TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP 1947-1954 -NHỮNG THÀNH TÍCH, THẮNG LỢI TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
NHỮNG THÀNH TÍCH, THẮNG LỢI TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
Do mới thành lập nên xã Dương Tơ luôn được Quận ủy và các cơ quan, ban ngành, đoàn thể của quận thường xuyên hỗ trợ, chỉ đạo.
Cán bộ, đảng viên của chi bộ ý thức được trách nhiệm nên luôn gương mẫu, sâu sát địa bàn và dân chúng; tinh thần cách mạng của nhân dân rất cao.
Chính các yếu tố trên đã giúp cho xã Dương Tơ nhiều thuận lợi, “tuy mới nhưng không yếu”. Song, Dương Tơ cũng phải chịu sức ép trước ý đồ của giặc Pháp muốn biến Dương Tơ thành vùng trắng, an toàn, để bảo vệ trung tâm quận lỵ ở Dương Đông. Vì vậy, có thể nói, xã Dương Tơ là một địa bàn trọng điểm đánh phá của địch và chúng cũng đã gây cho ta rất nhiều khó khăn... Trước khi thành lập xã, trên địa bàn An Thới đã diễn ra trận đánh lịch sử đầu tiên của lực lượng võ trang cách mạng khi ta tấn công vào bót Cây Dừa. Chiến thắng đã gây được tiếng vang và một khí thế hào hùng, trong đó có phần đóng góp công sức của cán bộ và nhân dân Dương Tơ. Cả quận Phú Quốc phấn khởi; bà con nhân dân Dương Tơ tràn đầy tự hào và vui mừng vì đã nhổ được “cái gai độc” trên quê hương mình. Nhưng cũng từ đó giặc Pháp tập trung đánh phá vùng Dương Tơ một cách ác liệt hơn trước.
Một mặt, chúng sử dụng số Việt gian phản động để nắm tình hình của ta, chống phá phong trào kháng chiến, một mặt chúng đưa quân càn quét, cướp bóc, phá hoại sản xuất, hãm hại đồng bào. Càng ngày giặc Pháp và bọn tay sai càng gây ra nhiều tội ác, khổ đau cho nhân dân Dương Tơ và các nơi khác trên đảo.
Tháng 11 năm 1947, Trung đội lính Cao Đài Tây Ninh đi càn quét, cướp bóc ở vùng Bàng Quỳ (Dương Tơ). Chúng lùng sục, vơ vét tài sản, lương thực của dân. Do lực lượng vũ trang tại chỗ của Dương Tơ lúc này chưa đủ lực đối đầu, nhất là về trang bị vũ khí nên chi bộ đã cử người băng rừng về báo cho Vệ quốc đoàn của quận, đóng ở Gành Gió Trong và Khu Tượng. Trung đội 104 Vệ quốc đoàn khẩn trương hành quân xuống Đường Bầu để đón đánh địch lúc chúng quay về.
Bọn lính Cao Đài lúc này đang kéo chiếc ghe buồm chất đầy đồ đạc mà chúng vừa cướp đoạt của nhân dân ở Bàng Quỳ để đưa về Dương Đông. Cả trung đội địch đi dọc theo mé biển. Trung đội 104 của ta dàn quân, đánh trực diện vào đội hình quân địch. Đôi bên giằng co hàng mấy tiếng đồng hồ. Giữa lúc trận đánh diễn ra căng thẳng, thì đồng bào và dân quân ở Bàng Quỳ, Đường Bầu... cầm dao, mác chạy tới hò reo tiếp viện, làm bọn địch thêm hốt hoảng. Ta lại điều súng trung liên đánh thọc sườn, đồng thời toàn Trung đội 104 xung phong tiêu diệt địch. Có 3 tên trốn chạy; sau đó đã bị 2 nữ dân quân du kích là Tám Song và Bảy Lèo, đón bắt được ở Dương Cơ, Bàu Phong. Kết quả trận Đường Bầu ta tiêu diệt gọn trung đội lính Cao Đài, trong đó có tên chỉ huy trưởng Vệ Tòng, bắt sống 3 tên, thu được 21 khẩu súng và nhiều đạn dược. Ta thu ghe địch và trả lại số đồ đạc, tài sản mà chúng đã cướp của bà con ở Bàng Quỳ. Trong trận này, lực lượng Xã Đội Dương Tơ phối hợp với 01 tiểu đội chiến đấu, 02 tiểu đội dân quân làm nhiệm vụ hậu cần và tải thương. Về phía ta có 02 chiến sỹ hy sinh (đồng chí Chiến, chiến sĩ Trung đội 104 và đồng chí Đặng, ấp đội trưởng) và 04 chiến sỹ bị thương.
Đây là trận có ý nghĩa lớn; sau trận này địch co cụm lại không dám đi ruồng bố như trước.
Ở xã Dương Tơ cũng như các xã khác trong vùng giải phóng, thời kỳ này, chi bộ và quân dân trong xã tập trung thực hiện nhiệm vụ “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, vừa ra sức bảo vệ vùng giải phóng, vừa tích cực xây dựng về mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội... Phong trào quần chúng phát triển khá mạnh. Các tổ chức đoàn thể vận động hội viên tham gia công tác tiếp tế gạo, thuốc men, chuyển vào vùng giải phóng; đặc biệt là Hội Mẹ chiến sỹ hoạt động rất tích cực trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cán bộ, chiến sỹ bằng việc phát động thực hiện các phong trào; không ngại gian khổ, hy sinh...
Xã đội Dương Tơ có 01 trung đội du kích bán thoát ly, mỗi ấp có Ấp Đội và trung đội dân quân tự vệ; đặc biệt xã xây dựng được 03 trung đội nữ dân quân. Tuy lúc này không có nhiều súng đạn, nhưng với tinh thần yêu nước, hăng hái kháng chiến, anh chị em du kích, dân quân sử dụng các loại vũ khí tự tạo, thô sơ như: giáo mác, mã tấu, dao găm, tầm vông vạt nhọn, ná, phi tiêu...; thường xuyên tổ chức luyện tập. Xã xây dựng ấp chiến đấu ở Bà Kèo, Cửa Lấp, Suối Đá, Suối Mây; thành lập 4 trạm gác theo dõi tình hình địch, trạm cố định ở Bà Kèo (Trưởng trạm là Hai Mỹ), 3 trạm gác lưu động ở Giếng Tiên, Khoé Tàu Rũ và Suối Ông Hai.
Ở các ấp, xóm nhân dân đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, trong công việc sản xuất, tổ chức các tổ vần-vần đổi công, thực hiện nếp sống mới ở nông thôn... với ý chí, quyết tâm không để địch lấn chiếm vùng giải phóng.
Qua các phong trào hành động cách mạng, nhiều quần chúng ưu tú đã được chi bộ kết nạp vào Đảng (xem phụ lục).
Thời gian 1947-1948, giặc Pháp tăng cường kiểm soát gắt gao nhằm phong tỏa kinh tế, cắt nguồn tiếp tế của nhân dân vào vùng căn cứ, vùng giải phóng của ta. Cũng như các nơi khác trong vùng giải phóng, đời sống của cán bộ, du kích và nhân dân xã Dương Tơ gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về lương thực, thuốc men và các mặt hàng thiết yếu khác.
Tháng 7/1948 đ/c Võ Kỳ Quang (Võ Tấn Cử) làm Bí thư chi bộ đến tháng 12/1948 thì đ/c Nguyễn Văn Diệp (Ba Diệp) trở lại làm Bí thư chi bộ
Trước tình hình trên, Quận ủy, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh quận phát động phong trào mở rộng khai khẩn đất đai, đẩy mạnh sản xuất ở vùng căn cứ, vùng giải phóng, nỗ lực vượt qua thời điểm khó khăn. Chi bộ và Ủy ban Kháng chiến - Hành chánh xã đã kịp thời tập trung chỉ đạo tất cả cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ra sức sản xuất, làm rẫy, trồng các loại hoa màu, lương thực.
Lúc này, căn cứ của Quận ủy từ Cây Kè (Cửa Dương) dời xuống vùng căn cứ ở Suối Mây Dương Tơ. Nhân dân và lực lượng vũ trang dân quân, du kích xã Dương Tơ đã tích cực góp phần trong công tác phòng gian bảo mật, bảo vệ cơ quan lãnh đạo đầu não của Đảng bộ được an toàn suốt thời gian Quận ủy đóng trên địa bàn của xã Dương Tơ.
Xã đội Dương Tơ đã phối hợp với bộ đội của quận trong các trận đánh địch trên địa bàn của xã; qua đánh địch mà có thêm kinh nghiệm chiến đấu. Đáng kể là trận đánh ở Cây Bàng Đôi, cách dinh Quận chỉ nửa cây số (Nơi đơn vị Bộ đội Rada đóng hiện nay).
Tháng 8/1949, huyện tổ chức cuộc họp quân sự ở ấp Cửa Lấp, Dương Tơ. Đồng chí Trần Văn Hội, chi ủy viên, Xã Đội trưởng, tham dự hội nghị này; tiếp thu kế hoạch chỉ đạo của quận. Ý đồ của ta là dùng kế “điệu hổ ly sơn”, dụ địch ra ngoài để chặn đánh. Đêm 23/9/1949, 8 Trung đội 11 của quận cùng 02 tiểu đội du kích xã, 03 trung đội dân quân nam, 02 tiểu đội dân quân nữ của Dương Tơ phối hợp đánh vào trung tâm Dương Đông. Một bộ phận quân ta dùng củi khô và dầu mít phóng hỏa đốt cơ quan Bưu điện của địch, sau đó rút lui về phục kích tại Cây Bàng Đôi... Đúng theo dự tính của ta, sáng 24/9/1949 giặc Pháp đưa quân ra truy lùng và lọt vào trận địa ta đang phục sẵn. Trong trận này, ta diệt 7 tên, bắn bị thương 3 tên, bắt sống tên sĩ quan Pháp (tên quan ba Du Haut), thu được 02 khẩu súng. Đây là trận đánh ta thọc sâu vào quản lý của địch, có ý nghĩa rất lớn không chỉ về mặt quân sự là chuyển thế tấn công ngay
———
8 - Có ý kiến cho rằng, trận đánh Cây Bàng Đôi vào ngày 25-12-1949
———
vào hang ổ đầu não của địch, mà còn có ý nghĩa chính trị là hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của đồng bào vùng nội ô Dương Đông; tạo thêm khí thế cách mạng trong vùng địch tạm chiếm, làm cho giặc Pháp và hội tề tay sai hoang mang, phải co cụm lại.
Đầu năm 1950, sau khi cách mạng ở Trung Quốc thắng lợi, Mỹ và Pháp đã câu kết nhau dung dưỡng, bảo trợ cho số tàn quân của Trung Hoa Quốc dân đảng. Chúng thỏa hiệp với nhau cho quân Quốc dân đảng chạy vào nước ta. Tháng 02 năm 1950, trên 30.000 tên thuộc Bình đoàn I Quốc dân đảng, do tướng Dương Quang Huy chỉ huy, đến đảo Phú Quốc. Chúng chia quân đóng ở vùng Dương Đông, giáp Cửa Dương và khu vực Cây Dừa, An Thới (xã Dương Tơ). Giặc Pháp như được thêm vây, thêm cánh. Về phía ta, đây là tình huống đột ngột, gây bất lợi và nhiều bối rối, thật sự lo lắng. Riêng xã Dương Tơ giờ đây phải đương đầu, đối phó với hàng chục ngàn tên Quốc dân đảng đóng quân trên địa bàn phía Nam đảo.
Sau khi đồng chí Nguyễn Văn Diệp (Ba Diệp), Bí thư chi bộ xã đi dự cuộc họp mở rộng do Huyện ủy tổ chức; nội dung bàn cách đối phó với bọn Quốc dân đảng. Chi bộ Dương Tơ đã chỉ đạo các đoàn thể nhân dân thăm dò tình hình của địch, mặt khác ổn định tinh thần, tư tưởng trong cán bộ, du kích và nhân dân, hết sức bình tĩnh chờ ý kiến chỉ đạo của cấp trên. Tình hình càng thêm khó khăn vì thời gian này Dương Tơ bị địch phong tỏa lương thực gắt gao, vùng giải phóng phải ăn khoai thay cơm. Chi bộ vận động cơ sở ở Dương Đông tiếp tế bằng cách dùng xuồng chèo vượt qua sự kiểm soát của địch, chèo ra biển khơi rồi vòng vào đầu Cửa Lấp để tiếp tế lương thực cho Dương Tơ. Có thể nói năm 1950 là năm tình hình rất khó khăn, ác liệt căng thẳng.
Lúc này Huyện ủy thành lập “Ban Quốc dân đảng vận”, do đồng chí Tô Sỹ Hồng, Bí thư Huyện ủy, làm Trưởng ban. Trung ương biệt phái một số cán bộ công tác Hoa vận ra trợ giúp cho Phú Quốc. Có thể nói công tác “Quốc dân đảng vận” là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ huyện Phú Quốc, một cuộc đấu tranh “tâm công” liên quan đến sự tồn vong của phong trào cách mạng ở Đảo, vì vậy luôn được sự tập trung chỉ đạo của Đảng bộ Phú Quốc ở thời điểm lúc đó và Dương Tơ là xã trực tiếp, trọng điểm.
Ở xã Dương Tơ, Ban Binh địch vận xã được thành lập vào tháng 4/1950, do đồng chí Nguyễn Văn Diệp (Ba Diệp), Bí thư chi bộ, kiêm Trưởng ban. Các đồng chí Dương Thị Kim Hoa (Lùng) Ủy viên BCH Hội Phụ nữ xã, Nguyễn Văn Biểu (Sáu Biểu) cơ sở hợp pháp, làm cán bộ thành viên của Ban.
Ban Binh địch vận xã tổ chức cho một số dân người Việt gốc Hoa có thiện cảm với cách mạng, tìm cách làm quen với quân Quốc dân đảng, tìm hiểu tâm tư tình cảm, cũng như nắm tình hình của chúng và dần dần tiếp cận tuyên truyền, tác động phân hóa tư tưởng, để chúng đào ngũ trốn khỏi doanh trại. Thời gian này, về phía huyện, Ban Bình địch vận cũng thường xuyên hỗ trợ cho xã 1 tổ, do đồng chí Nguyễn Văn Bằng (Tư Bằng) làm Tổ trưởng, cắm ở vùng rừng Cầu Cứ, Dương Tơ để hoạt động. Riêng công tác binh vận của xã Dương Tơ có cách rải truyền đơn rất sáng tạo. Đồng chí Nguyễn Văn Biếu (Sáu Biếu) đã nhúng nước cả xấp truyền đơn còn ướt rồi quăng lên các mái nhà; khi nắng lên từng tờ khô đi và gió thổi bay tứ tung, rơi xuống đất làm cho bọn địch rất bất ngờ... Cách làm này rất hiệu quả và lại an toàn cho cán bộ ta.
Đầu năm 1951, đồng chí Ngô Văn Thanh (Hai Phình) làm quyền Bí thư chi bộ Dương Tơ thay đồng chí Ba Diệp rút về huyện.
Tháng 1 năm 1952 đồng chí Lâm Minh Mẫn (Năm Trì), Huyện ủy viên, được Huyện ủy điều về làm Bí thư chi bộ xã Dương Tơ. Đồng chí đã cùng chi bộ lãnh đạo quân dân trong xã, một mặt tập trung chiến đấu chống thực dân Pháp, một mặt thực hiện phương châm “ôn hòa êm dịu”, tránh xung đột vũ trang với bọn Quốc dân đảng, đồng thời ra sức củng cố thực lực, xây dựng vùng giải phóng, căn cứ kháng chiến của xã; được Huyện ủy đánh giá là một trong những xã có phong trào mạnh.
Cuối năm 1952, sau vụ 02 tên lính Bảo hoàng của địch mang 2 súng trường, đào ngũ chạy ra hàng cách mạng, bọn địch đã bắt đồng chí Nguyễn Văn Biểu (Sáu Biểu), thành viên Ban Bình vận xã, vì tình nghi và giải về Sài Gòn; giam giữ ở khám Chí Hòa.
Sau khi đồng chí Nguyễn Văn Biếu (Sáu Biếu) bị giặc bắt, chi ủy đã phân công đồng chí Trần Văn Hội (Sáu Hội) chi ủy viên, Xã đội trưởng kiêm nhiệm lãnh đạo Ban binh địch vận của xã, xây dựng được một số nội tuyến, cơ sở mật trong hàng ngũ địch, thu thập được nhiều nguồn tin có giá trị từ nội bộ địch...
Ở Dương Tơ, trong kháng chiến chống Pháp, Ban binh vận Dương Tơ đã xây dựng được 2 nội tuyến ở đồn Cây Dừa, 1 nội tuyến ở đồn Hàm Ninh, 3 cơ sở ở nội ô Dương Đông; móc nối được 13 binh lính địch đào ngũ, ra hàng; mang nộp 17 súng các loại, 3 lựu đạn, 72 khóa nòng súng, trên hai trăm viên đạn...
Bằng khả năng, thực lực của địa phương, chi bộ đã chỉ đạo cho Xã Đội tổ chức đánh đồn Cây Dừa. Tiểu đội du kích xã vừa đánh thọc sâu trong vùng địch, vừa tung truyền đơn, sau đó rút ra ngoài và dùng loa kêu gọi binh lính đào ngũ trở về với gia đình, không làm tay sai cho giặc. Kết quả có 4 lính Marốc và 6 lính bảo an, mang theo 5 khẩu súng ngắn ra quy thuận.
Đầu năm 1953, đồng chí Phạm Xuân Đường (Bảy Tiếng) làm Bí thư chi bộ thay cho đồng chí Lâm Minh Mẫn (Năm Trì) (Đồng chí Năm Trì được bổ sung làm Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Trưởng Công an huyện).
———
9- Có ý kiến cho rằng, đồng chí Kỳ Quang làm Bí thư rồi đến Bảy Tiếng, trước đồng chí Năm Trì rồi mới đến Sáu Hội làm Bí thư.
———
Vùng giải phóng, vùng căn cứ Dương Tơ bấy giờ vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhất là về lương thực, hàng hóa, thuốc trị bệnh... do đó chi bộ đã chỉ đạo, vận động nhân dân trồng các loại hoa màu, lương thực để tự túc, không để nạn đói xảy ra. Mặt khác nhân dân sống trong vùng giải phóng nhưng có giấy thông hành hợp pháp của địch, nên được địch cho mua gạo ở Dương Đông; đã mang về san sẻ với vùng căn cứ. Xã cũng tổ chức cho người sang Hàm Ninh mua gạo, hàng hóa thiết yếu, vận động nhân dân tìm cách mua lương thực của bọn Quốc dân đảng... Nhờ những nguồn này và sự đóng góp của cơ sở, của nhân dân ủng hộ, tiếp tế nên xã Dương Tơ đã vượt qua những khó khăn về kinh tế, ổn định một phần cuộc sống trong kháng chiến.
Bên cạnh những chỉ đạo về kinh tế, chi bộ và các đoàn thể cũng luôn quan tâm đến đời sống tinh thần của nhân dân. Phong trào văn nghệ, ca hát, diễn kịch, bóng đá, bóng chuyền... được tổ chức ở hầu hết các ấp xóm, cơ quan, đơn vị của xã. Những phong trào này đã góp phần cổ vũ, động viên quyết tâm kháng chiến của Đảng bộ, quân, dân trong xã.
Ngày 23/5/1953 là một ngày đáng nhớ của nhân dân Dương Tơ và huyện đảo: toàn bộ tàn quân Quốc dân đảng rời khỏi Phú Quốc. Cả huyện như trút được gánh nặng.
Khi lực lượng Quốc dân đảng rời khỏi đảo, bọn Pháp cho sửa lại doanh trại; lập một trại giam gọi là “Căng Cây Dừa” để giam giữ số cán bộ, chiến sĩ cách mạng bị số địch bắt ở các nơi trong đất liền đưa ra giam ở đây. Số lượng tù nhân có lúc gần 7.000 người. Lợi dụng buổi ban đầu bọn địch còn sơ hở trong công việc canh phòng, chỉ trong vòng mấy tháng đã có gần 200 người vượt ngục. Vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì đồng chí mình thoát khỏi lao tù của địch, lo vì thiếu thốn lương thực, làm sao để đủ cung cho số người vượt ngục ra; trong khi chính xã cũng đang thiếu ăn.
Huyện ủy đã chỉ đạo cho chi bộ và Xã Đội Dương Tơ bố trí lực lượng đón anh em tù vượt ngục tại khu vực Suối Cầu, đồng thời động viên bà con nhân dân hết sức cố gắng đùm bọc, giúp đỡ cho các đồng chí, san sẻ cái ăn, cái mặc, nghĩa tình như ruột thịt. Tình hình lúc này lương thực là vấn đề nan giải, địch lại tăng cường phong tỏa, liên tục đánh phá, cài cắm bọn do thám, gián điệp vào vùng giải phóng... gây cho ta không ít khó khăn và tổn thất.
Không để cho bọn địch ngang nhiên ruồng bố, các lực lượng vũ trang của ta bung ra tìm đánh địch; hưởng ứng chiến dịch Thu Đông 1953, đồng thời cũng để “thông báo” hỗ trợ tinh thần cho các tù binh ở Căng Cây Dừa rằng, ở đây đất đảo xa xôi vẫn có phong trào cách mạng. Ngày 27/10/1953 bộ đội huyện phối hợp với Xã Đội Dương Tơ, tổ chức phục kích tại Cây Cấy (rừng cao su Cây Dừa) đánh lực lượng tuần tra của địch. Kết quả ta tiêu diệt gọn 1 trung đội của địch, bắt sống 9 tên, thu 14 khẩu súng. Sau trận này bọn địch ở Cây Dừa không dám bung ra càn quét cướp phá như trước. Xã tạm yên ổn ở mặt phía Nam đảo.
Đầu tháng 5 năm 1954, chiến trường cả nước sôi động, đặc biệt khi chiến dịch Điện Biên Phủ đang đi vào giai đoạn kết thúc. Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng chủ trương đẩy mạnh “địch ngụy vận”, tích cực trừ gian, diệt tề, phá bảo an, làm tiêu hao sinh lực địch; thực hiện “miền Bắc công kích địch”, “miền Nam kềm chân địch”, phối hợp tấn công đều khắp.
Ngày 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi hoàn toàn. Tin chiến thắng Điện Biên Phủ khiến cả nước tràn ngập niềm vui. Lực lượng vũ trang huyện đã tổ chức tấn công địch và giành thắng lợi ở các trận Bầu Chuối, Sân bay Dương Đông... Quân, dân các xã giữ vững an toàn vùng căn cứ giải phóng; các phong trào phát triển mạnh, với khí thế sôi nổi.
Những ngày giữa tháng năm 1954, ở Dương Tơ, khắp các nẻo đường xóm ấp, quân dân trong xã căng khẩu hiệu, treo cờ; không khí nhộn nhịp. Đêm xuống, từng đoàn người thắp đuốc, đèn chai đi thăm cán bộ, chiến sĩ... chuyện trò rôm rả, xua đi những tháng ngày gian khổ đã qua. Bên cạnh đó cũng có những gia đình mang nặng nỗi buồn nhớ đến những người con, người chồng, người mẹ, người cha... đã hy sinh trên mảnh đất này.
Những ngày đầu tiên thành lập, chi bộ Đảng chỉ với 9 đảng viên. Trong bối cảnh chiến tranh, chi bộ đã thể hiện sự đoàn kết, thống nhất, chấp hành nghiêm túc sự lãnh đạo của Quận ủy; biết vận dụng nghị quyết, chỉ thị của trên phù hợp với tình hình của xã mới thành lập; tập trung xây dựng bộ máy chính quyền, các tổ chức đoàn thể, đặc biệt là lực lượng dân quân du kích xã, ấp. Có thể nói do yếu tố đoàn kết nội bộ tốt, quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhân dân; cán bộ, đảng viên đồng cam cộng khổ với nhân dân... cho nên đã hình thành mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với dân, tạo nền tảng vững chắc, làm cơ sở đảm bảo thắng lợi cho cuộc kháng chiến.
Lực lượng du kích, dân quân xuất thân từ những nông dân, người lao động nghèo theo Đảng làm cách mạng; buổi ban đầu họ chưa được huấn luyện bài bản kỹ thuật tác chiến quân sự; vũ khí thô sơ, thiếu thốn... Nhưng giàu tinh thần yêu nước, biết đoàn kết thành một khối thống nhất và với lòng gan dạ, dũng cảm họ đã lao vào cuộc chiến đấu quyết liệt, không khuất phục trước sức mạnh của kẻ thù; không ngại gian khổ hy sinh; qua chiến đấu, đương đầu với giặc, họ tự trải nghiệm, phát triển và trưởng thành.
Các đoàn thể cứu quốc, Hội Mẹ chiến sĩ là mũi nhọn trong đấu tranh chính trị, hậu thuẫn cho đấu tranh vũ trang. Nổi lên trong các phong trào đấu tranh chính trị, hậu cần căn cứ, móc nối liên lạc, công tác địch vận, binh vận là cán bộ nữ. Cuộc sống thời chiến nhiều khó khăn nhưng các mẹ, các chị vẫn ngoan cường, bản lĩnh, dũng cảm, ra sức góp phần cho công cuộc kháng chiến.


