Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TRONG VÒNG VÂY ĐỊCH GIỮA CĂN CỨ QUÂN SỰ TÂN SƠN NHẤT

Đoạn hồi ký kể lại quãng thời gian tác giả tham gia Ban nghiên cứu và triển khai thực hiện Hiệp định Paris, rồi làm việc trong Tiểu ban quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Sài Gòn sau khi hiệp định được ký kết. Tác giả trực tiếp xử lý nhiều vụ việc phức tạp liên quan đến hoạt động hàng không, như vụ khiếu nại máy bay CH-47, vụ rơi trực thăng UH-1 gần Ly Tôn, đấu tranh với phía Mỹ và Canada trong Ủy ban Quốc tế để bảo vệ lập trường của ta, đồng thời ngăn chặn

Lai Châu02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 10 năm 1972, tôi rời phòng Tham mưu Bộ Tư lệnh Không quân từ nơi sơ tán ở Tiên Phương về Tổng cục Chính trị nhận nhiệm vụ ở Ban nghiên cứu hiệp định mà ta sẽ ký với Mỹ.

Ngày 20-1-1973 tôi ở trong đoàn tiền trạm đi Pa-ri để chuẩn bị triển khai các tổ sĩ quan liên hợp một khi hiệp định được ký kết. Nhưng phía Mỹ đề nghị việc họp triển khai sẽ làm tại Sài Gòn, do đó bộ phận chúng tôi lại từ Pa-ri về Sài Gòn. Như vậy là để đi từ Hà Nội vào Sài Gòn chúng tôi phải đi vòng qua châu Âu, một chuyến đi du lịch bất đắc dĩ.

Tôi được phân công vào tiểu ban quân sự của đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam một cái tên dài dằng dặc như cuộc kháng chiến trường kỳ! Là một cán bộ tham mưu, ngoài những nhiệm vụ quân sự chung, tôi còn được phân công theo dõi và giải quyết những vụ có liên quan đến không quân.

Việc đầu tiên tôi tham gia giải quyết là vụ Mỹ khiếu nại máy bay CH-47 của Mỹ phục vụ ủy ban Quốctế bị bắn rơi ở phía Nam thị xã An Lộc trên đường 13. Mỹ nói quân giải phóng đã bắn rơi máy bay đó khi nó đã làm xong nhiệm vụ chở hàng do tổ quốc tế ở An Lộc, bên ta nói là không có chứng cứ. Cãi qua, cãi lại cả tuần lễ, Mỹ ngán quá, tuyên bố bỏ cuộc!

Vừa hết thời hạn 60 ngày, Mỹ phải rút hết quân khỏi Việt Nam, ta trả hết tù binh Mỹ bị bắt thì xảy ra sự kiện Ly Tôn: 2 máy bay UH-1 của hãng Air America chở sĩ quan ủy ban Quốc tế từ Quảng Trị lên Lao Bảo thì một chiếc bị rơi gần bản Ly Tôn, chiếc còn lại hạ cánh khẩn cấp xuống con đường ta mới mở từ Lao Bảo đi Sa Trầm (ngày 7-4-1973) trong vụ này, 1 sĩ quan Hung-ga-ri, 2 sĩ quan Indonesia, 2 sĩ quan Chính phủ cách mạng lâm thời và tổ lái Air America 3 người (2 Mỹ, 1 Philippin) chết.

Báo chí ngụy ở Sài Gòn nhân dịp này công kích ta vi phạm Hiệp định Pa-ri, nhưng bản kết luận của 4 trưởng đoàn quân sự ủy ban Quốc tế không có lý do nào quy kết lỗi của phía ta mà chỉ nói lý do máy bay UH-1 của ủy ban Quốc tế bị tai nạn là do bay chệch hành lang qui định quá xa (45 - 50km) sau đó, đoàn Canađa đề nghị cho đi điều tra lại vì họ nói là vị trí của chiếc UH-1 còn lại, sau khi hạ cánh khẩn cấp đã bị dời đi sâu vào phía lãnh thổ kiểm soát. Tuy biết họ có âm mưu lật lại vấn đề nhưng để tỏ thiện chí, bên ta vẫn đồng ý cho các đại diện ủy ban Quốc tế lên lại chỗ xảy ra tai nạn để xác minh lại và đưa chiếc UH-1 còn lại về Huế.

Nhiệm vụ được giao cho tổ sĩ quan ủy ban Quốc tế khu vực 1 đóng ở Huế và tổ sĩ quan Chính phủ cách mạng lâm thời đóng ở Gio Linh. Phần lớn các trưởng tổ sĩ quan các nước ở các khu vực là cấp đại tá thay phiên nhau làm chủ tịch, nhưng lần này đến phiên Hung-ga-ri làm chủ tịch thì chỉ là trung úy, điều khiển 3 đại tá Canada, Ba-lan, Indonesias lý do là đại tá trưởng tổ Hung-ga-ri ở Huế đi Sài Gòn chữa răng. Tôi được cử làm sĩ quan liên lạc. Được ra Huế và thăm vùng giải phóng, tôi rất phấn khởi. Từ Sài Gòn ra Huế đi bằng máy bay nhỏ và từ sân bay Phú Bài ra Quảng Trị bằng ô tô.

Khi họp bàn việc đi lên địa điểm xảy ra tai nạn đại tá Canada đề nghị đi bằng máy bay tắt qua rừng, không theo đường số 9. Ta dại gì cho họ bay qua vùng rừng mà dưới đó quân ta đang tập kết số lượng lớn để cho họ tha hồ dòm ngó. Bên ta bác ngay: "Chúng tôi đã chuẩn bị xe ô tô đưa đoàn đi. Đi máy bay trực thăng không theo hành lang thì chúng tôi không bảo đảm an toàn".

Ngày hôm sau, một đoàn xe Bắc Kinh mới toanh đưa các vị lên Ly Tôn, nơi chiếc UH-1 còn lại đang đỗ trên đường Trường Sơn Đông. Chủ tịch tổ quốc tế cám ơn phía Chính phủ cách mạng lâm thời đã bảo quản tốt máy bay và sẵn sàng phương tiện (2 xe Kraz) để đưa về bờ bắc sông Thạch Hãn. Tôi đề nghị các đại biểu ủy ban Quốc tế ký xác nhận là máy bay vẫn ở nguyên vị trí ban đầu và trong trạng thái tốt. Các đại biểu đồng ý, nhưng riêng đại tá Canada không chịu ký. Tôi nói: Có một vị không chịu ký thì tôi phải đi xin ý kiến cấp trên và như vậy tối nay xin mời các vị ở lại đây với chúng tôi!

Trời đã về chiều, Canada vẫn không chịu ký, tôi hội ý với đơn vị tại chỗ sửa soạn một lán để các sĩ quan"công tử" ngủ lại rừng. Thấy bên ta không nhân nhượng, trung úy Berentês (Hung-ga-ri) gặp riêng tôi: Tôi đồng ý để tổ quốc tế ở lại đêm nay, nhưng đề nghị đồng chí báo cáo cấp trên là nhân danh chủ tịch tổ quốc tế khu vực 1, tôi sẽ ký xác nhận để sáng mai tổ quốc tế nhận máy bay. Tôi đi đến sở chỉ huy quân ta đóng cách hơn 1km báo cáo tình hình và xin ý kiến. Đồng chí chủ nhiệm chính trị đồng ý chấp nhận đề nghị của chủ tịch ủy ban Quốc tế.

Sáng hôm sau, đơn vị tên lửa đóng gần đó cho mượn một xe cần cẩu để đưa chiếc trực thăng do các thợ máy Mỹ và Philippin đã tháo rời lên 2 chiếc xe Kraz chở về bờ bắc sông Thạch Hãn. Đến đó, đại tá Canada vui vẻ nói: "Bây giờ tôi sẵn sàng ký". Tôi cám ơn khéo: "Tôi chỉ cần ông kỹ thuật viên của Air America ký là đã nhận lại chiếc UH-1 trong tình trạng tốt?"

Như vậy là đã dẹp được một âm mưu dùng máy bay của ủy ban Quốc tế để trinh sát đường Đông Trường Sơn.

Tôi cũng đã làm dẫn đường cho máy bay UH-1 đi vào vùng giải phóng của ta ở Phú Yên để nhận tù binh ta trả từ Tuy Hòa tôi lên ngồi gần người lái chính để chỉ địa điểm hạ cánh. Đã xác định tọa độ X, Y tôi lấy điểm cắt nhau giữa đường quốc lộ 1 và đường sắt gần ga Chí Thanh (huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) làm điểm kiểm tra, đến đó tôi bảo người lái bay 270 độ trong 5 phút.Gần hết phút thứ 5, mặt người lái Mỹ rạng rỡ khi nhìn thấy tín hiệu chữ T bằng vải trắng trên một vạt ruộng khô giữa những quả đồi thấp. Anh ta quay sang tôi, giơ ngón tay cái và nói: "Như vậy là chúng ta đến đích an toàn, không trục trặc gì". Tôi trả lời: Đi với tôi, sợ gì trục trặc Thật ra tôi cũng hơi lo, vì chưa đến đây lần nào, lỡ ra có sai lệch gì đó về tọa độ điểm đón mà không đến được đích thì rất phiền phức.

Những chuyến C 130 Mỹ đi Hà Nội .

Theo thỏa thuận giữa ta và Mỹ thì hàng tuần sẽ có một chuyến C130 của không quân Mỹ chở sĩ quan của đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa từ Tân Sơn Nhất về Hà Nội báo cáo. Trên các chuyến bay đó ngoài các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, còn có các cán bộ quân giải phóng về thăm gia đình ở miền Bắc và sĩ quan ngụy đi tham quan Hà Nôi. Mấy chuyến đầu ưu tiên cho các đồng chí đi B lâu ngày rồi dần dần đến hết lượt. Tôi cũng vài lần được về gặp gia đình ở chiêu đãi sở Gia lâm.

Năm 1975, tôi đi trong chuyến ra Hà Nội giáp tết ất Mùi máy bay đã đến Gia Lâm, lượn mấy vòng nhưng không hạ cánh mà quay trở về lý do "khí tượng xấu”. Ta đấu tranh nên ngày hôm sau lại đi tiếp. Đã đến giờ dự báo hạ cánh mà chưa thấy giảm độ cao, tôi vào buồng lái xem màn ra đa thì thấy đang lượn ngoài cửa sông Đáy, không chịu vào Gia Lâm, tôi bảo người lái đưa micro cho tôi nói chuyện với sân bay Gia Lâm. Nghe tiếng anh Lê Quỳ trả lời: Trần mây 200m tầm nhìn 3km, thừa tiêu chuẩn mở của sân bay, máy bay Aeroflot vừa xuống xong!

Tôi nói ngay với một kiểm tra viên bay Mỹ: "Tình hình khí tượng cho phép, trên máy bay có 2 trung tá kiểm tra viên mà không đưa được máy bay hạ cánh, không hiểu trình độ phi công Mỹ thế nào?".

Y tức máu: 'Khí tượng xấu vậy chứ xấu nữa chúng tôi vẫn hạ cánh được, chúng tôi không xuống vì lý do khác kia?".

Như vậy là đã rõ, phía Mỹ cố tình phá, không cho 2 đoàn ta ở Tân Sơn Nhất nhận được thư từ, quà tết mà cơ quan thi hành hiệp định đã chuẩn bị. Tết đó, không có cành đào Nhật Tân, không có bánh chưng Hà Nội. Các phu nhân đi đón hụt các đức ông chồng không ngớt lời chửi Mỹ: Đồ đểu.

Từ giữa tháng 4- 1975, khi quân ta tiến gần Sài Gòn, chúng tôi đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu: Từng tổ đào công sự trong nhà, có lỗ châu mai nhìn ra đường, đào giao thông hào ngầm từ nhà nọ sang nhà kia, nối với sở chỉ huy và hầm cứu thương, dự trữ nước uống, lương khô (1 người 1 thùng lương khô Trung Quốc), mỗi người trang bị 1 súng AK, 1 khẩu K59 và mấy quả lựu đạn chống tăng... giờ ăn không tập trung ở nhà ăn mà từng tổ lấy cơm về nhà ăn.

Chiều 28-4-1975, đang ăn cơm thì nghe tiếng bom nổ sát bên cạnh, chúng tôi vội vàng nhảy xuống hầm. Im ắng, không nghe thêm tiếng bom, chỉ thấy khói bốc lên phía bên sân bay không biết máy bay ngụy làm đảo chính hay máy bay nào vậy. Một hành động phản chiến như Nguyễn Thành Trung 20 ngày trước đây? Độ 1 giờ sau, BBC đã đưa tin: 4 máy bay A37 sau khi ném bom Tân Sơn Nhất đã bay về hướng Bắc: Lại phán đoán: Máy bay "ta" chăng? Đến tối, đài phát thanh tiếng nói Việt Nam loan báo: Máy bay ta đã ném bom khu sân đỗ máy bay ở Tân Sơn Nhất, tiêu diệt nhiều máy bay Mỹ -ngụy.

Chúng tôi nhận định: Trận đánh giải phóng SàiGòn sắp bắt đầu vì quân ta đã chiếm Biên Hòa, Long Thành rồi. Giờ giải phóng sắp điểm kiểm tra lại trang bị cá nhân, sẵn sàng cho phương án trụ lại nếu bị địch tấn công vào trại, cùng lắm là một đêm thì bộ đội ta sẽ vào đến nơi.

3 giờ sáng 29-4 một loạt đạn pháo lớn nổ nghe chát chúa, tất cả như lò xo bật dậy cầm súng lăn xuống hầm. Pháo bắn cấp tập vào sân bay Tân Sơn Nhất. Ngồi dưới hầm, nghe tiếng đạn chạm đất rất gần, mảnh đạn bay rào rào và rơi lộp bộp trên mái nhà bằng fibrô-ximăng. Trại chúng tôi nằm giữa một bên là sân đậu máy bay, một bên là khối bổ sung của sư đoàn dù ngụy, nên các pháo thủ 122mm của ta dù lấy phần tử bắn chính xác đến đâu cũng không thể hạn chế đạn rơi vào trại Davis. Suốt ngày 29-4, pháo ta vẫn tiếp tục dội vào Tân SơnNhất lúc nhặt, lúc thưa. Thỉnh thoảng một vài máy bay còn liều lĩnh cất cánh chạy trốn. Chúng tôi phán đoán là pháo ta từ phía Nhơn Trạch bắn vào vì nghe tiếng nổ "đề pa" từ phía Đông Nam thành phố.

Sáng ngày 30-4, một loạt pháo cấp tập nữa dội vào Tân Sơn Nhất, rồi thì im ắng.

Ban chỉ huy đoàn báo tin quân ta đã đến Bà Quẹo, đến sư đoàn dù... rồi ra lệnh cho anh em lên khỏi hầm huẩn bị đón quân ta vào.

Một lá cờ nửa đỏ nửa xanh khá lớn đã được kéo lên trên đỉnh tháp nước của trại. Nhìn ra đường, cơ man là quân trang quân dụng của lính dù vứt lại bỏ chạy.

Ôi thật cảm động và không bao giờ quên, chúng tôi đã trực tiếp nhìn thấy cảnh Sài Gòn được giải phóng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
TRONG VÒNG VÂY ĐỊCH GIỮA CĂN CỨ QUÂN SỰ TÂN SƠN NHẤT | Câu chuyện thời hoa lửa