TRỞ VỀ TỔ QUỐC
Cuối năm 1944, lực lượng Việt Minh từ nước ngoài trở về nước, một bộ phận tham gia thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, số khác ở lại hoạt động du kích, xây dựng và bảo vệ căn cứ. Tác giả được phân công về Tràng Định (Lạng Sơn) gây dựng cơ sở, chống thổ phỉ, mở rộng phong trào. Nhờ bám dân, làm tốt binh vận, thu phục lính dõng, lực lượng Việt Minh nhanh chóng làm chủ nhiều vùng nông thôn. Tháng 3-1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, thời cơ thuận lợi, ta thu được nhiều vũ khí và p
Cuối năm 1944, anh em Việt Minh được trở về nước theo chỉ thị của trong nước và sự đồng ý của Đệ tứ chiến khu.
Sau khi về nước, đại bộ phận anh em học sinh Việt Minh ở nước ngoài theo chỉ thị của Đảng ta cùng với anh em du kích trong nước tham gia thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, còn một số anh em mà đã quen thuộc với việc hoạt động ở biên giới thì ở lại hoạt động du kích, chống thổ phỉ, bảo vệ khu căn cứ cách mạng và xây dựng cơ sở cách mạng. Lúc đó, tôi được trên phái xuống huyện Tràng Định - Lạng Sơn, gây dựng cơ sở hoạt động, phát triển phong trào Việt Minh và phong trào du kích, bảo vệ căn cứ cách mạng. Nhiệm vụ trọng tâm mà trên giao cho chúng tôi là: bằng mọi cách phải củng cố, mở rộng và phát triển khu căn cứ cách mạng, nhất là chống lại bọn thổ phỉ.
Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng có cử đồng chí Đàm Minh Viễn (anh đồng chí Đàm Quang Trung) cùng tôi xuống Tràng Định. Anh Viễn chịu trách nhiệm chỉ huy chung. Từ Cao Bằng chúng tôi hành quân qua Tây Đông Khê để về Tràng Định. Anh Viễn là một người sắc sảo, có tác phong hoạt động linh hoạt, dũng cảm, ngoài khả năng và trình độ quân sự khá, anh còn có biệt tài trong công tác vận động quần chúng. Lúc bấy giờ, việc dựa vào dân để sống và hoạt động, gây dựng cơ sở cách mạng, phát triển phong trào Việt Minh và du kích, thì những con người như anh là rất quý, rất có lợi cho cách mạng.
Có một chuyện này, mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn cho là có ý nghĩa rất sâu sắc trong đời sống thường nhật của mỗi con người. Đi cùng với chúng tôi có cả chị em phụ nữ, có lần vào ban đêm khi hành quân chưa trèo lên được hang núi, chúng tôi phải tạm nghỉ qua đêm ở dưới chân núi, hoặc có lần chỉ tìm được có một chiếc lán nhỏ. Trong hoàn cảnh đó, thì chỉ còn một cách là nằm ngủ chung với nhau ở một chỗ. Nam, nữ ngủ cùng với nhau mà không hề có chuyện rắc rối, không xảy ra điều gì không hay. Điều đó chứng tỏ, lúc đó anh em ta có tinh thần đồng chí đồng đội rất tốt, thương yêu, quý trọng nhau mà lại rất nghiêm túc trong việc giữ vững các nguyên tắc trong sinh hoạt. Thật là lầm lẫn, nếu một ai trong số chúng ta lại cho rằng đó là việc làm đơn giản, chỉ có những ý nghĩ và động cơ trong sáng, không bao giờ gợn đục trong mỗi con người mới giữ được phong cách và giới hạn của mối quan hệ giữa con người với con người, giữa nam giới và nữ giới.
Thế là, hơn một năm sau, tôi lại được trở về vùng giáp biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Đó là vùng Tràng Định giáp với Hạ Đống - Long Châu, nơi mà tôi đã từng đến hoạt động từ những năm 1940 và 1943. Cuối năm 1944 đầu năm 1945, cơ sở Việt Minh của ta ở vùng này đã phát triển khá mạnh, phần lớn các làng xa cách thị trấn 2-3km đều có các cơ sở Việt Minh và phần lớn lĩnh dõng đóng ở đây ta đã thu phục được. Họ trở thành lực lượng vũ trang ta. Còn một số tên Chánh tổng, lý trưởng ác ôn, phản động đều bị ta xử phạt rất nghiêm để răn đe và bảo vệ phong trào, nên sau này, những tên khác lên thay cũng không còn hung hăng như trước nữa. Lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang của ta lúc này khá mạnh. Vì thế mà tình báo địch, gián điệp của địch không tài nào lọt vào được khu du kích của ta. Có lần chúng đi lẻ một vài tên là bị ta bắt gọn.
Về đây tôi được gặp lại một số cán bộ cốt cán của địa phương như anh Hải, anh Ý, anh Hẻn. Anh Hải là người dân vùng biên giới giáp Trung Quốc nên rất thông thạo địa hình, chúng tôi đi đâu mà có anh dẫn đường, thì việc đi lại rất dễ dàng, thuận lợi. Anh Hải như con sóc trên rừng, hoạt động rất mưu trí, dũng cảm. Có lần chúng tôi đến một cơ sở, ăn ở công khai cả ngày lẫn đêm, không ngờ bọn mật thám đánh hơi thấy, chúng đi báo cho quan thầy biết. Khi chúng tôi di chuyển sang bản khác cũng là lúc ban đêm địch đem quân đi càn ở bản mà chúng tôi vừa ở. Với kinh nghiệm dày dạn, anh Hải cùng du kích trinh sát dũng cảm đi trước dọn đường. Khi gặp toán địch đi càn, anh chỉ huy anh em tạt vào bìa rừng và chủ động đối phó rất khôn khéo.
Khi thấy ta chỉ có vài người lại không có vũ khí, nên chúng không nghi ngờ và bỏ đi. Lần ấy anh em chúng tôi đã kịp tạt rừng đi tắt sang bản khác, tránh được cuộc đụng độ không cần thiết. Tuy nhiên, sau sự việc đó, chúng tôi lại có được bài học vô cùng quý giá, bài học chủ quan về mất cảnh giác.
Sau khi chúng tôi đi khỏi bản, bọn lính đi càn không đạt được mục đích chính, nhưng chúng đã bắn chết một vài cán bộ địa phương. Đó là sự trả giá cho bài học này. Thực ra lúc đó, địch chỉ dám tổ chức càn quét ở những bản nằm sâu trong nội địa (trong đó có bản Nà Cạo), còn những bản nằm giáp biên giới thì chúng không dám đưa quân ra. Vì thế chúng tôi không chú ý, cho rằng bản này cũng sẽ an toàn. Anh em chúng tôi tổ chức giết chó, gà, lợn, ăn uống công khai, ồn ào, vui vẻ. Có lẽ vì thế mà chúng cho rằng quân du kích đông nên chúng đã tổ chức cuộc càn để "cất vó" du kích. Thật hú vía, nếu không có anh Hải làm sao chúng tôi rút lui kịp.
Do cơ sở cách mạng, cơ sở du kích của ta vững như vậy nên ban ngày, anh em Việt Minh, du kích cũng có thể vào được những bản chỉ cách đồn lính khố đỏ khoảng 2-3km. Do làm tốt công tác vận động binh lính địch mà một số anh em lính khố đỏ đã làm cơ sở Việt Minh, có đêm anh em Việt Minh vào tận trại con gái (khu gia binh) để liên lạc với anh em khố đỏ, lấy tin tức của địch do họ cung cấp cho.
Lúc này, ta đã hầu như hoàn toàn làm chủ vùng nông thôn, ngoài ra đã tổ chức hệ thống giao thông liên lạc tốt Mỗi làng (hoặc bản) đều có tổ giao liên và người phụ trách giao liên để tổ chức đưa đường hoặc tư tín. Có những lần chúng tôi muốn đi qua đường cái lớn vào buổi chiều thì chỉ cần các em nhỏ 13-14 tuổi dẫn đường. Thư từ lúc đó, ngoài phong bì thường có con dấu ký hiệu bằng hai chữ VM, còn nếu thư nào ngoài phong bì có chữ VM kép (VM/VM) thì phải chạy ngay, đưa ngay (công văn hoả tốc). Hồi đó, đi đưa công văn thư từ hoả tốc thì ban đêm cũng phải đi, đốt đuốc và đi đường tắt nên rất nhanh.
Có một điều rất thuận lợi và lý thú là khi trở về vùng này hoạt động, tôi lại được gặp lại những người bạn cũ (chiến hữu). Đó là ông Tài Thầu và ông Phan Toàn Chân. Lần này tôi và một đồng chí cán bộ nữa đi ra biên giới thì gặp một toán thổ phỉ đang cướp bóc ở một bản. Chúng tôi có can ngăn bọn chúng và gặp một tên tướng phỉ nói cho nó hiểu đây là cơ sở Việt Minh, nhưng bọn chúng không nghe, hơn nữa tên tướng phỉ này chúng tôi lại không quen. Chúng tôi lại nghĩ ra cách cũ, tự xưng tao là em Tài Thầu và Phan Toàn Chân đây, song chúng vẫn thu súng của chúng tôi. Thấy bị lộ, chúng vội vàng thu dọn những thứ cướp đã được và rút lui, chúng tôi lại tìm gặp hai ông Tài Thầu và Phan Toàn Chân; kể lại tình hình và nhờ hai ông giúp đòi lại súng. Thế là sau đó, chúng phải trả lại súng cho chúng tôi thật. Điều ấy lại càng chứng tỏ rằng hai ông là những lãnh tụ địa phương có uy tín trong vùng và trong nhân dân rất cao, bọn phỉ nào mà chẳng phải sợ! Đặc biệt, có lần, nếu cần Tài Thầu có thể huy động tới 100 tay súng.
Cán bộ Việt Minh, lúc đó rất có uy tín đối với dân, chẳng thế mà những mâu thuẫn, những gì vướng mắc trong dân, trong mỗi gia đình, nếu cán bộ Việt Minh đến, giải thích là đồng bào đều nghe theo.
Ngày 9 - 3 - 1945 Nhật đảo chính Pháp, lúc này phong trào Việt Minh lại càng phát triển mạnh. Bọn lính dõng, lính khố đỏ tan rã và chạy về nông thôn khá đông, ta đã thu được nhiều vũ khí trang bị cho các đội du kích mới thành lập. Thậm chí anh em lính khố đỏ, khi chạy về theo ta, họ mang theo cả súng máy (trung liên), chẳng thế mà khi ta đánh đồn Pò-Mã đã có súng máy để sử dụng. Ở Cao Bằng, tháng 4/1945 Tổng bộ Việt Minh liên tỉnh uỷ Cao -Bắc - Lạng đã phái một trung đội vũ trang xuống phối hợp với du kích Tràng Định để mở rộng địa bàn hoạt động. Việc ra đời của các đội du kích vũ trang mạnh là nhằm bảo vệ và mở rộng các căn cứ địa. Sau khi Tràng Định có một trung đội du kích tập trung, đón thời cơ vô cùng thuận lợi, chính quyền Pháp tan rã, chính quyền Nhật chưa được củng cố vững chắc, ta đã tổ chức đánh đồn lính khố xanh Pò Mã ở vùng biên giới (Quốc Khánh -Tràng Định - Lạng Sơn), đồn này nằm ở phố chợ biên giới có đường sang Trung Quốc.
Lúc này, đồng chí Lê Thiết Hùng là đại diện Tổng bộ Việt Minh được cử đến trực tiếp lãnh đạo lực lượng vũ trang Tràng Định. Đồng chí Hùng và đồng chí Tuân Trung đội trưởng trung đội du kích tập trung chỉ huy trận đánh đồn. Lần ấy, ta dùng chiến thuật vừa đánh vừa gọi hàng. Quân ta giương cờ đỏ sao vàng lên, và một chị đội viên bắc loa tay gọi hàng. Quả nhiên ta mới đánh chiếm một góc đồn thì chúng hàng thật. Sau này, khi chúng tôi hỏi cung tù binh thì chúng nói rất thật rằng:
- Chúng tôi trông thấy cờ đỏ sao vàng và nghe thấy tiếng nói phụ nữ, thì biết ngay là Việt Minh, không phải là thổ phỉ nên chúng tôi mới đầu hàng, chứ nếu biết là thổ phỉ thì không dễ gì chúng tôi đầu hàng sớm thế, chúng tôi còn chống cự nữa chứ!
Khi thấy ta chiếm được đồn rồi, bọn thổ phỉ Trung Quốc cũng muốn sang đánh hội để cướp bóc phố chợ đó, nhưng không thành. Chuyện là thế này: được tin bọn thổ phỉ Trung Quốc sang ta đã bố trí một lực lượng ở trên đồn sẵn sàng đối phó với chúng. Đồng chí Hùng cử tôi và một vài anh em xuống phố chợ để giao thiệp với bọn thổ phỉ. Vì thế, chúng tôi không đem theo súng mà chỉ dắt trong bụng mỗi người một quả lựu đạn. Một tình huống bất ngờ xảy ra, khi chúng tôi đến nơi, không chỉ có bọn thổ phỉ mà còn cả cả một lực lượng của biệt động quân Trung Quốc phối hợp, chỉ huy bọn thổ phỉ. Rất may, người chỉ huy biệt động quân hôm ấy lại là lính của tôi trước kia khi còn tham gia tổ chức biệt động quân ở Nam Ninh. Hồi đó tôi là tiểu đội trưởng tiểu đội biệt động quân, tiểu đội của tôi phần lớn là lính người Trung Quốc. Khác với tiểu đội trưởng người Trung Quốc, họ có tác phong quân phiệt, thường hay đánh mắng, hách dịch, quát nạt chiến sĩ, còn chúng tôi tuy là chỉ huy nhưng đối xử với chiến sĩ tử tế, nên họ rất mến phục. Với những tình cảm vốn có đó mà cuộc "thương thuyết" của chúng tôi thành công, họ đã rút quân.
Sau khi đánh xong đồn, bọn Nhật ở Đông Khê có vào trinh sát vũ trang, do có người báo tin nên bọn Nhật tổ chức một trung đội lùng sục một số vùng căn cứ của mình, ta tạm thời lui khỏi đồn Pò Mã. Anh em du kích phục ở các đỉnh đèo, cứ nhằm thằng nào vác súng máy, đeo súng ngắn hoặc đeo kiếm là bắn. Bắn xong, lợi dụng địa hình họ lại di chuyển ngay sang chỗ khác. Vì thế lực lượng ta an toàn, còn địch thì bị thiệt hại một số. Từ đó chúng không dám lùng sục vào khu du kích nữa.
Sau khi đánh đồn Pò Mã bọn thổ phỉ nội địa thân Nhật nổi lên quấy phá, ta dùng lực lượng vũ trang để dẹp. Nói chung, với lực lượng nhân dân, du kích xã và du kích tập trung ta đã dẹp được địch, bảo vệ an toàn, ổn định và mở rộng được khu căn cứ.
Uy tín của Việt Minh ngày càng lớn, cơ sở Việt Minh ngày càng phát triển. Vì thế đầu năm 1945, ngay sát thị trấn Thất Khê có những bản chỉ cách nhà tri phủ có lính khố xanh canh giữ chừng 1km, Việt Minh vào ban ngày cũng vẫn được. Và bọn phản động phải co lại nằm im, không dám hoạt động như trước nữa. Lúc này, phong trào Việt Minh đã phát triển đến mức ăn sâu vào mọi tầng lớp nhân dân, vào mọi giới trong xã hội. Thậm chí, các cô then cũng theo Việt Minh lên núi dự các lớp huấn luyện Việt Minh.
Đời hoạt động du kích của anh em chúng tôi tuy có vất vả gian khổ thật đấy nhưng cũng có những giây phút thật vui. Có những lần, sau một chặng đường hành quân đã mệt, đoàn chúng tôi dừng chân cạnh đường, tại một bản nằm ngay ngã ba sông. Ban đêm, bầu trời đầy sao, lồng lộng gió, chúng tôi đang ở tràng thái thư giãn cơ bắp với cảnh sắc thơ mộng đó thì bỗng nhiên nghe thấy tiếng đàn bà và tiếng hát của các cô then. Ôi, tiếng đàn then và giọng hát cô then mới dịu dàng làm sao, lúc này dường như ai cũng cảm thấy đỡ mệt nhọc hẳn đi. Các cô then, cũng như nhiều cô gái dân tộc ở vùng này cũng có những đôi má hồng, nước da trắng ngần, xinh đẹp chẳng kém gì phụ nữ kinh thành Hà Nội.
Lại có những lần hành quân vào mùa đông, trời rét căm căm, lội suối, vì ngại cởi giầy, cởi tất, chúng tôi cứ để nguyên vậy mà lội. Khi qua suối, đôi chân mới nặng làm sao! Tạt vào nhà dân, được ngồi bên bếp lửa hồng, được ăn sắn nướng và được hơ lửa sưởi ấm bàn chân lạnh cóng vì nước, dù chưa khô, có lệnh hành quân tiếp cũng phải sỏ giày ướt lạnh để tiếp tục lên đường, nhưng bất kỳ ai trong số chúng tôi cũng thầm cảm ơn những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi đó...
Và hình như đó là nguồn sức mạnh để tiếp thêm nghị lực cho chúng tôi trong chặng đường hành quân tiếp đó
Phụ nữ Cao bằng rất văn minh tiến bộ. Chúng tôi hành quân qua các bản, các chị em phụ nữ đều ra tiễn và bắt tay.



