TRONG TIẾNG GẦM CỦA PHÁO, TÔI THẤY NGÀY CHIẾN THẮNG
Những ngày hành quân xẻ dọc Trường Sơn, vai gầy vác trên mình những bệ pháo, nòng pháo nặng trĩu qua những dốc cao dựng đứng, những cơn mưa rừng buốt thịt da, chúng tôi chỉ có một niềm tin duy nhất: Tiến về phía Nam.
Mỗi dải đất trên quê hương Tây Đô hôm nay đều mướt một màu xanh của thanh bình. Nhưng trong tâm khảm của một người lính già như tôi – Nguyễn Thanh Nhạn, gã trai làng Eo Lê năm nao – ký ức về một thời “hoa lửa” chưa bao giờ phai nhạt. Sinh năm 1949, lớn lên giữa lòng quê hương cách mạng giàu truyền thống, tiếng gọi của Tổ quốc năm 1970 đã thôi thúc tôi gác lại những ước mơ riêng, khoác lên mình màu áo xanh người lính ở tuổi hai mươi mốt.
Tôi may mắn được đứng vào hàng ngũ của “Voi sắt” – binh chủng Pháo binh. Người ta thường bảo pháo binh là “gốc của chiến thắng”, là thứ uy lực gầm vang khiến kẻ thù khiếp vía. Nhưng đằng sau những phát đạn xé toạc màn đêm là mồ hôi, máu và sự kiên cường tột cùng của những người chiến sĩ. Những ngày hành quân xẻ dọc Trường Sơn, vai gầy vác trên mình những bệ pháo, nòng pháo nặng trĩu qua những dốc cao dựng đứng, những cơn mưa rừng buốt thịt da, chúng tôi chỉ có một niềm tin duy nhất: Tiến về phía Nam.
Kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của tôi chính là chuỗi ngày tham gia Chiến dịch Giải phóng miền Nam lịch sử. Giữa chiến trường ác liệt, ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng manh như sợi tóc. Tôi nhớ như in những trận đánh hiệp đồng binh chủng, khi lệnh từ đài quan sát truyền về, cả trận địa pháo của chúng tôi đồng loạt khai hỏa. Tiếng nổ long trời lở đất, khói thuốc súng khét lẹt, mặt đất rung chuyển dưới chân.
Có những trận đánh kéo dài suốt nhiều ngày đêm, pháo địch phản công điên cuồng, mảnh bom xé toang công sự. Trong làn khói đạn mù mịt, mắt tôi cay xè, tai ù đi vì tiếng nổ, nhưng đôi tay vẫn thoăn thoắt nạp đạn, giật cò. Mỗi viên đạn rời nòng không chỉ mang theo sức mạnh hủy diệt quân thù, mà còn mang theo cả lòng căm thù và khát vọng hòa bình cháy bỏng của những người con miền Bắc gửi vào tiền tuyến. Nhìn những loạt pháo của ta áp đảo hoàn toàn trận địa địch, mở đường cho bộ binh xung phong đánh chiếm cứ điểm, lòng chúng tôi trào dâng một niềm tự hào khó tả. Chúng tôi đã đánh bằng cả ý chí của những người không còn gì để mất ngoài độc lập tự do.
Chiến dịch nối tiếp chiến dịch, cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử, khi cờ đỏ sao vàng tung bay trên Dinh Độc Lập, chúng tôi – những người lính pháo binh – ôm chầm lấy nhau giữa sài Gòn hoa lệ mà nước mắt tuôn rơi. Khói súng đã tắt, nhường chỗ cho tiếng reo hò chiến thắng vang dội non sông.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, gã trai thôn Eo Lê ngày nào giờ đã là một cựu chiến binh tóc bạc da mồi. Những vết thương thời chiến thi thoảng lại đau nhức mỗi khi trái gió trở trời, nhưng mỗi lần nhớ về “thời hoa lửa” ấy, lồng ngực tôi vẫn phập phồng niềm kiêu hãnh. Tôi muốn gửi gắm câu chuyện này đến thế hệ trẻ hôm nay: Hòa bình độc lập được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước. Hãy sống, cống hiến và bảo vệ nền hòa bình ấy bằng tất cả trái tim và trách nhiệm của mình.



