Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Trung đoàn 66 - 55 năm một chặng đường vẻ vang

Trung đoàn 66 - Sư đoàn 304, trải qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước, đã lập nên bao chiến công oanh liệt. Trung đoàn đã được tặng thưởng danh hiệu cao quý "Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". Lớp cán bộ, chiến sĩ thời kỳ kháng chiến chống Pháp người trẻ nhất giờ cũng đã ở tuổi "cổ lai hi". Mặc dù tuổi cao, sức khỏe giảm sút, nhưng với tình cảm sâu đậm với trung đoàn và đồng đội, nhiều đồng chí đã ghi lại những gì còn nhớ được trong những năm tháng gian kh

Lai Châu02/07/2026Quân đội nhân dân (xã Sìn Hồ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nói đến Trung đoàn 66, không thể không nhắc đến 2 đơn vị tiền thân của trung đoàn là Trung đoàn 35 và Trung đoàn 37, những trung đoàn với tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", đã anh dũng chiến đấu trong lòng Hà Nội, với những trận đánh ác liệt ở Ô Cầu Dền, Nhà thương Vọng, Việt Nam học xá, Vĩnh Tuy, Yên Phụ, Cầu Giấy...

Sau khi rút khỏi Thủ đô, ngày 20-3-1947, Trung đoàn 37 tiến công địch giữa ban ngày tại thị xã Hà Đông, sau đó cùng với Trung đoàn 35 hợp thành Trung đoàn 66, trung đoàn chủ lực của Liên khu 3.

Trung đoàn trưởng đầu tiên là đồng chí Phùng Thế Tài, chính ủy là đồng chí Trương Công Cẩn.

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp gian khổ nhưng vô cùng anh dũng, Trung đoàn 66, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước được sự chăm sóc, nuôi dưỡng, thương yêu đùm bọc của nhân dân các dân tộc, đã ngày một trưởng thành và góp phần vào những chiến công vang dội của Quân đội nhân dân Việt Nam bách chiến, bách thắng. Trung đoàn đã chiến đấu từ đồng bằng cho đến rừng núi, chủ yếu là ở các tỉnh Hà Tây, Hòa bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình và hai lần sang chiến đấu cùng với bộ đội Pathet Lào tại đất nước bạn. Trung đoàn đã chiến đấu từ độc lập từng tiểu đoàn đến chiến đấu toàn trung đoàn rồi chiến đấu trong đội hình Đại đoàn 304 với nhiệm vụ là trung đoàn chủ công, phối hợp chiến đấu với các đơn vị bạn và lực lượng vũ trang nhân dân các địa phương. Trong kháng chiến chống Pháp, trung đoàn đã tham gia tất cả 9 chiến dịch lớn của quân đội ta, khi ở hướng chính, khi ở hướng phối hợp. Trung đoàn đã vận dụng một cách linh hoạt sáng tạo tất cả các hình thức chiến thuật từ tập kích, phục kích, kỳ tập, cường tập đến vận động tiến công, đánh công kiên, từ đánh đêm đến đánh ngày dưới phi pháo địch, từ chiến đấu bằng vũ khí thuộc trang bị trung đoàn đến chiến đấu phối hợp với pháo, cối của cấp trên. Qua các chiến dịch, trung đoàn đã lập nên nhiều chiến công, có chiến công mang ý nghĩa lớn về mặt chiến thuật hoặc chiến dịch.

Trong thời kỳ trung đoàn chiến đấu độc lập, phần lớn là sử dụng lực lượng từng tiểu đoàn trong một trận, có thể kể đến một số trận tiêu biểu như: Trận đánh địch lấn chiếm, bảo vệ vùng căn cứ tại Đồi Hà, Vài, Sải (Mỹ Đức - Hà Tây); trận tiêu diệt đồn Mường Riệc (Hòa Bình), là trận chiến thắng đầu tiên bằng chiến thuật kỳ tập trên chiến trường rừng núi của Liên khu 3 và cũng là trận mở đầu truyền thống tiêu diệt gọn của trung đoàn, trận tiêu diệt đồn Đồng Bến (Kỳ Sơn - Hòa Bình), là trận đánh đấu tiên bằng chiến thuật cường tập, dùng hỏa công, tiêu diệt gọn một đại đội địch trong công sự vững chắc; trận Gò Bùi (Lương Sơn - Hòa Bình); trận Lê Xá, là trận cường tập tiêu diệt một đại đội địch ngay rìa thị xã Nam Định; trận Hoàng Dương - Tử Dương (Ứng Hòa - Hà Tây) là một trận vận động tiến công giữa ban ngày ở đồng bằng dưới phi pháo địch, tiêu diệt gọn một đại đội Âu Phi mạnh, bắt tù binh thu toàn bộ vũ khí. Trong đợt hành quân lên Việt Bắc tiếp nhận vũ khí mới, ngày 28-2-1951, một vinh dự lớn đến với Trung đoàn và Đại đoàn 304 là được Bác Hồ kính yêu, vị cha già dân tộc, người khai sinh ra QĐND Việt Nam anh hùng, đến thăm và nói chuyện tại một khu rừng cách đường số 2 (Tuyên Quang) 5 km. Câu nói mở đầu của Bác làm mọi người rơm rớm nước mắt. Bác nói: "Hôm nay, không phải chỉ là Chủ tịch nước đến thăm bộ đội mà là cha đến thăm con, bác đến thăm cháu..." Câu nói đầy ân tình của Bác đã động viên trung đoàn ta vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, anh dũng kiên cường, chiến đấu lập công, không phụ lòng tin yêu của Bác.

Trong thời kỳ chiến đấu trong đội hình đại đoàn, có thể kể đến các trận như: Tiêu diệt 2 đồn Chùa Dầu, Yên Vệ trong một đêm, hôm sau đánh một trận vận động ban ngày ở Đò Lá và phục kích đánh đắm nhiều ca nô chở quân của địch tại ngã ba Thông sông Đáy (Ninh Bình) trận phục kích tiêu diệt 34 xe tại Cầu Mè trên đường số 6, mở đầu cho chiến dịch Hòa Bình, các trận Hói Đào, Hồi Trung, Giang Nại, vừa đánh điểm vừa diệt viện, trận thọc sâu vào thị trấn Phát Diệm tấn công tiêu diệt một bộ phận tiểu đoàn Âu Phi đang đi càn quét tại Yên Bình, trận đầu tiên đánh địch không có chuẩn bị trước; trận tiêu diệt đồn Chùa Cao (Ninh Bình) bằng chiến thuật công kiên, xóa sổ một đại đội lê dương tinh nhuệ và một trung đội ngụy trong công sự boong ke mà kẻ địch đã tuyên bố là "bất khả xâm phạm"... Trong 2 lần sang chiến đấu tại Lào, có các trận: tiêu diệt đồn Noọng Hét sau đó phát triển tấn công giải phóng hoàn toàn tỉnh Xiêng Khoảng (Thượng Lào), trận truy kích địch từ Banaphào rút chạy sau đó tấn công ngay đồn Pà Cuội, với lực lượng ít hơn địch, tiêu diệt và bắt sống 1 tiểu đoàn mạnh cả lính Âu Phi và ngụy, một trận đánh táo bạo, gan dạ, mưu trí, lấy ít thắng nhiều; trận Hìn Sìu (Trung Lào) diệt gần hết 1 tiểu đoàn dù ngụy người Việt do sĩ quan Pháp chỉ huy; trận phục kích trên đường số 9 tiêu diệt 2 đại đội, phá hủy 48 xe, bắt sống tù binh thuộc binh đoàn cơ động ngụy Khơme do sĩ quan Pháp chỉ huy; tiêu diệt cứ điểm Mường Phin, sau đó tiến xuống Hạ Lào, tiêu diệt cứ điểm Lào Ngăm. Chiến dịch phát triển thắng lợi, giải phóng hàng vạn ki-lô-mét vuông, chỉ với ba trung đoàn (e66, e101 và e18) cùng bộ đội tình nguyện và bộ đội Pathet Lào, đã buộc địch phải điều một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược ở Việt Nam sang ứng cứu, góp phần quan trọng vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Kết thúc chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 trung đoàn vinh dự nhận cờ "Quyết chiến Quyết thắng" của Hồ Chủ tịch.

Qua 9 năm kháng chiến, trung đoàn đã xây dựng nên truyền thống tốt đẹp: chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, trên dưới một lòng sáng tạo linh hoạt, dũng cảm chiến đấu, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế, hoàn thành nhiệm vụ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, hòa bình được lập lại trên miền Bắc nước ta. Trong 10 năm củng cố lực lượng, xây dựng đơn vị, Trung đoàn 66 đã có những bước trưởng thành, sẵn sàng lên đường chiến đấu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trung đoàn 66 đã phát triển thành 2 trung đoàn: 66A và 66B. Ngày 20-8-1965, Trung đoàn 66A vào Nam chiến đấu lập chiến công đầu tiên lẫy lừng ở Tây Nguyên, về sau nằm trong đội hình Sư đoàn 10, Quân đoàn 3. Năm 1967, Trung đoàn 66B trong đội hình Sư đoàn 304 lên đường vào Mặt trận Khe Sanh, sau sáp nhập vào Quân đoàn 2. Trước một kẻ địch đông hơn về số lượng, mạnh gấp nhiều lần về vũ khí, trang bị kỹ thuật, truyền thống trung đoàn được giữ vững và phát triển lên một trình độ cao hơn, lập nên những chiến công oanh liệt hơn, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.

Có thể kể một số chiến công tiêu biểu của 2 Trung đoàn 66 như sau. Đó là một loạt trận tấn công vào Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn kỵ binh bay Mỹ đổ bộ xuống la đrăng - Chư Pông (Plâyme) diệt gọn 1 tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn khác, trở thành một trong những lá cờ đầu tiên diệt tiểu đoàn quân Mỹ. Là các trận tập kích Động Cô Tiên tiêu diệt hơn 1 tiểu đoàn địch, trận Bản Đông cùng với một trung đoàn bạn và một đại đội xe tăng diệt một tiểu đoàn và lữ đoàn bộ dù ngụy, trận Động Toàn, một trận chiến đấu quyết liệt diễn ra hai ngày, hai đêm, cuối cùng làm chủ điểm cao mà địch mệnh danh là "con mắt thần" của chúng; trận Mai Lộc diệt 300 tên bắt sống 96 tên trong chiến dịch Quảng Trị; trận tấn công tiêu diệt chi khu quân sự Thượng Đức mà kẻ địch coi là "cánh cửa thép của Quảng Nam - Đà Nẵng" là một đòn mạnh mẽ giáng vào kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" của ngụy quyền Sài Gòn sau hiệp định Paris. Trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với tinh thần "thần tốc, táo bạo, quyết chiến, quyết thắng" trung đoàn trong đội hình sư đoàn và quân đoàn đã tham gia giải phóng các thành phố Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Phan Rang, Phan Thiết, sau đó được lệnh tách khỏi đội hình đánh chiếm thị xã Hàm Tân, tiêu diệt và làm tan rã 5.000 quân địch co cụm tại đây.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Trung đoàn 66A từ Tây Nguyên đánh xuống chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu ngụy; Trung đoàn 66B là lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 cùng với Lữ đoàn xe tăng thiết giáp 203 đã tấn công vào "Dinh Độc Lập" ngụy buộc chính phủ bù nhìn Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện.

Qua hai cuộc kháng chiến, 2 Trung đoàn 66 được trao tặng nhiều huân chương quân công và ba lần phong danh hiệu "Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". Vinh dự đó, mỗi chúng ta đều cảm thấy tự hào đã đóng góp một phần nhỏ nhưng cũng nhận thức rằng vinh quang đó trước hết thuộc về Đảng tiền phong lãnh đạo, về nhân dân ta anh hùng, thuộc về các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn