Bài viết

TRỞ VỀ TỪ NHÀ TÙ MỸ NGỤY

Những ngày tháng Tư lịch sử. Hội văn nghệ Trường Sơn phối hợp với Trung tâm Hoạt động Thanh thiếu nhi tổ chức chương trình ra mắt Câu lạc bộ kết nối thế hệ. Đây là một Câu lạc bộ trẻ, ý tưởng rất nhân văn; gắn kết thế hệ tuổi tác trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó, điểm nhấn là giáo dục truyền thống yêu nước. Trong số các vị khách mời danh dự, tôi may mắn được biết đến vị Cựu chiến binh từng bị Mỹ - Ngụy, giam cầm ông là Nguyễn Văn Hoan, Trưởng ban Ban liên lạc “Chiến sĩ cách mạng V

Lào Cai02/12/2025Hà Lâm Kỳ (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Một sáng đầu hè, tôi đến thăm Cựu chiến binh Nguyễn Văn Hoan, cư trú tại Tổ 3 phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái. Ở tuổi bát tuần, thoáng nhìn, ông già đậm dáng trí thức hơn một Cựu chiến binh chiến trận, đẹp lão, lạc quan, và tự tin. Tôi trộm nghĩ, ngày tháng chiến trường cho ông ý chí; những năm đế quốc cầm tù cho ông niềm tin. Bây giờ ông là công dân xóm phố, luôn bên con cháu họ mạc, bằng lòng với sự ổn định cuộc sống của đô thị nhỏ, và của đại gia đình. Những lúc có bạn già, bạn chiến binh, đồng ngũ tâm giao, ký ức chiến tranh trong các ông tự khắc gợi lại. Thế hệ ông là thế.

Năm 1965. Chỉ sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ vài tháng. Giặc Mỹ ồ ạt ném bom toàn miền Bắc. Chàng trai Ninh Bình Nguyễn Văn Hoan vinh dự đứng dưới lá cờ Đảng tuyên thệ. Tuổi 20 ngày đó là lớp thanh niên “Ba sẵn sàng” trước vận mệnh đất nước. Nguyễn Văn Hoan cùng trai tráng địa phương làm đơn tình nguyện nhập ngũ. Sau ít thời gian huấn luyện, đơn vị ông được lệnh tăng cường cho mặt trận Trị Thiên Huế. D1 E6 (Tiểu đoàn 1, Bí danh: Công trường 6) là phiên hiệu chiến trường đầu tiên, và cũng là nơi mặt trận nóng bỏng nhất của Khu Năm, Nguyễn Văn Hoan cùng đồng đội tham dự các trận……

Điều kiện chiến trường chưa cho phép, ta cầm cự để tranh thủ xây dựng lực lượng trong đó có dồn sức cho tuyến đường huyết mạch Trường Sơn. Sau khi đánh gục chiến tranh Cục bộ của Mỹ những năm 1966 - 1967, ta chủ trương mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 68. D1-E6 Trị Thiên đánh vào thành Huế. Nguyễn Văn Hoan bị thương, lúc đó không đưa thương binh lên cứ được đơn vị đành gửi gắm bà con ở Phá Tam Giang nuôi giấu, chăm sóc. Mỹ chiếm lại nội thành Huế, mở rộng địa bàn, truy quét “Việt Cộng” ra Quảng Điền. Nguyễn Văn Hoan và một số chiến sĩ phải giấu xuống hầm bí mật. Có kẻ chiêu hồi khai báo, các ông bị bắt, địch đưa về đồn Mang Cá thẩm vấn. Rồi đưa vào giam giữ tại nhà giam Đà Nẵng mấy tháng vẫn không moi thêm được thông tin. Tháng 9 năm 1968 Mỹ Ngụy đưa Nguyễn Văn Hoan ra đảo Phú Quốc.

Với chế độ Sài Gòn, nhà tù Côn Đảo, là nơi giam giữ tù chính trị. Còn nhà tù Phú Quốc, lúc này có tới 40 nghìn tù binh là chiến sĩ quân giải phóng, có khám, giam lẫn cả bọn tội phạm hình sự. Cai ngục phân loại sĩ quan, thương binh, lính mới, lính chuyên nghiệp ngành nghề… Chúng thẩm vấn, tra tấn, rồi lại thẩm vấn suốt ngày này qua ngày khác. Những tù binh im lặng, hoặc lắc đầu không biết, bọn quân cảnh đánh vào mắt cá chân, kẹp các đầu ngón tay, liên tiếp vỗ găng tay vải bạt cọ ma sát vào mặt, vào tai. Mỗi trận như thế, tù binh ta đau buốt đến nhức óc, đến ngất trên sàn gạch, trên sân sỏi. Khi người tù phản ứng mạnh, chúng bắn đạn cao su và đạn thật vào phần cơ thể. Lần ấy Nguyễn Văn Hoan cùng mấy anh em công khai phản đối quân cảnh bị quản trại nổ súng. Ông bị thương lần thứ hai, anh em tù tự băng bó cho nhau. Còn quản trại thì bỏ mặc. Các cuộc tuyệt thực của tù nhân diễn ra thường xuyên, lúc ở dãy nhà này, khi khu trại khác. Mỗi lần binh sĩ tù đấu tranh, dù dưới mọi hình thức, đều có thông tin đến những người phụ trách của ta trong từng nhà giam để đồng loạt lên tiếng đấu tranh đòi quyền đối xử đúng luật tù binh quốc tế.

Nhà tù Phú Quốc những năm 70 có tới cả chục lớp hàng rào, bao quanh những vòng ngoài chúng gài mìn bảo vệ. Mấy chục vọng gác cao thấp, đèn pha chiếu quét suốt đêm. Chưa hết, đội tuần tiễn bốn phía khu vực nhà tù chia làm hai lớp giám sát lẫn nhau đề phòng đặc công hoặc trinh sát của ta tận dụng sơ hở thâm nhập vẽ lại địa hình. Chi bộ tổ chức trốn trại nhiều lần, số lần trót lọt không nhiều. Hầu hết bị bắt lại vì lưới báo động tự động phát hiện. Các khám tù luôn được thay đổi nhân sự sau mỗi đợt giám thị phân loại tù binh. Tù cũ, luân chuyển, tù binh bị bắt nơi khác được đưa đến thế chỗ. Quá trình tra khảo, nếu nghi người tù là cán bộ chính trị hoặc chỉ huy quân giải phóng cấp tiểu đoàn, chúng đưa đi khám Chí Hòa rồi ra Côn Đảo. Đây cũng là dịp để địch trà trộn, cài cắm bọn chiêu hồi hoặc điệp viên của chúng vào chiến sĩ tù của ta, và chúng cũng đã nắm bắt nhiều tin tức gây cho ta những tổn hại đáng kể. Bởi vậy giữ bí mật và nghệ thuật đối phó với mưu đồ của địch là tư tưởng chỉ đạo số một của Chi bộ trong tù Mỹ ngụy. Nhiều chiến sĩ ta bị cai ngục nghi ngờ hoặc truy xét bằng hình phạt đưa sang “Chuồng cọp”. Hình phạt ở khu chuồng cọp nhà tù Phú Quốc có phần nhẹ hơn địa ngục trần gian Côn Đảo nhưng cũng rất hà khắc, chẳng hạn: Chuồng nhốt tù binh phơi ngoài bãi cát bỏng. Treo ngược người và tra tấn. Cho người vào phuy nước đậy nắp, đập thùng phuy, hoặc cho lên "chảo" quay điện, nướng đỏ que sắt đâm vào bắp thịt…

Kể đến đây cựu tù Nguyễn Văn Hoan đột ngột ngừng lại, mắt ông đỏ hoe, ngoảnh nhìn ra cửa. Phải giây lát ông mới ngập ngừng: - Mỗi lần nắm tin tức tra tấn tù binh chuồng cọp, anh em tù chúng tôi đều phát động tuyệt thực mấy ngày liền. Anh Vũ Kim, người Bắc Ninh nay còn sống, vừa tuyệt thực, vừa lấy kim loại rạch bụng mình trước mặt cai ngục để chứng tỏ "Việt cộng" chúng tao không sợ chết. Hay anh Nguyễn Đình Xô, cùng người Bắc Ninh, bị chúng tra tấn, anh một mực không khai, chúng cho anh vào bao tải rồi quăng vào chảo nước sôi cho đến chết. Sau này Nguyễn Đình Xô được truy tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong nhà tù Phú Quốc, có Đảng bộ, Chi bộ, tổ Đảng. Nhưng đảng viên chỉ được biết tổ “tam tam” (Tổ đảng ba người), không được phép dò hỏi người trong cấp ủy. Việc thông báo chủ trương tuyên truyền chính sách, bồi dưỡng ý chí, củng cố niềm tin, nắm bắt tình hình và tin nhanh nội bộ… cũng phải kết hợp trá hình dưới các hình thức dạy chữ cho nhau, sinh hoạt văn nghệ, hoặc trò chuyện đồng hương, dòng họ, hoặc, giúp nhau làm công việc vệ sinh, chăm sóc ốm đau v.v… Khi quản ngục đến thì lảng tránh nội dung chính trị. Trong số các quản trại, nhất là lính canh, cũng nhiều người có thiện cảm, khâm phục ý chí chiến sĩ giải phóng mà tìm cách tạo điều kiện. Nhờ đó, ta bí mật xây dựng được mạng lưới “Tuyên giáo” trong tù. Ở Yên Bái ta có anh Nguyễn Việt Hùng (Hiện nay là hội viên Hội văn nghệ tỉnh), Anh là chiến sĩ đoàn Văn công Quân giải phóng khu Năm, bị bắt vào tù. Anh em phân công anh phụ trách văn nghệ. Đấu tranh mãi, quản trại mới cho tù binh ta thỉnh thoảng có buổi văn nghệ, nhưng chỉ được kể chuyện … cổ tích. Có một lần chúng đưa ông Hoan lên phòng nhì và hỏi: "- Nếu tao thả mày ra thì mày về đâu?" Biết rõ âm mưu của địch, ông trả lời ngay: - Về quân giải phóng Nguyễn Thị Định! Thế là ông bị đánh rất dã man phải nằm mấy ngày. Mục đích của giám ngục lừa các chiến sĩ ta trả lời rằng “Về quê, miền Bắc”. Thế có nghĩa tù binh tự khẳng định quân đội miền Bắc đã có mặt ở chiến trường miền Nam. Địch ghi âm, tố cáo trước quốc tế, gây khó khăn cho các cuộc đàm phán ở Pa ri. Đây cũng là điều, với tư cách đảng viên hoạt động bí mật trong chi bộ nhà tù, ông được giao nhiệm vụ nhắc nhở đồng đội phải luôn tỉnh táo, kiên định lập trường trước mưu mô kẻ địch.

Thấy người lính già thong thả nhắc từng ký ức, vừa như khắc cốt ghi tâm, lại vừa như xót xa, xem lẫn tự hào của một thời. Tôi lặng lẽ ghi chép, vị cựu tù tiếp tục.

Tháng hai năm 1973, trong khu nhà giam Chi bộ nhà tù được tin hội nghị Pa Ri đã ký kết. Sẽ sớm có việc trao trả tù binh giữa hai bên. Chi bộ bí mật bàn cách đối phó với Mỹ ngụy nếu chúng cố ý chây ỳ không chịu thực thi. Quả đúng như vậy. Mỹ muốn trao trả, nhưng chính quyền Thiệu thì không. Suốt tháng đầu xuân năm đó, các trại xáo trộn không rõ lý do. Một hôm cai ngục gọi danh sách tập trung ngoài sân lớn, nói rằng chính quyền Sài Gòn (Nguyên ý: Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà) nhân đạo, sớm trao trả tù binh theo diện ưu tiên. Thế rồi 100 người chuyến bay thứ nhất được đưa lên một chiếc máy bay C130, ông Hoan đi chuyến thứ hai về đến đất liền không tìm thấy ai của chuyến bay thứ nhất. Sau này nhiều tin nói rằng, chiếc C130 chở đoàn tù binh thứ nhất ấy gặp nạn…. ngoài khơi! Bọn quản Việt Nam Cộng hoà cố tình thủ tiêu một số đồng chí cốt cán của ta chăng? Ông Hoan nằm trong danh sách đi chuyến thứ hai, và được trao trả tại bờ sông Thạch Hãn. Sang bên kia Thạch Hãn, anh em tù nhìn lại đám Mỹ ngụy bờ Nam như muốn hét tướng lên: - Chúng tao là chiến sĩ Quân giải phóng, quê ở miền Bắc đây!

Cựu chiến binh, cựu tù Phú Quốc Nguyễn Văn Hoan ngẩng nhìn tôi, cười nhẹ:

- Ký ức đã 52 năm rồi, Giờ vẫn nhớ như in nhà văn ạ.

- Vâng, thưa anh! Tôi đáp nhẹ, nhưng không muốn làm cho ông thêm phân tâm về những gì đã qua vượt quá sức cảm xúc của tuổi già.

Đến đây, tôi lại nhớ câu chuyện có thật: Một vị Đại tá chỉ huy Sư đoàn của ta đích thân trinh sát đồn địch, chẳng may bị bắt. Bọn ngụy đưa về giam, tra khảo. Ông một mực khai là chiến sĩ, có nghề lang y. Quản ngục đưa ông sang thuốc men cho tù binh. Bỗng một chiến sĩ nhận ra ông, buột miệng: - Thủ trưởng ơi, sao lại …! Đại tá đưa ngón tay lên miệng. Người lính hiểu ý nói to: - Chữa thuốc cho cháu với, đau lắm! Ông già xách túi thuốc lá cây lại, nói nhỏ: - Chúng ta còn phải chiến đấu lâu dài! Đến khi trao trả tù binh, chiếc xe tải đưa “Đám tù binh Việt Cộng” đến địa điểm. Lúc đọc tên, vị “thầy lang” đàng hoàng bước qua vạch đệm sang bờ Bắc. Một chiếc Com - măng - ca cắm cờ giải phóng và hai sĩ quan cấp tá của Quân đội nhân dân Việt Nam bước nhanh lại ôm chầm lấy vị lang y, đỡ ông lên xe. Chiếc Com - măng - ca lao vút trước sự ngơ ngác của nhóm sĩ quan trao trả bờ Nam.

Chiến tranh, có những điều kỳ diệu, và cả khoảnh khắc diệu kỳ, hình thành từ trí tuệ con người.

Chiến sĩ cách mạng nhà tù Phú Quốc Nguyễn Văn Hoan, được đón, đưa về chăm sóc sức khỏe và dưỡng sức tại Móng Cái Quảng Ninh. Tại đây , Ông gặp lại đồng đội là cấp ủy trong nhà tù, nên việc tổ chức điều tra, và làm thủ tục sinh hoạt Đảng nhanh chóng. Một tháng sau ông được cấp giấy chứng nhận “Đảng viên sinh hoạt trong tù”.

Ổn định sức khỏe, cựu chiến binh Nguyễn Văn Hoan xin chuyển ngành sang công ty xây dựng Uông Bí, rồi về Ninh Bình làm công tác Công đoàn. Thời gian này, ông gặp Nguyễn Thị Nuôi cô sinh viên Đại học Nông nghiệp 1 mới ra trường. Hôn lễ của anh chị ngày đó (năm 1975) Đơn giản mà trang trọng. Năm 1980 ông lại tình nguyện lên Yên Bái công tác cùng vợ con. Cặp vợ chồng trẻ yên ổn công việc tại Yên Bái. Ông về hưu theo chính sách quy đổi. Còn bà Nuôi, đến tuổi, nghỉ chế độ ở chức danh Giám đốc công ty chè Bảo Ái.

Mỹ ngụy nơi trường học rèn chí, luyện tâm. Ở tuổi xưa nay hiếm, Cựu chiến binh, thương binh Nguyễn Văn Hoan, hôm qua và hôm nay, luôn là chiến sĩ cách mạng, là một công dân Việt Nam đúng nghĩa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn