng cả trận địa pháo binh Mỹ ngưng bắn. Không gian lại trở về vẻ im lìm trong đêm tối. Chỉ có một toán lính Mỹ đi tuần tra chung quanh các vọng gác. Chúng dùng đèn pha quét qua quét lại nhiều lần nhưng không hề phát hiện ra các chiến sĩ đặc công đang ẩn mình trên các ụ súng đang từng phút, từng giây chờ lệnh nổ súng. Thời gian như ngừng trôi. Hình như mọi hoạt động của sự sống xung quanh đều ngừng hẳn để nhường lại sức mạnh cho những trái tim người lính đặc công. 24 giờ 5 phút, tôi làm hiệu bấm nhẹ đồng chí Tạo, xạ thủ B41, ra lệnh bắn sập lô cốt đầu cầu. Ngay lập tức một quầng lửa da cam bùng lên. Ụ súng vừa mấy phút trước đó còn bắn dữ dội về phía căn cứ của ta bỗng chốc trở thành đống bê tông đổ nát. Nghe tiếng súng, anh em hiểu ngay đó là hiệu lệnh tấn công cho toàn trận đánh. Tiếng nổ của thủ pháo, lựu đạn và những đường đạn căng của súng AK như một tấm lưới lửa trút xuống đầu quân địch khi chúng chưa kịp trở tay. Các đồng chí Tạo, Tùng, Hiền nhanh chóng chỉ huy các mũi phát triển vào trung tâm bắt liên lạc với chỉ huy trận đánh và chờ lệnh đánh pháo. Để kịp thời xử trí những tình huống chiến đấu có thể xảy ra, tôi khẩn trương cơ động về vị trí chỉ huy tiểu đoàn cùng đồng chí Bá Phước (Tiểu đoàn phó) và theo dõi toàn bộ trận đánh. Trong quá trình phát triển chiến đấu, chúng tôi vận động theo hướng của đồng chí Tùng. Lúc này, các đồng chí bộc phá viên đã đặt xong các khối thuốc TNT. Bất ngờ, một phát pháo hiệu đỏ bắn lên không gian báo hiệu cho các chiến sĩ đồng loạt giật nụ xòe rồi lùi xa ẩn nấp. Những tiếng nổ long trời chuyển đất nối đuôi nhau, vang lên như sấm dậy một góc trời đèo Ông Gấm đã xé tung những khẩu pháo của Mỹ thành những đống sắt vụn. Nhân dân các thôn Tùng Sơn, An Ngãi, Phú Thượng và Phú Hạ nghe tiếng bộc phá nổ biết có đánh lớn đã thức dậy xem chúng tôi biểu diễn nghệ thuật “nở hoa trong lòng địch”. Sau khoảng 10 phút chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn đại đội pháo binh Mỹ, phá 6 khẩu pháo 105mm và nhiều xe quân sự; thu một số vũ khí. Khi đơn vị rời khỏi trận đánh, về vị trí tập kết, kiểm tra quân số phát hiện thiếu một chiến sĩ, tôi cùng đồng chí Hoàng Thế Sắc vội quay lại đưa đồng chí của mình ra. Sau đó, tôi tiếp tục chỉ huy đơn vị lui quân về chiến khu Hòa Trung đảm bảo an toàn, bí mật.
Trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, có nhiều diễn biến phức tạp, nhất là từ lúc Mỹ ồ ạt đổ quân vào Đà Nẵng, lấy vịnh Đà Nẵng làm hậu phương cho các loại tàu chiến quân sự neo đậu, sẵn sàng chi viện cho quân đội Mỹ đi các chiến trường Khu 5 và Trị Thiên - Huế. Khi đổ quân vào cảng Phú Lộc, Hòa Khánh, Liên Chiểu, Hòa Hiệp,v.v, địch đóng các đồn bót, tổng kho hậu cần ở Đa Phước, sân bay Xuân Thiều, cầu Thủy Tú, đồi Hầm Vàng và kho xăng Liên Chiểu, trận địa pháo Thanh Vinh. Chúng phái nhiều trung đội biệt kích hành quân lùng sục theo trục đường 1A và đường xe lửa từ cầu Thủy Tú sang Kim Liên và kho xăng Liên Chiểu hòng ngăn chặn đối phương tấn công bất ngờ để bảo vệ an toàn hậu phương của chúng. Về phía ta, Tiểu đoàn Đặc công 87, sau khi thực hiện các trận đánh lớn, chúng tôi lại trở về căn cứ rút kinh nghiệm, học tập, huấn luyện và củng cố về mọi mặt. Trong quá trình vừa chiến đấu vừa xây dựng, đơn vị đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Mọi cán bộ đảng viên, đoàn viên đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng nhận nhiệm vụ và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của cấp trên giao. Đầu tháng 3 năm 1966, tiểu đoàn ra quân đi chiến đấu với phương thức phân tán từng đại đội, đứng ở từng địa bàn khác nhau trên vành đai Đà Nẵng. Mỗi bộ phận tự tổ chức lực lượng điều tra chiến trường, nghiên cứu mục tiêu. Lúc này, tình hình chiến sự ngày càng nóng lên, hệ thống căn cứ chốt điểm trên vành đai phòng thủ Đà Nẵng của địch được củng cố thêm. Quân Mỹ áp dụng hình thức chiến thuật cơ bản trong phòng ngự của chúng là xây dựng nhiều căn cứ hỏa lực và lực lượng để lấp hết các khoảng trống trên vành đai bảo vệ Đà Nẵng. Trước tình hình như vậy, Ban chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng ra lệnh cho các đơn vị bộ đội địa phương và Tiểu đoàn Đặc công 87 đóng quân hướng cánh bắc Hòa Vang mở một đợt hoạt động nhằm tăng cường đánh phá giao thông, tập kích các chốt điểm Mỹ - ngụy để thu hút lực lượng và làm cho địch chú ý hướng này, tạo thời cơ cho Tiểu đoàn Đặc công 89 và các đơn vị ở cánh nam hoạt động mạnh hơn, phối hợp với chiến trường chung.
Theo chỉ thị của cấp trên đêm mùng 6 tháng 8 năm 1967, phải nổ súng ở địa hình. cánh bắc Hòa Vang, cho dù đánh lớn hay nhỏ cũng phải nổ súng bằng được để hướng sự chú ý của địch về cánh bắc nhằm mục đích làm cho chúng phân tán lực lượng không kịp tập trung đối phó. Đêm mùng 6 tháng 8 năm 1967 Đại đội 1, thuộc Tiểu đoàn Đặc công 87, sử dụng một bộ phận do tôi trực tiếp phụ trách lên đường thực hiện nhiệm vụ. Hôm ấy, tôi cùng 11 đồng chí hành quân từ căn cứ cánh bắc Hòa Vang xuống khe Hố Chuối, trong đó có đồng chí Sắc là du kích xóm Kim Liên. Đồng chí Sắc đã dẫn chúng tôi xuống xóm Kim Liên nằm phục kích. Lúc này, trời cũng vừa tối. Theo nguồn tin từ cơ sở, tụi lính Mỹ thường đi tuần từ Liên Chiểu đến Kim Liên. Chúng tôi triển khai đội hình nằm phục kích đến tận 23 giờ 30 phút vẫn không thấy bọn địch đi tuần. Tôi bèn phân công đồng chí Sắc bò vào làng Kim Liên để về nhà hỏi thăm tình hình địch. Ba của đồng chí sắc cho biết hôm đó bọn lính Mỹ đóng quân dã chiến lúc 5 giờ chiều ở cuối làng Kim Liên. Lực lượng của địch gồm có 1 trung đội, 3 nhà bạt, 1 khẩu đại liên. Chúng không bố trí hàng rào, không đào công sự và đóng ngay cạnh đường ray xe lửa, phía dưới quốc lộ 1A. Sau khi nắm chắc tình hình địch cũng như địa điểm đóng quân của địch, đồng chí Sắc nhanh chóng trở lại đơn vị báo cáo. Tôi tập trung anh em lại hội ý. Căn cứ vào ý kiến của đồng chí Sắc và một số chiến sĩ, tôi lệnh cho đơn vị đột nhập theo hướng biển bò lên, vì hướng này địch rất sơ hở không để ý quan sát. Theo kế hoạch đã thống nhất tôi dẫn anh em xuống Hố Chuối, triển khai đội hình, giao nhiệm vụ cho đồng chí Hoàng Trợ (Đại đội phó) chỉ huy trận đánh và đồng chí Sắc dẫn đường. Còn tôi cùng với một đồng chí chiến sĩ liên lạc nằm ngoài để vừa cảnh giới bám địch, vừa giữ đường cho anh em lui quân. Do đặc điểm làng Kim Liên bấy lâu nay ta không tổ chức hoạt động gì lớn nên địch vẫn xem đây là vùng an toàn nhất với địa hình phía bắc là cầu Trắng, cầu Đen, phía nam là cầu Thủy Tú, phía đông giáp biển và phía tây là ấp chiến lược Kim Liên.
Nhận mệnh lệnh chiến đấu, đồng chí sắc dẫn anh em lần lượt vượt quốc lộ 1A. Bất ngờ, một chiếc GMC chạy từ Liên Chiểu vào hướng Đà Nẵng, cách đội hình của ta khoảng 5 mét. Mặc dù đèn pha rất sáng, nhưng chúng vẫn không phát hiện được ta. Các anh tiếp tục bò qua đường 1A, xuống đường xe lửa, rồi xuống hướng biển, sau đó bò lên lại theo hướng địch đóng quân. Khi đội hình bò qua đường xe lửa, anh em nhận thấy quân số của địch lúc này đã tăng lên, do chúng kéo quân từ Liên Chiểu về. Đồng chí Trợ nhanh chóng tổ chức hội ý với các tổ trưởng về vấn đề tăng quân của địch. Anh em vẫn quyết tâm đánh. Đồng chí Trợ chia lực lượng thành 3 tổ, mỗi tổ gồm 3 đồng chí. Khi ta đột nhập vào sát trận địa thì gặp một chuồng bò của dân khoảng 15 đến 16 con. Nhờ tiếng động của đàn bò phát ra nên địch không để ý. Chúng chỉ tập trung chú ý vào hướng từ trên núi xuống. Thực hiện chiến thuật đánh nhanh, diệt gọn, áp sát quân địch phát huy tối đa hỏa lực, xung lực nên ta cố gắng vận động càng sát địch càng tốt. Đặc biệt, đồng chí Hiền ở tổ chính diện đã bò cách chỗ hai tên lính đứng gác khoảng 5 mét. Còn hai tổ đột nhập vào sát hai bên nhà bạt. Khi tất cả đã sẵn sàng, đồng chí Trợ bắn một phát súng ngắn làm hiệu lệnh chiến đấu. Ngay lập tức, đồng chí Hiền tiêu diệt luôn 2 tên lính gác rồi xông lên, cùng anh em dùng AK, thủ pháo, lựu đạn đánh tới tấp vào các mục tiêu nhà bạt, san bằng trận địa làm cho địch không kịp trở tay. Đồng chí Liên, xạ thủ B40, nhanh chóng lấy phần tử bắn dập tắt ổ đại liên, bất ngờ một viên đạn văng trúng vào phổi. Đồng chí y tá kịp thời băng bó vết thương và cùng đồng chí Hiền dìu đồng chí Liên về Hố Chuối, nơi đơn vị tập kết quân số. Các anh lần lượt về đến vị trí tập kết. Đơn vị kiểm tra lại quân số đã phát hiện thấy thiếu đồng chí Ngô Lực, người con của mảnh đất Hòa Liên. Anh đã anh dũng hy sinh trong trận tập kích vừa qua. Trong trận đánh này ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Bọn lính Mỹ bị tiêu diệt hoàn toàn, mặc dù bọn ngụy ở đầu cầu Thủy Tú và Liên Chiểu ở gần đó cũng không kịp dùng bộ binh để chi viện. Chúng phải bắn đèn sáng pháo cối, dùng xe tăng phản kích. Nhân dân vui mừng thông báo, sáng ngày mùng 7 tháng 8, tình hình chiến trận phơi bày ra trước mắt. Những chiếc nhà bạt hôm qua giờ chỉ còn là những đống đổ nát. Đổ che đậy sự thất bại, địch đã điều trực thăng hạ xuống lấy xác ngay trong đêm. Tuy nhiên, sáng dậy, người dân vẫn còn thấy thịt và cánh tay của những tên lính văng vào nhà dân và đường số 1 Các đồng chí tham dự trận đánh này đều được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Sau này, mỗi khi có dịp trở lại thăm làng Kim Liên, Thủy Tú, nơi diễn ra trận đánh năm xưa, tôi vẫn được người dân sống trên mảnh đất này kể chiến công của bộ đội đặc công Tiểu đoàn 87 như mới vừa xảy ra hôm qua. Có thể nói đây là một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất của đời tôi về một trận đánh xuất sắc, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, bất ngờ, hợp đồng chặt chẽ. Trong chiến công chung đó, đồng chí Sắc, người du kích Kim Liên cùng bà con Hòa Hiệp đã góp một phần không nhỏ.
Trên chiến trường miền Nam, Mỹ liên tiếp đổ quân và nhiều hơn dự kiến ban đầu gấp nhiều lần. Tiểu đoàn Đặc công 87 cũng như các lực lượng khác vẫn trong tình trạng vừa xây dựng, vừa chiến đấu, vừa trưởng thành. Quân số luôn có sự thay đổi vì lý do chiến đấu hy sinh, bị thương, cấp trên điều động. Vì thế, chúng tôi phải thường xuyên có kế hoạch vừa chiến đấu, vừa huấn luyện để anh em kịp làm quen với cách đánh của bộ đội đặc công. Đối với tôi, mỗi trận đánh là một kỷ niệm. Không chỉ là chiến thắng mà còn chứa đựng sự đau thương mất mát. Có những anh em vừa mới từ miền Bắc vào một thời gian ngắn đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Mái tóc đen nhánh, nụ cười tinh nghịch mang đậm nét duyên con gái của những chàng trai thư sinh mới lớn lên, vừa rời ghế nhà trường xếp bút nghiên lên đường đánh giặc luôn ám ảnh tôi trong từng bữa ăn giấc ngủ. Là người chỉ huy, tôi không lúc nào nguôi ý nghĩ phải tổ chức trận đánh như thế nào để ta tổn thất ít nhất và đem lại hiệu quả chiến đấu cao nhất. Trong những trận chiến đấu về sau này, tôi đặc biệt ấn tượng với trận đánh đêm giao thừa xuân Mậu Thân 1968. Năm đó, ngày mừng xuân, Tiểu đoàn Đặc công 87 Đà Nẵng đã tổ chức đón một cái Tết đặc biệt, một cái Tết đầy máu lửa.
Trước đó, ngày 19 tháng 8, tôi nhận được bức điện khẩn của đồng chí Tư lệnh Mặt trận 44 gọi vào nhận nhiệm vụ gấp. Vừa đến nơi, gặp các anh cán bộ tiểu đoàn anh em 89, 91 và 71, chúng tôi tay bắt mặt mừng. Như vậy là các đơn vị đặc công cùng đồng nghiệp cũng đều có mặt nhận nhiệm vụ. Chúng tôi được cấp trên thông báo, ta chuẩn bị mở chiến dịch lớn trên phạm vi toàn miền Nam để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, đánh bại âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước. Tham dự trận đánh trên đèo Hải Vân lần này, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ ở ngoài rào chỉ huy chung cả ngày lẫn đêm. Vì thế khi trở lại đơn vị, tôi liền cử hai tổ trinh sát gồm 6 đồng chí đi chuẩn bị 2 mục tiêu là đồn lính Mỹ và đồn lính ngụy trên đèo Hải Vân, do hai đồng chí Tiểu đoàn phó phụ trách. Lực lượng điều tra đồn tên lửa của Mỹ gồm 3 đồng chí Phước, Tạo và Thái A. Hướng đồn lính ngụy do 4 đồng chí Thượng, Sửu, Hiền và Sử nhận nhiệm vụ điều tra.
Sau một tuần lễ tổ chức đột nhập, nhiều đêm quan sát, các đồng chí đã đạt kết quả tốt. Riêng đồn tên lửa Mỹ vào đêm cuối cùng, 3 đồng chí vào được bên trong cổng ngõ đồn thì bất ngờ gặp 3 tên lính Mỹ cùng một con chó béc-giê đi tuần. Chúng đạp trên đầu đồng chí Tạo, thậm chí con chó còn cạp cái mũ trên đầu đồng chí. Trước tình thế này, bắt buộc đồng chí Tạo phải dùng lựu đạn diệt 3 tên lính Mỹ và con chó béc-giê chết tại chỗ và chạy thoát ra ngoài. Còn đồng chí Phước bị kẹt lại trong bờ rào thứ 3. Địch trong đồn báo động bắn ra dữ dội. Chúng cho xe tăng chạy quanh dồn, bắn pháo sáng liên tục cho đến sáng, khiến đồng chí Phước không thể thoát ra ngoài được, phải nằm lại trong bờ rào của địch suốt ngày hôm ấy, chờ đến tối mới bò ra. Sau 3 ngày đêm ăn đói, mặc rét, đồng chí Phước về đến đơn vị người đầy vết thương, thịt da trầy trụa do dây thép gai cào hết cả người. Mặt khác, sau khi thoát ra ngoài, hai đồng chí Tạo và Thái A về báo cáo chỉ huy mục tiêu bị lộ. Ngay lập tức, tôi đưa tổ trinh sát đi trở lại địa hình và trực tiếp dẫn đường đột nhập theo hướng khác. Chúng tôi vượt qua cầu Lô, rẽ xuống biển rồi lên hầm số 2, bò lên đỉnh trận địa tên lửa của địch. Sau 3 ngày đêm đầy khó khăn vất vả, khoảng 2 giờ chiều hôm đó, tôi dẫn tổ trinh sát trèo lên phiến đá cách bờ rào dây thép gai của địch khoảng 50 mét để quan sát. Bên trong cứ điểm của địch hiện ra trước mắt chúng tôi rõ mồn một. Bao gồm: 6 dàn tên lửa Tô-ma-hốc, lô cốt, nhà lính, đài ra đa và sân bay trực thăng. Trong đầu tôi phác nhanh dự kiến hướng tiến công. Tôi nhận định khả năng hướng đông có nhiều sơ hở, chỉ có một lớp rào sơ sài, các dàn tên lửa sát rào, 3 dàn quay ra hướng bắc, 3 dàn quay ra Biển Đông có thể đánh được. Khoảng 10 phút sau, trên sân đồn có 3 con chó béc-giê ngóng đầu ra chỗ cục đá nơi chúng tôi đang ngồi núp. Chúng đánh hơi và sủa lên inh ỏi. Lũ chó sủa ngày càng dữ dội làm cho bọn lính Mỹ nghi ngờ hô toáng lên “Vi-xi! Vi-xi!”. Địch lập tức điều một chiếc xe tăng chạy xuống hướng đông đường cúp cùng 3 con chó béc-giê. Nhưng lúc ấy, chúng tôi đã thoát ra khỏi chỗ đó một cách an toàn, sau khi chui qua ống cống đá dưới đường cúp của ngụy. Tối hôm ấy, tổ trinh sát tiếp tục đột nhập từ hướng đông vào đến các bệ phóng một cách dễ dàng, bởi vì đèo Hải Vân lúc này mây mù bao phủ. cần nói thêm rằng, hàng ngày, trong thời gian từ 18 giờ đến sáng hôm sau, trời vẫn còn tối. Đó là một thuận lợi để bộ đội đặc công đột nhập vào mục tiêu, điều nghiên tỉ mỉ. Coi như bước điều tra lần này đạt kết quả tốt đẹp. Chúng tôi nhanh chóng quay trở lại điểm hẹn, gặp lại các đồng chí đi điều tra đồn Nhứt ngụy báo cáo kết quả. Tôi cho các anh em về trước, còn tôi cùng các đồng chí tiểu đoàn phó là đồng chí Thượng, Sửu, Phước và Sử ở lại tiếp tục đặt đài quan sát, vẽ sơ đồ đồn Nhứt và chọn trận địa cối 82mm của tiểu đoàn, tiến hành đo cự li và tầm bắn trên thực địa của bản đồ độ 800 đến 1.000 mét. Vì ở khoảng cách đó là thuận lợi nhất cho tầm bắn của cối 82mm trong hiệp đồng tác chiến với tiểu đoàn. Cũng ngay trong đêm hôm đó, tôi cùng các đồng chí tiếp tục đột nhập vào đồn Nhứt ngụy để nắm toàn bộ nội, ngoại vi cứ điểm của ngụy một lần nữa. Sáng hôm sau, chúng tôi trở về đơn vị bàn kế hoạch chuẩn bị phương án tác chiến. Lúc này, công việc của tiểu đoàn rất bộn bề, vừa phải củng cố tổ chức, biên chế đơn vị làm doanh trại chỗ đóng quân, cho anh em xuống đồng bằng gùi lương thực đổ vừa ăn vừa dự trữ. Một số đồng chí được cử ra đèo Hái Vân làm nhà chứa gạo và súng đạn, chuẩn bị trạm cứu chữa thương binh. Một tổ trinh sát được cử đi chuẩn bị điều tra sân bay Xuân Thiều, chuẩn bị trận địa cối 82mm đặt tại miếu xóm Nà, hiệp đồng bắn vào sân bay trực thăng Xuân Thiều khi có lệnh mở chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968. Trong một thời gian ngắn nhờ sự thống nhất của cán bộ, chiến sĩ và phát huy tốt tinh thần trách nhiệm nôn công việc chuẩn bị mọi mặt của tiểu đoàn đã hoàn tất.
Bên cạnh việc chuẩn bị vật chất cho cuộc chiến lâu dài, chúng tôi còn được học chính trị để nâng cao nhận thức, xác định quyết tâm cho từng cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng nhận nhiệm vụ trên giao, thi đua lập công xuất sắc. Đơn vị được huấn luyện kỹ thuật đặc công tập kích cứ điểm vào ban đêm, ban ngày; tổ chức phòng ngự đánh địch phản kích khi chúng có xe tăng máy bay yểm trợ trên đường đèo Hải Vân, từ Đà Nẵng ra, từ Thừa Thiên Huế vào khi địch tập trung tại cao điểm đồn Nhứt trên đỉnh đèo Hải Vân, nơi dự kiến sẽ diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt.
Đêm 30, rạng ngày mùng Một Tết Mậu Thân năm 1968, Tiểu đoàn Đặc công 87 chính thức thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm đèo Hải Vân. Nhận mệnh lệnh cấp trên, Tiểu đoàn 87 đã sử dụng 4 đại đội đặc công tập kích tiêu diệt hoàn toàn cụm cứ điểm Mỹ - ngụy. Cụ thể, lực lượng đánh tên lửa do Đại đội 1 đảm nhiệm, dưới sự chỉ huy chung của đồng chí Công; trong đó, đồng chí Chiêm - Đại đội phó làm mũi trưởng. Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, tôi lệnh cho bộ phận này đi trước một ngày. Đội hình đánh đồn ngụy do Đại đội 2 đảm nhiệm, các đồng chí: Phước, Thượng, Sửu chỉ huy. Đại đội cối giao cho đồng chí Sử chỉ huy, có nhiệm vụ bắn chế áp, kiềm chế hỏa lực địch, kịp thời chi viện cho anh em chiến đấu. Tôi đứng ở ngã ba đỉnh đèo Hải Vân, chỉ huy chung.
19 giờ, các mũi ở các hướng đã tiếp cận mục tiêu, 22 giờ khắc phục vật cản, 23 giờ bí mật lót đội hình vào bên trong, 24 giờ hiệp đồng nổ súng. Những mốc thời gian như vậy kể lại sau chiến tranh có vẻ khá dễ dàng, nhưng trong thời điểm ấy chúng tôi có thể phải đánh đổi bao nhiêu sinh mạng của đồng chí, đồng đội chỉ vì một sơ suất nhỏ của mình. Tại đồn Nhứt, chúng đốt pháo, giật đèn sáng, bắn súng chào mừng năm mới. Sau 30 phút, bọn lính ăn nhậu say sưa, sau đó nằm im lặng trong đêm tối mà không hề cảnh giác. Đúng 24 giờ, tức giờ G, Tiểu đoàn đặc công chúng tôi thực hành hiệp đồng nổ súng với toàn mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng. Đêm ba mươi, rạng sáng ngày mùng Một xuân Mậu Thân năm 1968, bị những tiếng nổ của thủ pháo, lựu đạn, AK, B40, B41, đạn cối 82mm đánh phủ đầu, quân Mỹ - ngụy trong đồn gần như bị tê liệt hoàn toàn. Đỉnh đèo Hải Vân như một biển lửa trút lên đầu quân thù. Đơn vị chúng tôi đã làm chủ hoàn toàn trận địa cho đến sáng mùng Một Tết Mậu Thân.
Sáng hôm ấy, toàn tiểu đoàn chuyển sang phòng ngự, sẵn sàng đánh địch phản kích. Quân Mỹ - ngụy hành quân từ Đà Nẵng lên bằng cơ giới, có xe tăng, máy bay yểm trợ. Hướng Thừa Thiên - Huế, chúng cũng hành quân tương tự như vậy. Trước tình thế tiến thoái lưỡng nan khi địch ở Đà Nẵng ra, pháo từ tàu biển bắn lên, địch ngoài Huế vào tôi cùng với các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn vẫn quyết đoán, động viên anh em bình tĩnh chống trả và tìm cách xử trí thích hợp. 12 giờ địch đến vị trí phục kích của ta tại nơi quẹo cánh tay ở chân đèo. Quân ta sử dụng hỏa lực của cối 82mm, B40, B41 đánh phủ đầu quân địch, diệt nhiều tên, bẻ gãy cuộc hành quân tiếp viện cho quân Mỹ - ngụy trên đèo, buộc chúng phải tháo chạy về Đà Nẵng. 18 giờ ngày mùng Một Tết Mậu Thân, toàn tiểu đoàn về vị trí tập kết an toàn. Tuy nhiên, trong trận chiến đấu trên ta không thể tránh khỏi những tổn thất. Đó là sự hy sinh anh dũng của một số cán bộ, chiến sĩ khi tham gia trận đánh này, đặc biệt là tấm gương đồng chí Phòng, người nhảy lên cắm cờ trên lô cốt cố thủ đồn tên lửa Mỹ và đã anh dũng hy sinh. Ngay sau đó, đồng chí Bí thư chi bộ Nguyễn Văn Công, Chính trị viên tiểu đoàn, tuyên bố kết nạp Đảng cho đồng chí Phòng tại trận địa.
Nhận được mệnh lệnh tổ chức lui quân của cấp trên, khoảng 6 giờ chiều hôm đó, tôi cho anh em khiêng thương binh, liệt sĩ về hậu cứ Khe Lạnh (Kim Liên, Hòa Hiệp) nghỉ ngơi để hôm sau về doanh trại ở Khu 1, cánh bắc Hòa Vang. Tôi nắm tình hình tư tưởng, kịp thời giáo dục, xốc lại đội hình, động viên anh em tiếp tục sẵn sàng đi chuẩn bị chiến trường, đồng thời lãnh đạo đơn vị làm kho chứa gạo để chuẩn bị cho những trận đánh tiếp theo. Khi chúng tôi về Khu 1, đang tiến hành làm doanh trại củng cố đơn vị thì bất ngờ gặp một tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ hành quân từ Lăng Cô đi xuyên sơn về Khe Răm. Chúng vô tình đi đúng ngay nơi đơn vị đóng quân. Khoảng 5 giờ chiều, nghe trinh sát báo cáo tôi ra lệnh nhanh chóng chuyển thương binh và cán bô các cơ quan vào sâu trong cánh bắc, để bộ phận chiến đấu ở lại. Lúc này, lực lượng của tiểu đoàn chỉ còn một đại đội tăng cường. Tôi giao nhiệm vụ cho các đại đội đào hầm, chiếm vị trí có lợi đảm bảo đánh địch hiệu quả nhất. Khoảng 7 giờ sáng hôm sau, lính Mỹ ở trên tràn xuống theo khe, hướng sân tiểu đoàn. Do phát hiện địch từ trước nên ta chủ động đón đánh từ xa. Bị bất ngờ chúng vội vàng dừng lại và gọi pháo đánh xung quanh, gọi trực thăng thả dù tiếp tế. Tôi bình tĩnh bám sát đội hình, chỉ huy anh em kiên cường chiến đấu. Tuy nhiên, do chênh lệch về quân số, vũ khí trang bị nên khoảng ba ngày sau địch tràn xuống được và tổ chức truy kích quân ta. Nhưng trên trục đường hành quân của chúng, ta đã bố trí các lực lượng như công binh, đại đội độc lập của khu đội... chặn đánh gây thêm nhiều tổn thất cho địch. Đối với bộ đội đặc công, vì lực lượng mỏng nên rút sâu vào căn cứ thứ hai củng cố lại đội hình, sẵn sàng đánh chống càn, đối phó với B-52, bom tọa độ. Sau bận đó, máy bay chiến đấu của Mỹ - ngụy đã đánh bom nát rừng từ Khe Răm lên khe Hói Mít. Chúng còn cho 3 chiếc máy bay B-52 rải thảm làm các cơ quan khu bị tổn thất nặng. Ngoài ra, máy bay chiến đấu của địch tiếp tục thả chất độc hóa học khiến lá cây rụng hết, buộc chúng tôi phải lấy cành cây khô che hầm bí mật.
Công tác tại Tiểu đoàn Đặc công 87 đến năm 1969, tôi được cấp trên điều động về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Đặc công 89. Sát cánh chiến đấu cùng anh em khoảng hai năm, đến năm 1971, tôi lại chuyển sang Ban 10 Đặc công Mặt trận 4. Sau đó, Bộ Tư lệnh đã điều tôi đi cùng Sư đoàn 2 Quân khu 5 tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đánh Khe Sanh tỉnh Quảng Trị. Trong chiến dịch này, ta đã thu được nhiều thắng lợi to lớn. Xa những người chiến sĩ đặc công một thời cùng nếm mật nằm gai, trong lòng tôi không khỏi bùi ngùi thương nhớ. Nhưng chiến tranh là vậy, dẫu trên bất cứ vị trí nào người lính cũng phải hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đó cũng là cách thể hiện nỗi nhớ đồng đội.
Năm 1972, tôi được cấp trên điều về quận Nhì, thành phố Đà Nẵng làm Quận đội phó. Một thời gian sau, tôi tiếp tục được bổ nhiệm chức danh Quận đội trưởng, có nhiệm vụ xây dựng lực lượng đặc công biệt động thành. Trong bối cảnh chung, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sắp đi vào hồi kết, cục diện chiến trường nhiều nơi ưu thế thuộc về chúng ta; hơn nữa, lực lượng đặc công, biệt động thành đã qua nhiều lần thử lửa, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu nên công việc của tôi cũng gặp khá nhiều thuận lợi. Cùng với việc tổ chức, xây dựng lực lượng, huấn luyện nghiệp vụ,v.v, trong thời gian này, tôi chỉ huy chung ở vòng ngoài và các đội tập kích Tiểu đoàn vận tải công binh và Cơ quan tham mưu tổng hành dinh Sư đoàn 3 của ngụy tại ngã 3 Hòa Mỹ. Kết quả trận đánh, ta đã thu toàn bộ vũ khí, giành thắng lợi to lớn, góp phần tô thắm truyền thống lực lượng vũ trang quận Nhì, thành phố Đà Nẵng.
Hồi ấy, ngã ba Hòa Mỹ là khu tam giác chiến giữa ba xã Hòa Khánh, Hòa Minh và Hòa Phát, nằm trên trục đường 1A, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 5 cây số về hướng tây bắc. Đây là một địa thế vô cùng lợi hại trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng, khi địch đánh chiếm Đà Nẵng Chúng lấy nơi đây làm bàn đạp phòng thủ và tấn công đối phương quyết liệt hơn qua từng giai đoạn lịch sử.
Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ngày 17 tháng 1 năm 1947, nơi đây đã diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt của Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 96 cùng lực lượng dân quân du kích khu tây Đà Nẵng của hai xã Hòa Thắng và Hòa Liên cũ. Ta đã đánh bại 5 đợt phản kích có xe tăng, xe thiết giáp yểm trợ của quân đội Pháp với ý đồ xâm lược đánh nhanh thắng nhanh, giành lại quyền chủ động để cứu nguy cho lực lượng địch đang chiếm đóng Đà Nẵng. Tiểu đoàn 19 đã cùng dân quân du kích đánh bại mưu đồ xâm lược của chúng ngay trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp.
Trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, cũng tại ngã ba Hòa Mỹ này, Mỹ - ngụy cũng lấy nơi đây làm tiền đồn án ngữ nhằm phòng thủ phía tây Đà Nẵng. Chúng đưa đến đây một lực lượng lớn khoảng 5.000 tên. Trong đó, Sư đoàn 3 bộ binh đóng tại thung lũng Sũng Mây, trên dãy núi Phước Tường chạy dài ra dãy núi Đa Phước. Tại đây lính Mỹ đóng đồn bót dày đặc, bao gồm: Tiểu đoàn cơ giới vận tải, một cơ quan tham mưu của Sư đoàn 3 ngụy, quân địa phương, tổng đoàn, dân vệ, bảo an, cảnh sát đóng rải rác trong dân.
Căn cứ Hòa Mỹ nằm trên dãy gò đất cát, chung quanh là ruộng lúa nước của dân. Gò nống cát cao 3 mét so với mặt ruộng, địa hình trống trải dễ quan sát từ xa. Có hàng rào dây thép gai bao bọc, hào giao thông, kiên cố. Ở giữa có lô cốt cố thủ cao 4 mét, được trang bị hỏa lực bắn thẳng có đèn pha cực mạnh chiếu ra xung quanh cứ điểm sáng như ban ngày. Tiểu đội bộ binh địch tuần tra canh gác ngày đêm hết sức nghiêm ngặt. 4 góc rào 4 lô cốt có gắn đại liên M60 sẵn sàng nhả đạn khi có báo động. Ngoài ra, trong cứ điểm nhiều dãy nhà lính lợp tôn được bố trí xen kẽ nhiều nhà để xe ô tô và nhà chứa vũ khí, lương thực để tiếp tế cho quân ngụy ở chiến trường Trị Thiên. Căn cứ Hòa Mỹ được chúng phân ra hai khu vực: khu A tiểu đoàn cơ giới đóng nằm về phía bắc cứ điểm, khu B nằm phía nam cụm cứ điểm là cơ quan tham mưu của Sư đoàn bộ binh 3 ngụy. Khu A và khu B cách nhau con đường cái, địa hình phòng thủ như nhau. Hai đơn vị nằm trong khuôn viên cụm cứ điểm, khi có động tĩnh bên ngoài vào thì hai bên sẽ yểm trợ cho nhau đắc lực. Từ tối đến sáng, các loại xe ô tô vận tải vận chuyển trên đường liên tục.
Được sự nhất trí của ban chỉ huy, tôi dẫn hai tổ trinh sát gồm các đồng chí Xảo, Cưu, Nhơn, Bông và Thắng đi chuẩn bị chiến trường. Từ căn cứ đóng quân đến vị trí trinh sát, chúng tôi phải đi mất 24 giờ và phải vượt qua nhiều đồn bốt giặc. Qua 3 đêm đột nhập, chúng tôi đã nắm chắc toàn bộ nội ngoại vi cứ điểm, đồng thời kết hợp cùng các đồng chí cơ sở Quận Nhì ban ngay cải trang đi bán bánh mì cho bọn lính để vẽ sơ đồ báo cáo cho đơn vị. Đây là những chiến sĩ biệt động thành hoạt động hợp pháp, đứng chung quanh các xã phường, thường xuyên nắm tình hình địch phục vụ chiến đấu tốt.
Tôi lên phương án chiến đấu, đề nghị Quận ủy Quận Nhì báo cáo cấp trên xin thông qua. Cấp trên chấp thuận và yêu cầu đặc công Quận Nhì phải tiêu diệt cho được tiểu đoàn vận tải và cơ quan tham mưu Sư đoàn 3 ngụy tại ngã ba Hòa Mỹ để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị vùng ven đô lúc bấy giờ. Sau khi nghe tôi trình bày phương án chiến đấu, Quận ủy và Ban chỉ huy đã nhất trí phương án và phân công cho tôi trực tiếp chỉ huy với tinh thần “diệt gọn, giành thắng lợi”. Lực lượng tham gia chiến đấu gồm 35 đồng chí với vũ khí trang bị là súng AK, thủ pháo, lựu đạn, B40, B41, được biên chế thành 2 mũi: Mũi 1, do đồng chí Đặng Ngọc Xảo chỉ huy, đánh tiêu diệt tiểu đoàn vận tải công binh; mũi 2, do đồng chí Lê Đức Cưu chỉ huy, đánh tiêu diệt cơ quan tham mưu Sư đoàn 3 ngụy. Tham gia trận đánh còn có đội công tác của quận ủy do đồng chí Phan Văn Tải phối hợp chiến đấu, nhân dân thôn Hồng Phước trực tiếp giúp đỡ giải quyết thương binh, thuốc men, đảm bảo cơm nước cho bộ đội. Trong chiến tranh, công tác hậu cần luôn đóng vai trò quan trọng. Bộ đội có ăn no mới đảm bảo đủ sức khỏe để xung phong, cầm cự với địch. Vì thế, đơn vị phải thực sự biết dựa vào nhân dân. nhờ nhân dân nuôi dưỡng. Trong trận đánh đồn Hòa Mỹ của đơn vị chúng tôi, bà con thôn Hồng Phước đã không quản ngại nguy hiểm, đêm ngày lo cho bộ đội bát cơm ngon, chén canh ngọt. Dẫu đã gần bốn thập ki trôi qua, nhưng tôi không thể nào quên những con người điển hình năm ấy như các chị Ba Dĩ, Năm Miên, Bảy Mau, ông Thủ Tuấn, bà Năm Liên và một số gia đình khác tận tình giúp đỡ trong và sau trận đánh của Đại đội Đặc công quận Nhì, Đà Nẵng.
Ngày 10 tháng 5 năm 1972, tổ trinh sát đi trước bám bến đò Thủy Tú chuẩn bị cho đơn vị vượt sông. Nhân dân thôn Thủy Tú chuẩn bị ghe thuyền chờ sẵn để đón bộ đội sang sông. Ngày 12, đơn vị bắt đầu hành quân, 19 giờ, chúng tôi bắt đầu vượt sông Thủy Tú. 22 giờ, chúng tôi đến vị trí tập kết. Tôi kiểm tra lại lần cuối quân số, vũ khí trang bị. Toàn đơn vị an toàn, đảm bảo sẵn sàng chiến đấu. Tôi giao nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu cho đồng chí Đặng Ngọc Xảo - Đại đội phó làm mũi trưởng và đồng chí Lê Đức Cưu - Đại đội trưởng làm mũi trưởng thứ hai. Còn tôi ở vị trí chỉ huy bên ngoài cùng với đồng chí liên lạc để đón anh em ra. Đúng 23 giờ theo kế hoạch, các hướng mũi bắt đầu tiếp cận mục tiêu, khắc phục vật cản như dò gỡ mìn, cắt hàng rào dây thép gai.v.v. 24 giờ, đơn vị bí mật đưa đội hình vào các mục tiêu. Hôm ấy, không hiểu vì sao khác với thường lệ, ở bên trong cứ điểm của địch, chúng đang tăng cường pha đèn sáng liên tục. Đội tuần tra của chúng ra sức lùng sục xung quanh cứ điểm. Bộ đội bí mật nằm im chờ lệnh.
24 giờ 30 phút, bộc phá viên lên đánh sập lô cốt cố thủ. Toàn bộ các mũi xông lên tiến công địch. Tiếng nổ của thủ pháo, lựu đạn, bộc phá, B40, B41, AK vang lên giòn giã cả trận địa. Trong vòng 30 phút chiến đấu vô cùng ác liệt, đơn vị đã làm chủ hoàn toàn trận đánh, tiêu diệt toàn bộ Tiểu đoàn vận tải công binh và cơ quan tham mưu Sư đoàn 3 ngụy. Lúc này, Sư đoàn 3 ngụy ở Sũng Mây đã báo động cho quân xuống chi viện. Đồng thời, quân địch ở Đà Nẵng cũng kéo lên, nhưng chỉ đứng ở xa, chứ không dám vào chi viện. Đơn vị đã diệt và phá hủy hàng trăm xe các loại, phá hủy một lô cốt cố thủ và nhiều nhà lính, lực lượng địch ở căn cứ Hòa Mỹ bị tiêu diệt hoàn toàn. Đội đặc công quận Nhì đã chiến đấu anh dũng, ngoan cường, thọc sâu đánh hiểm sát thành phố Đà Nẵng, góp phần đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - ngụy.
Sau chiến thắng Hòa Mỹ ba tháng, tức tháng 8 năm 1972, lực lượng đặc công quận Nhì, thành phố Đà Nẵng tiếp tục lập chiến công lớn, đó là trận tập kích Tỉnh đường lưu vong Quảng Trị, khi chúng thất thủ tại Quảng Trị chạy vào Đà Nẵng nương thân, được Mỹ đùm bọc, che chở. Lực lượng này đóng quân tại Bàu Tràm, thôn Xuân Thiều xã Hòa Hiệp. Bối cảnh chung lúc ấy, chiến dịch xuân hè năm 1972 đã được mở ra trên khắp các chiến trường miền Nam, từ Quảng Trị, Thừa Thiên đến Khu 5, Nam Bộ. Quân và dân ta giải phóng tỉnh lỵ và các chi khu, ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn thất bại nặng nề. Điển hình là Tỉnh đường Quảng Trị phải khoác áo lưu vong vào núp bóng căn cứ Đà Nẵng. Mỹ ưu ái dành riêng cho một lô đất ở khu vực Bàu Tràm để nương thân. Chúng là những đứa con nuôi của Mỹ, nằm ở tuyến đầu chống miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Quảng Trị bấy giờ là một chiến tuyến với không biết bao nhiêu năm chứa đầy bom đạn của giặc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước. Một thời tôi đã được chứng kiến nhân dân 3 xã ở đây là Vĩnh Hòa, Vĩnh Chấp, Vĩnh Kim của huyện Vĩnh Linh, trung dũng kiên cường trụ bám cả bầu trời và mặt đất; trong những năm kháng chiến chống Mỹ, quân dân nơi đây đã bắn rơi nhiều máy bay của giặc Mỹ, bảo vệ mảnh đất thân yêu của mình trên tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đầu năm 1972, quân và dân ta tấn công, tiêu diệt hàng loạt đồn bốt ngụy như: Gio Linh, Cam Lộ, Cồn Tiên, Dốc Miếu và giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Lúc đó, bộ máy ngụy quyền và quan quân địch tháo chạy khắp nơi. Khi vào Đà Nẵng, chúng đóng quân trên một đồi cát trắng Bàu Tràm, bao bọc chung quanh là căn cứ hậu cần của Mỹ, bên cạnh đó là sân bay trực thăng Xuân Thiều. Đặc biệt, ở đây có bàu nước sâu bao bọc chung quanh cồn cát trắng, là một địa hình an toàn nhất. Chúng cho nơi đây là bất khả xâm phạm mà không nghĩ rằng ngay trung tâm thành phố cũng trở thành không an toàn đối với bọn Mỹ - ngụy. Chính vì vậy mà chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” bị thất bại thảm hại trên chiến trường, trong đó có Quảng Nam - Đà Nẵng. Bọn này bị tấn công liên tục. Chúng buộc phải dàn mỏng đội hình ra, nơi nào có hoạt động mạnh thì chúng đối phó lúng túng, ăn không ngon, ngủ không yên.
| Thất thủ tại Quảng Trị chạy vào Đà Nẵng, lực lượng Tỉnh đường Quảng Trị đóng quân tại Bàu Tràm bao gồm một đại đội lính bảo an, một trung đội cảnh sát và cơ quan hành chính trên dưới 200 tên, do tên thiếu tá tỉnh phó chỉ huy, có quân Mỹ bảo vệ ngày đêm tại khu hậu cần Đa Phước. Đây là một trong những mục tiêu tấn công của lực lượng đặc công Quận Nhì. Ban chỉ huy Quận đội cử tôi trực tiếp chỉ đạo, tổ chức trinh sát, điều tra cứ điểm trong 2 đêm 10 và 20 tháng 9 năm 1972, gồm 2 bộ phận. Một bộ phận do đồng chí Xảo phụ trách, đột nhập Tỉnh đường Quảng Trị đạt kết quả tốt, bộ phận còn lại do đồng chí Cưu điều tra đồn công binh, tiền đồn bảo vệ tỉnh đường và sân bay trực thăng Xuân Thiều trên trục hành lang cống Bàu Tràm cũng đạt kết quả tốt, bảo đảm có thể đánh được. Thông qua phương án chiến đấu, Ban chỉ huy và Quận ủy Quận Nhì bao cáo lên cấp trên phê duyệt, nhất trí 100% cho Quận Nhì nổ súng. Theo phương án, mũi 1 có 15 đồng chí do đồng chí Xảo chỉ huy, có nhiệm vụ bí mật dẫn đội hình bơi qua Bàu Tràm đánh vào nhà tên tỉnh phó, đại đội bảo an và khu vực cảnh sát, diệt các lô cốt nhà lính, chốt chặn không cho địch tháo chạy sang đồn lính Mỹ. Cấp trên yêu cầu đánh nhanh, giải quyết gọn, rút quân an toàn, đề phòng địch đánh phản kích và chặn đường rút lui của ta. Mũi 2 có 15 đồng chí do đồng chí Cưu chỉ huy có nhiệm vụ tiêu diệt đại đội công binh, chặn quân Mỹ ở sân bay Xuân Thiều, chốt giữ bờ cảng, chờ bộ phận đánh tỉnh đường ra bắt liên lạc với nhau, giải quyết xong công tác thương binh tử sĩ mới được rút lui về tập kết tại xóm cồn. 17 giờ ngày 22 tháng 8 năm 1972, đơn vị tổ chức hành quân, 19 giờ vượt sông Thủy Tú, 22 giờ đến vị trí tập kết, 23 giờ toàn đội hình vượt qua Bàu Tràm. Tôi đưa bộ đội xuống triển khai tại xóm cồn, đồng thời giao nhiệm vụ cho đồng chí Xảo, đồng chí Cưu. Tôi ở ngoài cảnh giới và đón anh em ra. 23 giờ 30 phút, ta bí mật lót đội hình theo phương án tác chiến. 24 giờ, tức giờ G, khối bộc phá 5 cân đặt tại chân cầu thang nhà tên tỉnh phó giật nụ xòe là hiệu lệnh tấn công cho toàn trận đánh. Bộ phận đồng chí Cưu nhanh chóng tiêu diệt đại đội công binh, làm chủ trận địa, chốt chặn quân địch không cho địch chạy sang sân bay Xuân Thiều. Bộ phận du kích các xã Hòa Hiệp và Hòa Khánh, do đồng chí Phan Văn Tải phụ trách, hiệp đồng nổ súng vào khu vực hậu cần Mỹ ở Bàu Tràm để nghi binh, kéo địch đánh lạc hướng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng đặc công hướng chủ yếu lui quân an toàn. Kết quả ta tiêu diệt hoàn toàn Tỉnh đường lưu vong Quảng Trị và đại đội công binh ngụy tại bờ cảng Bàu Tràm, Xuân Thiều. Quân ta đã tiêu diệt địch được cả hai nơi, gồm lực lượng lính ngụy và cảnh sát, trong đó có tên thiếu tá tỉnh phó Quảng Trị. Kết quả trên đã thể hiện một trận đánh xuất sắc của Đại đội Đặc công Quận Nhì: dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, anh dũng tuyệt vời cùng với sự hiệp đồng chặt chẽ giữa quân và dân hai phường Hòa Hiệp, Hòa Khánh đạt hiệu suất chiến đấu cao. Đặc biệt, trong trận đánh đã nổi lên một số tấm gương chiến đấu dũng cảm, kiên cường như các đồng chí Xảo, Cưu, Nhơn, Bông, Cúc, Diêm, Điến... cùng với người chỉ huy sâu sát, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, linh hoạt mưu trí và quyết đoán trận đánh tốt. Năm 1974, sau khi đi tập huấn chiến thuật đặc công toàn quốc, rút kinh nghiệm tác chiến đặc công toàn miền Nam tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, do Binh chủng Đặc công tổ chức; cuối năm 1974, tôi trở về tham gia chuẩn bị chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam nói chung. Ngày 29 tháng 3 năm 1975, các đơn vị địa phương phối hợp với các sư đoàn chủ lực tấn công các hướng vào thành phố Đà Nẵng đã thu được thắng lợi trọn vẹn. Tháng 4 năm 1975, cấp trên điều tôi về làm Quận đội trưởng Quận Nhất, có nhiệm vụ tập hợp lãnh đạo giải quyết hậu quả chiến tranh, giải quyết an ninh trật tự rất phức tạp, tổ chức cải tạo và học tập cho ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, phá gỡ bom mìn để lại. Trong giai đoạn này, Đà Nẵng 3 năm liền (từ 1975 đến 1977) chủ yếu tập trung giải quyết hậu quả chiến tranh, củng cố các tổ chức Đảng, chính quyền và mặt trận, ổn định kinh tế, an ninh quốc phòng địa phương. Năm 1977, trước yêu cầu nhiệm vụ mới đòi hỏi, cũng là nguyện vọng của bản thân, tôi được tổ chức cử đi học bổ túc quân sự địa phương trong thời gian một năm ở Học viện Quân sự Đà Lạt. Ra trường năm 1978, tôi tiếp tục trở về nhận công tác quận Nhất. Cũng trong năm đó, Thành đội Đà Nẵng được thành lập. Cấp trên điều động tôi nhận nhiệm vụ mới, làm Chỉ huy phó Thành đội. Tình hình Đà Nẵng hồi mới giải phóng, đời sống của nhân dân còn khó khăn. Vì thế, cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ cũng thiếu thốn đủ thứ. Để góp phần cải thiện đời sống cho bộ đội, tôi đã bàn với các đồng chí cán bộ lãnh đạo mở cuộc vận động anh em tăng gia sản xuất. Dần dần, nhiều đơn vị đã tự túc được rau xanh, bổ sung quỹ vốn, nâng cao bữa ăn cho bộ đội. Cùng với công tác hậu cần, việc duy trì kỷ luật, chống tình trạng xả hơi, tư tưởng công thần sau chiến thắng cũng được đơn vị duy trì thường xuyên. Vì thế, đơn vị luôn ổn định. Năm 1983, tôi được nghỉ hưu, trở về đời thường, vui cuộc sống gia đình tại phường Thạch Thang, quận Hải Châu. Suốt hơn ba mươi năm quân ngũ, về hưu phải đối mặt với gánh nặng cơm áo gạo tiền cũng là một thách thức lớn đối với tôi. Hồi ấy, cuộc sống gia đình tôi gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế. Để nuôi sống đàn con, duy trì sự tồn tại của gia đình, tôi đã làm bất cứ việc gì mình có thể như đi đào phế liệu, lên rừng đốn củi, bứt mây,v.v. |



