TRONG MÙA MƯA TÂY BẮC
Câu chuyện hồi tưởng về những thử thách đặc biệt từ mùa mưa Tây Bắc – lũ lụt, sạt lở, đường ngập – mà thanh niên xung phong phải vượt qua để giữ thông tuyến hậu phương trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1967-1970), dựa trên sự kiện lịch sử thực tế về vai trò của lực lượng thanh niên xung phong địa phương tại vùng Mường Lay - Lai Châu trong việc chống chọi thiên tai kết hợp chiến tranh phá hoại, vừa cứu dân vừa bảo vệ hàng hóa, với giọng văn chân thực, xúc động, khắc họa sức mạnh ý chí con ngườ
Tôi vẫn hay ngồi bên hiên nhà ở Bản Na Ka mỗi khi mưa Tây Bắc trút xuống, nghe tiếng nước chảy rào rào trên mái lá mà lòng chợt dâng trào ký ức về những mùa mưa bom rơi đạn lạc, nơi tuổi trẻ chúng tôi đã dùng thân mình đối đầu cả giặc Mỹ lẫn lũ dữ. Sinh năm 1945, ở vùng đất Na Lay - Mường Lay ngày ấy, tôi lớn lên giữa những cơn mưa rừng không ngớt, nghe tiếng suối réo và tiếng gọi Tổ quốc từ những buổi họp bản. Năm 1967, khi giặc Mỹ đánh phá ác liệt, tôi tình nguyện gia nhập Đại đội C177 Thanh niên xung phong. Lúc đó tôi 22 tuổi, thân hình quen với cuốc xẻng nương rẫy, nhưng lòng đã sẵn sàng đối mặt với mọi gian khổ để giữ vững hậu phương.
Mùa mưa Tây Bắc là kẻ thù thứ hai sau bom Mỹ. Nước suối dâng cao, cuốn phăng cầu tre, nhấn chìm đường mòn, đất lở đá rơi chặn lối. Chúng tôi phải vừa chống bom vừa chống lũ. Ban ngày bom rơi, ban đêm mưa trút, đường ngập đến ngực, chúng tôi lội nước, dùng dây thừng buộc nhau thành chuỗi người, kéo gỗ, chèn đá, dựng lại cầu. Tôi nhớ rõ một trận lũ lớn năm 1968, nước suối Na Ka dâng ngập cả bản, cuốn trôi nhà cửa, bao gạo cứu đói cho tiền tuyến bị ngập. Cả đội chúng tôi lao xuống nước, dùng thân mình làm bờ chắn, khiêng từng bao gạo lên đồi cao. Nước xiết cuốn, có đồng đội bị dòng nước cuốn đi, chúng tôi nắm tay kéo lại, cứu được hàng nhưng mất đi hai người. Máu và nước lũ hòa quyện, thấm vào đất Na Ka, như lời nhắc nhở chúng tôi phải tiếp tục.
Bom Mỹ vẫn rơi giữa mưa, đất lở thêm nặng, hố bom đầy nước, nhưng chúng tôi vẫn đào, vẫn lấp, vẫn vận chuyển. Chất độc da cam hòa vào mưa, nước suối ô nhiễm, nhiều anh em sốt rét, ho hen, da nổi mẩn đỏ, nhưng không ai bỏ cuộc. Chúng tôi chia nhau từng nắm xôi nguội, từng quả chuối rừng ướt sũng, động viên nhau: “Mưa có ngớt, lũ có qua, đường vẫn phải thông, miền Nam vẫn chờ”. Những chuyến hàng chúng tôi cứu được giữa lũ đã nuôi dưỡng bộ đội, giúp hậu phương Tây Bắc vững vàng trước cả thiên tai và chiến tranh.
Đến năm 1970, khi tôi xuất ngũ, mang theo kỷ niệm chương và những vết sẹo chiến tranh, tôi trở về Bản Na Ka, thấy suối vẫn chảy, núi vẫn xanh, nhưng biết bao đồng đội đã nằm lại dưới những cơn lũ chúng tôi từng chống chọi. Giờ đây, ở tuổi già, ngồi nghe mưa rơi trên mái nhà, tôi kể lại cho con cháu nghe về những mùa mưa ấy. Chúng tôi chỉ là những thanh niên vùng cao bình thường, nhưng đã dùng máu, mồ hôi và ý chí để vượt qua cả bom đạn lẫn thiên tai. Lực lượng Thanh niên xung phong – những bóng hoa lửa rực rỡ giữa mùa mưa Tây Bắc – mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tôi mong các cháu sẽ giữ gìn hòa bình hôm nay, noi gương cha anh, để Bản Na Ka mãi xanh, non sông mãi vững vàng, trường tồn.



