TRỞ VỀ, THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH.
Đầu năm 1975, khi cục diện chiến trường chuyển biến quyết định sau thắng lợi ở Tây Nguyên, tác giả cùng nhiều cán bộ đang học tại miền Bắc khẩn thiết xin trở lại chiến trường. Được chấp thuận, ông hành quân thần tốc về miền Nam, nhận nhiệm vụ Sư đoàn phó, Tham mưu trưởng Sư đoàn 5 đúng thời điểm chuẩn bị cho Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trực tiếp tham gia xây dựng kế hoạch, tổ chức hiệp đồng và chỉ huy các đơn vị đánh chiếm Bến Lức, cắt đứt Quốc lộ 4, giải phóng hoàn toàn tỉnh Long An, góp phần cô lậ
Đến tháng Giêng, tháng Hai năm 1975, tình hình chiến sự miền Nam diễn ra khẩn trương. Tháng Ba, ta mở chiến dịch Tây Nguyên. Tôi và một số đồng chí đang học suy đoán: Có thể diễn ra đánh lớn. Có thể đây là trận cuối cùng đánh cho ngụy nhào vì Mỹ đã rút rồi, khó trở lại.
Chúng tôi không yên tâm nổi để học tập nữa. Tôi và một số đồng chí muốn xin về song không dám báo cáo.
Hằng đêm, chúng tôi phân công nhau ra trạm khách Bộ Quốc phòng mong được gặp các đồng chí Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam ra để đề đạt nguyện vọng.
May quá, khoảng cuối tháng 3-1975, anh Tư Chi (Thượng tướng Trần Văn Trà) đến trạm khách để làm việc trong Quân ủy, tôi tranh thủ xin gặp anh. Mới thấy tôi vào, anh hồ hởi hỏi ngay:
- Năm Hưng làm gì ở đây?
Tôi trình bày với anh rằng số anh em đang học bổ túc quân sự nôn nóng quá, xin về.
Anh nói liền:
- Học gì nữa! Tôi báo cáo Bộ Quốc phòng xin cho các đồng chí về phụ với anh em...
Ngay lúc đó, anh điện xin Quân ủy và được trả lời ngay:
- Đồng ý cho các đổng chí ở Sư đoàn 5 và Sư đoàn 9 về.
Anh Tư Chi vui vẻ báo tin cho tôi
- Quân ủy đồng ý rồi. Năm Hưng về báo với anh em chuẩn bị đi ngay trong đêm nay.
Tôi mừng như mở cờ trong bụng, xách xe đạp chạy thẳng về Học viện. Trước hết, tôi chạy lại phòng anh Út Thới. Báo tin xong, qua phòng Năm Tích. Thấy Năm Tích đang mặc quần cụt áo thun, tôi nói:
- Chuẩn bị đồ đạc, xuống hành chính thanh toán, về Nam.
Năm Tích ở Sư đoàn 9 là người nôn nóng về Nam nhất, nhưng anh lại sợ tôi nói chơi, trả lời xuôi xị:
- Tôi không thèm về Nam, tôi ở học.
Tôi bỏ về phòng lo chuẩn bị đồ đạc. Chỉ lát sau, Năm Tích chạy qua, thấy tôi đang chuẩn bị tư trang thật, anh bàng hoàng hỏi:
- Thật hả Năm Hưng?
- Không thật thì giả sao! về chuẩn bị đi, 23 giờ lên Phòng tài vụ thanh toán.
Lúc đó anh mới chạy về chuẩn bị.
Cùng trong đêm ấy, Văn phòng Quân ủy điện cho Học viện Quân sự danh sách cho về Nam ngay. Trong danh sách đó có tôi, anh Út Thới (Nguyễn Thới Bưng, sau là Trung tướng, Thứ trưởng, Bộ Quốc phòng), anh Năm Tích (Sư đoàn 9), anh Hai Phê... còn phần lớn phải ở lại học...
23 giờ, những người có tên trong danh sách được trở về Nam lên phòng tài vụ thanh toán. Anh nào tâm trạng cũng phấn khởi, hồ hởi. Cả đêm, chúng tôi không ai ngủ được. Người được đi thì vui vẻ. Những đồng chí phải ở lại buồn ra mặt.
Sáng sớm, chúng tôi đã tập trung ở trạm 66 Bộ Quốc phòng. Toàn bộ trang bị thay đổi hết: quần áo gọn nhẹ, lương khô, dao găm, súng ngắn, võng, tăng...
11 giờ, chúng tôi được đưa sang sân bay Gia Lâm, lên máy bay cánh quạt, bay vào sân bay Đồng Hới, sang máy bay trực thăng đưa lên đường Trường Sơn, đáp xuống trạm nào đó tới nay tôi không còn nhớ.
Đêm hôm đó, đoàn tôi có 12 người do anh Út Thới làm Trưởng đoàn. Sáng hôm sau, ngày 5 hay 6 tháng 4 gì đó, đoàn được cấp ba xe U oát làm phương tiện. Trên đường về Nam gặp quân ta đang hành quân rầm rập. Xe chúng tôi nhỏ, chạy nhanh, cũng thần tốc len lỏi vượt cả bộ binh, pháo binh, xe tăng mà chạy. Chúng tôi chạy ngày, có đêm nghỉ, đêm không, do cung đường quyết định. Khó nhất là chen lấn với pháo binh và xe tăng để vượt lên đi trước.
Ngồi trên xe tôi thầm tính, mình vượt Trường Sơn lần này là lần thứ tư. Lần đầu vào năm 1952 gian khổ từ Nam ra Bắc. Lần thứ hai năm 1961, vừa gian khổ vừa khó khăn từ Bắc vào Nam; Lần thứ ba năm 1973, đi nhanh nhưng ác liệt từ Nam ra Bắc. Và lần này... ít gian khố, ít ác liệt mà đầy niềm vui chiến thắng...
Sáng 12 tháng 4, chúng tôi đến Lộc Ninh. Anh Út Thới vào liên hệ với Bộ chỉ huy Miền, ở đây, chúng tôi chia tay. Anh Út Thới về làm Trưởng phòng tác chiến Bộ Tham mưu Miền, Năm Tích về làm Sư đoàn phó Sư đoàn 9. Tôi nhận quyết định về làm Sư đoàn phó, Tham mưu trưởng Sư đoàn 5.
Các đơn vị đều đã triển khai các hướng chuẩn bị tấn công Sài Gòn. Tôi mừng quá, chỉ chút nữa là mình không có mặt ở trận quyết chiến chiến lược này nếu như không gặp anh Tư Chi. Khởi đầu chống xâm lược mình có mặt. Nay kết thúc chiến tranh vẫn có mặt, dù có hy sinh trong trận này cũng hả dạ!
Sáng ngày 13, Bộ chỉ huy Miền điều một xe U oát khác cấp tốc đưa tôi về Sở chỉ huy Sư đoàn bộ binh 5 Từ Lộc Ninh, xe chạy theo đường quân sự làm gấp qua một phà trên sông Vàm Cỏ, chạy băng đồng Bàu Oét về biên giới Việt Nam - Campuchia. Chập tối thì xe đến hậu cứ Sư đoàn do anh Tư Bường (Tham mưu phó) phụ trách. Hậu cứ Sư đoàn 5 đêm qua mới bị bọn phản động Pôn Pốt ném lựu đạn, mọi người đang căng thẳng canh phòng và đều ở gần công sự, sẵn sàng chiến đấu. Xe tôi bật đèn pha chạy thẳng vào chỗ anh Tư Bường. Mọi người thấy tôi về đều ngỡ ngàng, mừng rỡ vì nghĩ tôi còn phải học một năm nữa. Câu đầu tiên, Tư Bường chào tôi:
- Chị Năm cũng ở đây.
Vợ tôi cũng bất ngờ và vui mừng không tả xiết.
Tôi điện báo ngay cho Sở chỉ huy Sư đoàn biết tôi đã về. Và ngày mai, tôi sẽ có mặt ở Sở chỉ huy.
Ngày 14, anh Tư Bường tổ chức liên lạc và vệ binh đưa tôi băng đồng Long An, đi suốt ngày, chỗ lội bưng, chỗ đi xuồng. Năm giờ chiều, tôi tới Sở chỉ huy ở rừng tràm Tà Yến, cách thị xã Tân An bốn kilômét.
Sau khi trao đổi tình hình nhiệm vụ với Ban chỉ huy Sư đoàn (Năm Thược - Sư đoàn trưởng, Tám Hòa - Chính ủy, Ba Đối - Sư đoàn phó), tôi gặp anh Hai Hiệu (cơ quan tác chiến), anh Sáu Tấn (quân báo) và anh Năm Hưng (thông tin - trùng tên với tôi).
Tất cả Sở chỉ huy rất mừng khi thấy tôi về vì anh em đã quen với tôi từ nếp nghĩ đến tác phong làm việc. 11 giờ đêm, tôi điện xuống các trung đoàn để chào, cũng để nắm tình hình. Các trung đoàn trưởng Tám Nỷ (Trung đoàn 1), Quân (Trung đoàn 2), Tám Luông (Trung đoàn 3) đều mừng rỡ làm tôi cảm thấy ấm áp vô cùng.
Từ ngày 15, tôi bắt tay vào cùng chỉ huy với Ban chỉ huy Sư đoàn.
Nằm trong đội hình của Đoàn 232 (tương đương cấp quân đoàn), Sư đoàn 5 được tăng cường một trung đội pháo 105 ly với 2 khẩu và một đại đội xe tăng lội nước (12 xe), có nhiệm vụ bóc gỡ hết đồn bốt vòng ngoài của tỉnh Long An, áp sát vào đường 4, chia cắt chiến dịch trên đường 4, đoạn Bến Lức - Long An và đoạn Long An - ngã ba Trung Lương, không cho địch từ Sài Gòn chạy về miền Tây và không cho địch từ miền Tây kéo về chi viện cho Sài Gòn. Khi có lệnh, lập tức tấn công tiêu diệt chi khu Bến Lức và tiểu khu Long An, giải phóng toàn tỉnh Long An.
Cùng trong ngày 15 tháng 4, chúng tôi nhận được thông báo của Bộ Chỉ huy Đoàn 232: “Bộ Chính trị đã thông qua chiến dịch giải phóng Sài Gòn mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh”.
Một đợt thông báo công tác tư tưởng của Sư đoàn xuống các đơn vị, đơn vị động viên quyết tâm đánh trận quyết định giải phóng Long An, góp sức vào giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam. Toàn đơn vị phấn khởi, sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ.
Ngày 20 tháng 4, sau nhiều ngày tác chiến ác liệt, Trung đoàn 3 đã gỡ bỏ hết 6 đồn bốt lẻ dọc theo sông Vàm Cỏ, Tắc Gừa rồi vượt sông ém gần đường 4. Trung đoàn 2 đã đến rừng tràm sát sân bay Long An. Trung đoàn 1 cũng đã vào vị trí tập kết tại ngã ba Trung Lương. Gian khổ khó khăn là vấn đề 2 khẩu pháo 105 ly, anh em đã tháo rời ra để chở đi bằng xuồng, song còn một bộ phận nặng nhất khoảng 600 kg không tháo được phải... khiêng để lên ghe chuyển dần xuống. Xe thiết giáp vẫn ở biên giới Campuchia - Việt Nam.
Ngày 26 tháng 4, Bộ chỉ huy Sư đoàn ra lệnh Trung đoàn 3 tấn công chi khu Bến Lức, chiếm đường 4. Tôi dặn anh Tám Luông:
- Bất kỳ giá nào cũng phải chiếm được đường 4 nghe Tám Luông.
- Anh yên chí. Tác phong Tám Luông là vậy.
Tôi nói với Tám Nỷ, Trung đoàn 1:
- Ngã ba Trung Lương địch sẽ dồn nhiều. Anh Tám tổ chức kỹ, đánh chắc, anh Tám à!
- Sư đoàn yên tâm. Tôi đã cho trinh sát bám rồi.
Tôi nói với Quân, Trung đoàn 2:
- Anh cho cán bộ và trinh sát bám tiểu khu Long An, tổ chức chiến đấu chu đáo, chờ pháo binh, khi có lệnh Sư đoàn thì tấn công.
Quân trả lời:
- Trung đoàn đã cho bám kỹ. Một bộ phận đã vượt đường sang phía đối diện rồi.
Tôi đôn đốc Tạ Điển (Chủ nhiệm pháo) kiểm tra xem 2 khẩu pháo và 100 viên đạn tới đâu. Và ra lệnh cho đại đội xe tăng lội nước tiến về hướng sông Vàm Cỏ.
Đêm 27 tháng 4, 2 khẩu pháo 105 ly với đầy đủ cơ số đạn đã chiếm lĩnh trận địa gần sân bay Long An. 11 giờ đêm, xe tăng đến sông Vàm Cỏ, đang qua sông gặp tình huống bất ngờ. Một đoàn tàu chiến của căn cứ hải quân Bến Lức từ phía trên chạy về căn cứ Bến Lức trong lúc xe tăng lội nước của ta đã lội cặp sông.
Tôi đoán, có thể tàu địch đã phát hiện được quân ta nhưng hoảng quá vì thấy quân ta đông, lại có xe tăng nên chúng chạy thẳng. Khi xe tăng lên bờ, tôi ra lệnh xe tăng chạy cặp bờ bắn chặn đoàn tàu và bộ binh Trung đoàn 3 đã bắt hết quân lính của 3 tàu chiến địch trong đêm.
Rạng sáng 28, Sư đoàn ra lệnh cho Trung đoàn 3 vây chặt và tấn công căn cứ Bến Lức, chiếm đường 4. Trung đoàn 1 chiếm ngã ba Trung Lương. Pháo binh bắn vào tiểu khu Tân An. Xe tăng phối thuộc Trung đoàn 2 tấn công tiểu khu.
Sức tấn công như vũ bão của quân ta trên các hướng tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn. Trong ngày 28, Sư đoàn đã chia cắt đường 4. Hết ngày 29, Trung đoàn 2 đánh chiếm và làm chủ tiểu khu Long An. Sáng 30, Sở chỉ huy Sư đoàn 5 đã di chuyển về căn cứ hải quân Bến Lức của quân ngụy Sài Gòn.
Sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ chia cắt chiến trường trên đường 4, chặn đứng và cắt đứt đường 4, tiêu diệt chi khu Bến Lức và tiểu khu Long An. Cùng với lực lượng tại chỗ, Sư đoàn đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Long An.
Gần 30 năm theo cách mạng, gắn bó với cách mạng, lần này là lần tôi vui mừng tột đỉnh, nhưng cũng không khỏi chạnh lòng thoảng qua một nỗi buồn man mác. Để có ngày nay, bao nhiêu đồng chí, đồng đội đã ngã xuống. Nước mắt tôi tràn mi, rơi xuống, không biết là buồn hay vui nữa !



