Bài viết

Trung đoàn 174, Sư đoàn 316 (Quân khu 2) – “chủ công” trong chiến dịch giải phóng Biên giới 1950

Luôn được giao đảm nhiệm mũi chủ công trong các trận đánh, chiến dịch có ý nghĩa then chốt, lịch sử, cuộc tập kích của Trung đoàn 174, Sư đoàn 316 (Quân khu 2) tại căn cứ quân sự Đông Khê (Cao Bằng) đã mở màn cho những thắng lợi trong chiến dịch giải phóng Biên giới 1950.

Hải Phòng15/01/2026Đoàn xã Ninh Giang (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Ninh Giang)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Công tác chuẩn bị chiến dịchĐầu năm 1950, Trung ương Đảng chỉ thị cho Liên khu ủy Việt Bắc “Chuẩn bị chiến trường Đông Bắc thật đầy đủ để khi có điều kiện sẽ mở một chiến dịch lớn quét địch ra khỏi đường số 4, đánh bại quân địch ở vùng Đông Bắc; việc chuẩn bị phải triển khai trên phạm vi rộng lớn, huy động nhiều người, trong đó có việc chuẩn bị lương thực, thực phẩm tiếp tế cho bộ đội đến đánh”.Tháng 6/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới lấy mật danh là Chiến dịch Lê Hồng Phong II trên hướng Cao Bằng - Bắc Cạn - Lạng Sơn nhằm mục đích tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới phía Bắc nước ta, mở đường giao thông với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.Bác Hồ trên đường đi Chiến dịch Biên giới năm 1950. (Ảnh Tư liệu: TTXVN)Cụm cứ điểm Đông Khê bao gồm khu trung tâm đề kháng, trong đó, Đồn Đông Khê (Đồn To) nằm trên ngọn đồi nổi lên giữa thị trấn là quan trọng và vững chắc nhất, vòng ngoài có 7 cứ điểm tiền tiêu bị Trung đoàn 174 diệt hồi tháng 5/1950. Sau khi chiếm lại, địch đã ra sức củng cố, xây dựng thành cứ điểm mạnh. Ở hướng bắc và hướng đông bắc bị quân ta đánh đột nhập lần trước, quân địch đã cải tạo lại địa hình, san bằng thành một quãng trống. Địch đào thêm hầm ngầm giao thông hào có nắp che từng quãng, củng cố các lô cốt thêm vững chắc. Vòng ngoài gồm hệ thống dây thép gai dày đặc, bố trí thêm những hỏa điểm bí mật. Địch tính toán sẵn khoảng cách cho cối 120 ly, 81 ly bắn vào các vị trí xuất phát xung phong của ta. Khi quân ta vào được trong đồn, các hỏa điểm bất ngờ bắn quét; nếu lộ trên mặt đất, cối dùng cách bắn thẳng (xạ giới cao) bắn ngay vào sân đồn.Lễ xuất quân đánh đồn Đông Khê của Trung đoàn 174 (năm 1950). (Ảnh TL: BTQK2)Với quyết tâm đánh Đông Khê mở màn thắng lợi chiến dịch, Ban chỉ huy mặt trận Đông Khê quyết định sử dụng 3 trung đoàn bộ binh và 13 khẩu pháo 75 ly. Trung đoàn 174 được tăng cường Tiểu đoàn 426 và 6 khẩu sơn pháo 75 ly, vinh dự nhận nhiệm vụ chủ công đánh từ phía bắc xuống, Trung đoàn 209 đánh từ hướng nam lên, Trung đoàn 36 (Bắc Bắc) làm nhiệm vụ dự bị và đánh quân nhảy dù xuống cứu viện Đông Khê.Đêm ngày 15/9/1950, Trung đoàn 174 cùng các đơn vị đã vào chiếm lĩnh trận địa. Sẵn sàng chờ lệnh từ 5 giờ sáng ngày 16/9/1950, tới 6 giờ, pháo binh ta bố trí trên các dãy núi phía đông bắc và tây nam bắn đồng loạt xuống cứ điểm Đông Khê, mở đầu trận đánh. 9 giờ cùng ngày, Tiểu đoàn 429 chiếm được Yên Ngựa, đến 10 giờ chiếm được Phia Khóa. Tiếp đó, Tiểu đoàn 429 đánh xuống khu nhà thương dưới phố.Ở phía nam, Trung đoàn 209 có bộ phận đi lạc nên không kịp hiệp đồng chiến đấu, khi nổ súng tiến công phát triển thuận lợi, nhưng sau đó bị địch chặn lại. Cuộc chiến đấu kéo dài đến sáng 17/9/1950. Tuy ta đã chiếm được Yên Ngựa, Phia Khóa, Cạm Phầy, khép vòng vây bao quanh Đồn To nhưng bị địch cố thủ ở hầm ngầm tung lực lượng ra phản kích, đẩy ta ra xa. Sau một ngày đêm chiến đấu quyết liệt, bộ đội ta vẫn chưa chiếm được Đông Khê. Địch bị thất bại nặng, nhưng ta cũng có nhiều thương vong.Cả ngày 17/9, theo chỉ thị của Bộ chỉ huy chiến dịch, bộ đội lại chuẩn bị cho đợt tiến công dứt điểm. Trung đoàn 174 đề xuất với Ban chỉ huy mặt trận xin chuyển hướng đột phá sang hướng đông bắc, bố trí hiệp đồng giữa pháo cối của ta để chế áp pháo binh địch.Trong chiến dịch này có vinh dự lớn được Bác Hồ ra mặt trận và đã được Bác lên trực tiếp quan sát diễn biến trận Đông Khê. Trung đoàn đã tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ nghe đọc “Lời kêu gọi đồng bào Cao - Bắc - Lạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh (9/9/1950): “Hỡi đồng bào yêu quý! Quân ta đã mở chiến dịch trên mặt trận Cao - Bắc - Lạng. Chiến dịch này rất quan trọng cho Cao - Bắc - Lạng và cho cả toàn quốc... Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào ba tỉnh, các ủy ban kháng chiến và hành chính, các đoàn thể nhân dân cố gắng thêm nữa, tiếp tục giúp đỡ bộ đội ta trước mặt trận để quân ta giết nhiều địch, đánh thắng to...”[1]. Được thư Bác động viên, cán bộ, chiến sĩ đánh trận Đông Khê đều quyết tâm, dù khó khăn đến đâu cũng cố gắng khắc phục, đánh thắng trận đầu.Chiến thắng Đông Khê17 giờ ngày 17/9, các đơn vị đồng loạt nổ súng mở đợt tiến công mới vào trung tâm Đông Khê. Trung đoàn 174 nhanh chóng chiếm nhiều vị trí trong thị trấn, nhưng khi tiến công vào Đồn To thì vấp phải sự kháng cự quyết liệt của địch. Trong khi đánh hầm ngầm có một số cán bộ trung đội, đại đội bị thương. Tiểu đội của đồng chí Lý Văn Mưu chỉ còn 3 người. Trước tình huống khó khăn, đồng chí Mưu bò đến từng ngách hầm thu nhặt các gói thủ pháo gom lại thành một khối 12kg. Với tinh thần cảm tử để giành thắng lợi cho trận đánh, đồng chí Mưu đã nghĩ ra cách đánh bộc phá hết sức táo bạo, giật nụ xòe ngay từ tuyến xuất phát rồi ôm bộc phá lao lên. Đạn địch găm vào bụng, vào chân làm anh ngã xuống. Nghiến răng chịu đau, Lý Văn Mưu ráng hết sức trườn lên áp sát người và khối bộc phá vào thành lô cốt. Bộc phá nổ, làm nổ theo 3 khối thuốc nổ của đồng chí hy sinh bỏ lại. Lô cốt giặc sụp đổ, quân ta ào lên xung phong và giành chiến thắng, đồng chí Lý Văn Mưu đã anh dũng hy sinh.Phối hợp với Trung đoàn 174, Trung đoàn 209 tiến công từ phía nam lên. Đại đội trưởng Trần Cừ vượt qua cửa mở bị hỏa lực địch chặn lại. Sau nhiều lần xung phong không thành công, đồng chí Trần Cừ tập trung súng trường, súng máy bắn mạnh vào lô cốt rồi rút lựu đạn xông lên. Anh bị một loạn đạn địch bắn trúng cả hai chân. Thu hết sức mình, Trần Cừ lao xuống lấy ngực bịt lỗ châu mai. Anh hy sinh trong tư thế tiến công oanh liệt.Địch bị thiệt hại và lúng túng. Trung đoàn 174 mở thêm một mũi đột phá ở hướng đông khiến địch đối phó càng thêm lúng túng. Tiểu đội phó La Văn Cầu, người chiến sĩ xung kích đã từng nhảy lên xe tăng đoạt súng giặc trong trận phục kích đèo Bông Lau năm xưa, nay là chiến sĩ bộc phá. Anh bị trúng đạn nát cánh tay phải. Không chút do dự, anh nhờ đồng đội dùng lưỡi lê chặt đứt cánh tay cho đỡ vướng rồi tiếp tục dùng tay trái ôm khối thuốc nổ lao lên dập tắt hỏa lực địch. Hành động dũng cảm của La Văn Cầu đã tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị đánh chiếm Đồn To, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nêu lá cờ đầu trong phong trào thi đua giết giặc lập công. Đến 4 giờ sáng ngày 18/9, Trung đoàn 174 thọc sâu vào sở chỉ huy địch, phối hợp với các mũi tiến công của Trung đoàn 209 đánh chiếm toàn bộ Đồn Đông Khê (Đồn To). Lợi dụng sương mù, tên đồn trưởng (đại úy A-li-uc) cùng một số sĩ quan Pháp định vượt hàng rào chạy ra phía đông nam nhưng đã bị bắt.Trung đoàn 174 tấn công vào đồn Đông Khê (năm 1950). Ảnh TL: BTQK210 giờ sáng ngày 18/9, trận đánh then chốt vào Đông Khê kết thúc thắng lợi. Lực lượng ta đập tan cụm cứ điểm địch, tiêu diệt và bắt trên 300 tên, bắn rơi 1 máy bay, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Trung đoàn 174 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đánh thắng trận đầu, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi.Đông Khê – mắt xích quan trọng trên tuyến phòng thủ đường số 4 của địch – đã mất, phân khu Cao Bằng hoàn toàn bị cô lập. Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương Các-phăng-chi-ê quyết định rút khỏi Cao Bằng và thực hiện kế hoạch Tê-rê-dơ đưa quân lên chiếm lại Đông Khê, đón cánh quân từ Cao Bằng rút về, đồng thời mở cuộc hành quân Phô-cơ (Hải cẩu) đánh lên Thái Nguyên đỡ đòn cho đồng bọn ở khu vực biên giới.Đánh địch ở Na Sầm, giải phóng Lạng Sơn, kết thúc chiến dịchSau chiến thắng Đông Khê, Bộ chỉ huy chiến dịch hạ quyết tâm: tập trung lực lượng hạ một phần sinh lực địch từ Thất Khê lên chiếm lại Đông Khê và giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 308 tiêu diệt quân viện đi theo đường bộ, Trung đoàn 174 đánh quân đổ bộ đường không, Trung đoàn 209 làm dự bị chung. Khu vực phía nam Thất Khê do đồng chí Thanh Phong, Phó Tư lệnh liên khu Việt Bắc chỉ huy, Tiểu đoàn 428 và nhân dân du kích Lạng Sơn tiếp tục phá hoại cầu đường đoạn Lạng Sơn - Na Sầm, tích cực đánh du kích, tiêu hao sinh lực địch.Ngày 23/9/1950, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương: để thúc đẩy địch ra ứng viện, ta cần chủ động và có biện pháp tích cực tạo thời cơ tiêu diệt địch. Trong khi sẵn sàng chờ đợi đánh viện binh địch, Đại đoàn 308, Trung đoàn 209 đưa một bộ phận xuống đánh địch ở quanh Thất Khê. Trung đoàn 174 và Tiểu đoàn 426 xuống hoạt động ở nam Thất Khê, trú quân ở vùng Khuổi Lịch, Bản Bẻ, Đèo Khách, sẵn sàng diệt đồn bốt quanh Thất Khê và ngăn chặn viện binh từ Thất Khê lên. Chớp thời cơ quân địch trú trong các đồn bốt nhỏ hoang mang, dao động, rút chạy về Na Sầm, Trung đoàn 174 áp sát bao vây, Tiểu đoàn 255 diệt đồn Na Leng, Tiểu đoàn 249 diệt đồn Đèo Khách, Tiểu đoàn 251 diệt đồn Na Cam trong hai ngày 3 và 4/10/1950.Ở hướng chính, tối ngày 2/10, bộ đội ta bắt đầu nổ súng đánh viện binh địch ở Trọc Ngà, Khau Luông, cuộc chiến đấu kéo dài trong suốt ba ngày. Ngày 4/10, Trung đoàn 174 được Bộ chỉ huy chiến dịch thông báo địch đã rút khỏi Cao Bằng và nhận lệnh hành quân gấp lên Thất Khê. Lúc đó, Đại đoàn 308 đang bao vây địch ở Cốc Xá (xã Trọng Con, Thạch An, Cao Bằng), Trung đoàn 209 đánh binh đoàn Sác-tông. Tiểu đoàn 249 được tăng cường lực lượng bao vây cánh quân Lơ Pa-giơ ở Cốc Xá. Hai tiểu đoàn còn lại của Trung đoàn 174 và cơ quan trung đoàn bộ bố trí giăng lưới dọc bờ sông Bắc Khê, đón lõng, bắt nhiều tù binh. Ngày 7/10, một cánh quân khoảng 4 đại đội do Đờ La-bôm chỉ huy từ Thất Khê lên Lũng Phầy với ý định bắt liên lạc với Lơ Pa-giơ và Sác-tông. Nhận được lệnh của Bộ, Trung đoàn điều Tiểu đoàn 251 làm nhiệm vụ đón đánh địch.Trong ngày 8/10, Trung đoàn nhận lệnh hành quân chiến đấu về phối hợp với các đơn vị đánh chiếm Thất Khê. Đêm 8/10, Tiểu đoàn 79 (Trung đoàn 102) diệt đồn Bản Ne. Đêm hôm sau, công binh phối hợp với Tiểu đoàn 808 Lạng Sơn kiềm chế đồn Bản Trại, dùng bộc phá đánh sập cầu Bản Trại qua sông Kỳ Cùng để ngăn chặn quân địch rút lui.Trước thế uy hiếp mạnh, 21 giờ ngày 10/10/1950 địch rút khỏi Thất Khê. Trung đoàn 174 vào Thất Khê thì địch vừa rút khỏi thị trấn, để lại rất nhiều xe pháo ở bờ bắc sông Kỳ Cùng. Ngay sau đó, Trung đoàn 174 nhận lệnh gấp của Bộ chỉ huy chiến dịch, nắm thời cơ tiến nhanh xuống giải phóng Na Sầm, giao lại việc tiếp quản Thất Khê cho huyện Tràng Định.Tiểu đoàn dù 3 thuộc địa rút lui sau cùng và bị tiêu diệt gần hết. Ngày 17/10, quân Pháp rút khỏi Đồng Đăng, rạng sáng 18/10 chúng tiếp tục rút khỏi Lạng Sơn, Lạng Giang, rút xuống Đình Lập, Lộc Bình. Cùng với Tiểu đoàn 426, Trung đoàn 174 tiến vào Lạng Sơn. Địch rút chạy vội vàng, bỏ lại nguyên vẹn hai pháo đài Đèo Giang, Văn Vĩ nổi tiếng kiên cố ở Đông Dương. Trong pháo đài còn nguyên các lô cốt, hầm ngầm, các kho còn đầy ắp súng đạn, quân trang, quân dụng tổng cộng khoảng 11.300 tấn, đủ trang bị cho 8 trung đoàn bộ binh. Nhân dân thị xã Lạng Sơn sau những phút bàng hoàng đã mở rộng cửa đón con em của mình, những anh bộ đội về giải phóng tỉnh nhà.Trung đoàn 174 trú quân xung quanh thị xã Lạng Sơn từ tháng 10 đến tháng 12/1950. Ngoài việc bảo vệ thị xã, trung đoàn còn tham gia vận chuyển kho tàng, đạn dược phân tán ra khu căn cứ Ba Xã. Trung đoàn còn làm nhiệm vụ nghi binh chiến lược, lấy danh nghĩa Đại đoàn 308 đến các địa phương yêu cầu chuẩn bị lương thực cho đại đoàn về đóng quân và hành quân di chuyển đến đóng quân xung quanh Lộc Bình.Sau 29 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, chiến dịch Biên Giới kết thúc thắng lợi. Chiến thắng Biên Giới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cục diện của cuộc kháng chiến chống Pháp. Riêng với Trung đoàn 174, đây là một mốc son đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của đơn vị, là một thành tích đáng tự hào mà trung đoàn đã đóng góp cùng các đơn vị bạn vào việc giải phóng quê hương Cao - Bắc - Lạng của mình. Ba tỉnh được giải phóng, ta có điều kiện củng cố chính quyền nhân dân và phát triển lực lượng. Rồi đây, Trung đoàn 174 - con em của Cao - Bắc - Lạng dù có phải xa quê hương đi làm nhiệm vụ ở các chiến trường khác cũng vững bước yên tâm, phấn khởi lên đường./. [1] Dẫn theo: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6 (1950-1952), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2002, tr.94.

Nguồn: Đinh Thu - BTQK2

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn