Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Trung đoàn 66 - 55 năm một chặng đường vẻ vang

Truyền thống là hun đúc từ mồ hôi xương máu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược. Nó nói lên tinh thần đoàn kết keo sơn, chiến đấu dũng cảm, quật cường bất khuất của dân tộc ta, là dòng máu truyền lại từ đời này sang đời khác; là mạch nguồn vô tận, thấm vào máu thịt của mọi người. Nói lại những điều hay đẹp đó là rất cần thiết, để mọi người rút kinh nghiệm, học tập và động viên tinh thần trong cuộc sống và chiến đấu. Các thế hệ kế tiếp cần noi theo gương sán

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
TRUNG ĐOÀN CHÚNG TA TRUNG ĐOÀN 66 ANH HÙNG

Nói đến Trung đoàn 66, không thể không nhắc đến 2 đơn vị tiền thân của trung đoàn là Trung đoàn 35 và Trung đoàn 37, những trung đoàn với tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", đã anh dũng chiến đấu trong lòng Hà Nội, với những trận đánh ác liệt ở Ô Cầu Dền, Nhà thương Vọng, Việt Nam học xá, Vĩnh Tuy, Yên Phụ, Cầu Giấy...

Sau khi rút khỏi Thủ đô, ngày 20-3-1947, Trung đoàn 37 tiến công địch giữa ban ngày tại thị xã Hà Đông, sau đó cùng với Trung đoàn 35 hợp thành Trung đoàn 66, trung đoàn chủ lực của Liên khu 3.

Trung đoàn trưởng đầu tiên là đồng chí Phùng Thế Tài, chính ủy là đồng chí Trương Công Cẩn.

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp gian khổ nhưng vô cùng anh dũng, Trung đoàn 66, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước được sự chăm sóc, nuôi dưỡng, thương yêu đùm bọc của nhân dân các dân tộc, đã ngày một trưởng thành và góp phần vào những chiến công vang dội của Quân đội nhân dân Việt Nam bách chiến, bách thắng. Trung đoàn đã chiến đấu từ đồng bằng cho đến rừng núi, chủ yếu là ở các tỉnh Hà Tây, Hòa bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình và hai lần sang chiến đấu cùng với bộ đội Pathet Lào tại đất nước bạn. Trung đoàn đã chiến đấu từ độc lập từng tiểu đoàn đến chiến đấu toàn trung đoàn rồi chiến đấu trong đội hình Đại đoàn 304 với nhiệm vụ là trung đoàn chủ công, phối hợp chiến đấu với các đơn vị bạn và lực lượng vũ trang nhân dân các địa phương. Trong kháng chiến chống Pháp, trung đoàn đã tham gia tất cả 9 chiến dịch lớn của quân đội ta, khi ở hướng chính, khi ở hướng phối hợp. Trung đoàn đã vận dụng một cách linh hoạt sáng tạo tất cả các hình thức chiến thuật từ tập kích, phục kích, kỳ tập, cường tập đến vận động tiến công, đánh công kiên, từ đánh đêm đến đánh ngày dưới phi pháo địch, từ chiến đấu bằng vũ khí thuộc trang bị trung đoàn đến chiến đấu phối hợp với pháo, cối của cấp trên. Qua các chiến dịch, trung đoàn đã lập nên nhiều chiến công, có chiến công mang ý nghĩa lớn về mặt chiến thuật hoặc chiến dịch.

Trong thời kỳ trung đoàn chiến đấu độc lập, phần lớn là sử dụng lực lượng từng tiểu đoàn trong một trận, có thể kể đến một số trận tiêu biểu như: Trận đánh địch lấn chiếm, bảo vệ vùng căn cứ tại Đồi Hà, Vài, Sải (Mỹ Đức - Hà Tây); trận tiêu diệt đồn Mường Riệc (Hòa Bình), là trận chiến thắng đầu tiên bằng chiến thuật kỳ tập trên chiến trường rừng núi của Liên khu 3 và cũng là trận mở đầu truyền thống tiêu diệt gọn của trung đoàn, trận tiêu diệt đồn Đồng Bến (Kỳ Sơn - Hòa Bình), là trận đánh đấu tiên bằng chiến thuật cường tập, dùng hỏa công, tiêu diệt gọn một đại đội địch trong công sự vững chắc; trận Gò Bùi (Lương Sơn - Hòa Bình); trận Lê Xá, là trận cường tập tiêu diệt một đại đội địch ngay rìa thị xã Nam Định; trận Hoàng Dương - Tử Dương (Ứng Hòa - Hà Tây) là một trận vận động tiến công giữa ban ngày ở đồng bằng dưới phi pháo địch, tiêu diệt gọn một đại đội Âu Phi mạnh, bắt tù binh thu toàn bộ vũ khí. Trong đợt hành quân lên Việt Bắc tiếp nhận vũ khí mới, ngày 28-2-1951, một vinh dự lớn đến với Trung đoàn và Đại đoàn 304 là được Bác Hồ kính yêu, vị cha già dân tộc, người khai sinh ra QĐND Việt Nam anh hùng, đến thăm và nói chuyện tại một khu rừng cách đường số 2 (Tuyên Quang) 5 km. Câu nói mở đầu của Bác làm mọi người rơm rớm nước mắt. Bác nói: "Hôm nay, không phải chỉ là Chủ tịch nước đến thăm bộ đội mà là cha đến thăm con, bác đến thăm cháu..." Câu nói đầy ân tình của Bác đã động viên trung đoàn ta vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, anh dũng kiên cường, chiến đấu lập công, không phụ lòng tin yêu của Bác.

Trong thời kỳ chiến đấu trong đội hình đại đoàn, có thể kể đến các trận như: Tiêu diệt 2 đồn Chùa Dầu, Yên Vệ trong một đêm, hôm sau đánh một trận vận động ban ngày ở Đò Lá và phục kích đánh đắm nhiều ca nô chở quân của địch tại ngã ba Thông sông Đáy (Ninh Bình) trận phục kích tiêu diệt 34 xe tại Cầu Mè trên đường số 6, mở đầu cho chiến dịch Hòa Bình, các trận Hói Đào, Hồi Trung, Giang Nại, vừa đánh điểm vừa diệt viện, trận thọc sâu vào thị trấn Phát Diệm tấn công tiêu diệt một bộ phận tiểu đoàn Âu Phi đang đi càn quét tại Yên Bình, trận đầu tiên đánh địch không có chuẩn bị trước; trận tiêu diệt đồn Chùa Cao (Ninh Bình) bằng chiến thuật công kiên, xóa sổ một đại đội lê dương tinh nhuệ và một trung đội ngụy trong công sự boong ke mà kẻ địch đã tuyên bố là "bất khả xâm phạm"... Trong 2 lần sang chiến đấu tại Lào, có các trận: tiêu diệt đồn Noọng Hét sau đó phát triển tấn công giải phóng hoàn toàn tỉnh Xiêng Khoảng (Thượng Lào), trận truy kích địch từ Banaphào rút chạy sau đó tấn công ngay đồn Pà Cuội, với lực lượng ít hơn địch, tiêu diệt và bắt sống 1 tiểu đoàn mạnh cả lính Âu Phi và ngụy, một trận đánh táo bạo, gan dạ, mưu trí, lấy ít thắng nhiều; trận Hìn Sìu (Trung Lào) diệt gần hết 1 tiểu đoàn dù ngụy người Việt do sĩ quan Pháp chỉ huy; trận phục kích trên đường số 9 tiêu diệt 2 đại đội, phá hủy 48 xe, bắt sống tù binh thuộc binh đoàn cơ động ngụy Khơme do sĩ quan Pháp chỉ huy; tiêu diệt cứ điểm Mường Phin, sau đó tiến xuống Hạ Lào, tiêu diệt cứ điểm Lào Ngăm. Chiến dịch phát triển thắng lợi, giải phóng hàng vạn ki-lô-mét vuông, chỉ với ba trung đoàn (e66, e101 và e18) cùng bộ đội tình nguyện và bộ đội Pathet Lào, đã buộc địch phải điều một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược ở Việt Nam sang ứng cứu, góp phần quan trọng vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Kết thúc chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 trung đoàn vinh dự nhận cờ "Quyết chiến Quyết thắng" của Hồ Chủ tịch.

Qua 9 năm kháng chiến, trung đoàn đã xây dựng nên truyền thống tốt đẹp: chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, trên dưới một lòng sáng tạo linh hoạt, dũng cảm chiến đấu, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế, hoàn thành nhiệm vụ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, hòa bình được lập lại trên miền Bắc nước ta. Trong 10 năm củng cố lực lượng, xây dựng đơn vị, Trung đoàn 66 đã có những bước trưởng thành, sẵn sàng lên đường chiến đấu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trung đoàn 66 đã phát triển thành 2 trung đoàn: 66A và 66B. Ngày 20-8-1965, Trung đoàn 66A vào Nam chiến đấu lập chiến công đầu tiên lẫy lừng ở Tây Nguyên, về sau nằm trong đội hình Sư đoàn 10, Quân đoàn 3. Năm 1967, Trung đoàn 66B trong đội hình Sư đoàn 304 lên đường vào Mặt trận Khe Sanh, sau sáp nhập vào Quân đoàn 2. Trước một kẻ địch đông hơn về số lượng, mạnh gấp nhiều lần về vũ khí, trang bị kỹ thuật, truyền thống trung đoàn được giữ vững và phát triển lên một trình độ cao hơn, lập nên những chiến công oanh liệt hơn, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.

Có thể kể một số chiến công tiêu biểu của 2 Trung đoàn 66 như sau. Đó là một loạt trận tấn công vào Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn kỵ binh bay Mỹ đổ bộ xuống la đrăng - Chư Pông (Plâyme) diệt gọn 1 tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn khác, trở thành một trong những lá cờ đầu tiên diệt tiểu đoàn quân Mỹ. Là các trận tập kích Động Cô Tiên tiêu diệt hơn 1 tiểu đoàn địch, trận Bản Đông cùng với một trung đoàn bạn và một đại đội xe tăng diệt một tiểu đoàn và lữ đoàn bộ dù ngụy, trận Động Toàn, một trận chiến đấu quyết liệt diễn ra hai ngày, hai đêm, cuối cùng làm chủ điểm cao mà địch mệnh danh là "con mắt thần" của chúng; trận Mai Lộc diệt 300 tên bắt sống 96 tên trong chiến dịch Quảng Trị; trận tấn công tiêu diệt chi khu quân sự Thượng Đức mà kẻ địch coi là "cánh cửa thép của Quảng Nam - Đà Nẵng" là một đòn mạnh mẽ giáng vào kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" của ngụy quyền Sài Gòn sau hiệp định Paris. Trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với tinh thần "thần tốc, táo bạo, quyết chiến, quyết thắng" trung đoàn trong đội hình sư đoàn và quân đoàn đã tham gia giải phóng các thành phố Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Phan Rang, Phan Thiết, sau đó được lệnh tách khỏi đội hình đánh chiếm thị xã Hàm Tân, tiêu diệt và làm tan rã 5.000 quân địch co cụm tại đây.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Trung đoàn 66A từ Tây Nguyên đánh xuống chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu ngụy; Trung đoàn 66B là lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 cùng với Lữ đoàn xe tăng thiết giáp 203 đã tấn công vào "Dinh Độc Lập" ngụy buộc chính phủ bù nhìn Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện.

Qua hai cuộc kháng chiến, 2 Trung đoàn 66 được trao tặng nhiều huân chương quân công và ba lần phong danh hiệu "Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". Vinh dự đó, mỗi chúng ta đều cảm thấy tự hào đã đóng góp một phần nhỏ nhưng cũng nhận thức rằng vinh quang đó trước hết thuộc về Đảng tiền phong lãnh đạo, về nhân dân ta anh hùng, thuộc về các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội.

BAN LIÊN LẠC

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Trung đoàn 66 - 55 năm một chặng đường vẻ vang« Trả lời #3 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2022, 08:16:00 am »

TIỂU ĐOÀN 64 SƠN TÂY

Tiểu đoàn 64 (sau này đổi tên là Tiểu đoàn 171) thuộc Trung đoàn 37 của tỉnh Sơn Tây được thành lập ngày 15-1-1946 ở trong thành Sơn Tây.

Đây là một trong những đơn vị vũ trang đầu tiên của Khu 2. Cán bộ và chiến sĩ của tiểu đoàn lúc đầu là những thanh niên ở Hà Đông và Sơn Tây, sau này được bổ sung thêm nhiều chiến sĩ người Hà Nội.

Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm có: tiểu đoàn trưởng Quốc Linh, chính trị viên Nguyễn Văn Dụ, tiểu đoàn phó Mạnh Quân.

Nhiệm vụ chính của tiểu đoàn là luyện tập quân sự, bảo vệ chính quyền tỉnh và xây dựng lực lượng dân quân.

Tháng 4 năm 1946, theo lệnh trên, tiểu đoàn hành quân về đóng tại huyện Phúc Thọ, đề phòng bọn Quốc dân Đảng từ Vĩnh Yên tràn sang. Lúc này, tiểu đoàn gồm có 2 đại đội:

- Đại đội 55 đóng quân từ Kiều Trung, Kỳ Úc về đến Cầu Phùng. Ban chỉ huy đại đội gồm có: đại đội trưởng Nguyễn Trọng Quỳnh, chính trị viên Nguyễn Đức Phương.

- Đại đội 68 đóng quân ở ven đê sông Hồng về đến Hát Môn. Ban chỉ huy đại đội gồm có: đại đội trưởng Lê Bính, chính trị viên Mạnh Lân, đại đội phó Chu Hữu Cần.

- Ngoài ra, còn có bộ phận chuyên làm công tác huấn luyện tân binh do các đồng chí Hồng Quân và Quốc Cường (nguyên là 2 cán bộ tác chiến của tiểu đoàn) phụ trách.

Sau Tạm ước 14/9/1946, tiểu đoàn được lệnh chuyển dịch về gần Hà Nội, đóng dọc theo đường Sơn Tây - Hà Nội. Nhiệm vụ của tiểu đoàn lúc này rất khẩn trương: tuyển mộ thêm tân binh, huấn luyện gấp rút về quân sự, mặt khác phối hợp với dân quân phá đường, đào công sự hình chữ Z trên chặng đường dài 20 km suốt từ cầu Phùng về thị xã Sơn Tây, đề phòng địch từ Hà Nội đánh lên.

Trung đội cảm tử của tiểu đoàn do đồng chí Mai Hiền và Mạnh Chung (người Nhật) phụ trách. Đêm 25/12 trung đoàn được lệnh diệt xe tăng địch đang chốt giữ tại khu vực Cây Si (ngã ba Kim Liên - đường số 1). Cảm tử quân Lý Đàm Nghiêm đã diệt tại chỗ 1 xe tăng.

Để thống nhất việc chỉ huy các lực lượng đang tham gia chiến đấu trên địa bàn Hà Nội, các đơn vị tự vệ của các khu phố được chuyển thành các đơn vị Vệ quốc quân. Tiểu đoàn 64 được tiếp nhận 4 trung đội tự vệ của Liên khu 2 Hà Nội, hợp thành một đại đội Vệ quốc quân mang số hiệu là Đại đội 4.

Ban chỉ huy đại đội lúc này gồm có: đại đội trưởng Hồng Quân (tên thật là Đỗ Viết Hưởng), chính trị viên Mạnh Lân.

Ngoài ra, tiểu đoàn còn có một trung đội hậu cần gồm hơn hai chục nữ tự vệ và một số em thiếu niên xung phong làm nhiệm vụ tiếp tế, cứu thương, liên lạc...

Ngày 09-01-1947, Đại đội 4 và trung đội hậu cần bắt đầu hành quân về đóng tập trung trong khu vực Nhà thương Vọng.

Ngày 15-01-1947, một trận chiến đấu ác liệt giữa Tiểu đoàn 64 có sự phối hợp của đại Đội 157, Tiểu đoàn 56 Hà Đông và quân Pháp đã diễn ra ở phía tây nam Hà Nội, mà trọng điểm là Nhà thương Vọng.

5 giờ sáng ngày 15/01/1947, súng nổ dữ dội ở hướng đông bắc. Đạn pháo và hỏa lực bắn thẳng của địch (đại liên, trọng liên 12 ly 7) bắn mạnh về phía Nhà thương Vọng.

6 giờ, một đoàn cơ giới của địch từ nhà Ga, nhà Dầu Sen theo đường số 1 tiến xuống, dẫn đầu là 2 xe tăng, theo sau là xe bọc thép và cơ giới chở bộ binh. Hai khẩu đại liên của ta (Hốt kít và Mắc xim) nhả đạn xối xả vào đội hình địch làm cho nhiều xe cơ giới phải dừng lại. Đạn pháo các cỡ của địch lại dồn dập rót vào trận địa của tiểu đoàn.

Khoảng 9 giờ sáng, địch cho một cánh quân gồm bộ binh và cơ giới có xe tăng yểm hộ, từ Phà Đen Vĩnh Tuy tiến qua Ngã tư Trung Hiền vào đường Đại La. Tổ bom ba càng của trung đội cảm tử đã phá được 1 xe tăng. Cùng lúc này, máy bay địch quần đảo trên khu vực Nhà thương Vọng, thả lựu đạn và bom 25 kg xuống trận địa của ta.

Từ hướng bắc, quân địch vẫn tiến xuống, nhưng tiến rất chậm, vừa đi vừa dò mìn. Khoảng 10 giờ sáng, khẩu đại liên của ta ở phía bắc bị trúng đạn pháo, cong nòng gãy chân, khẩu đội trưởng Nguyễn Văn Đa bị thương, phải rút về phía sau. Lợi dụng lúc này, xe tăng địch áp sát, húc đổ tường góc phía bắc nhưng bị trúng lựu đạn, đứt xích, nằm chắn luôn lối vào.

Quân địch còn mở tiếp nhiều đợt tấn công nhưng đều bị đánh bật ra, thương vong khá nhiều, bỏ lại nhiều xe bị bắn hỏng.

Bên ta cũng có nhiều thương vong. Tổ tiền tiêu phía bắc (ở lò gạch) bị trúng đạn pháo của địch, toàn tổ hy sinh, trong đó có chính trị viên trung đội Hoàng Tường Chi.

Vào khoảng 13 giờ, địch lại mở đợt tấn công mới từ cả hai hướng bắc và đông.

Cánh quân địch từ Ngã tư Trung Hiền tiến vào đường Đại La từ buổi sáng đã chiếm được ga Vọng vào hồi 15 giờ và khống chế đường Tàu Bay.

Một cánh quân khác của địch từ Kim Liên - Trung Tự tiến về phía Sân bay Bạch Mai và chiếm được sân bay lúc 18 giờ.

Cánh quân địch ở phía đường 1 có 3 xe tăng cùng lính bộ binh Âu Phi và bọn Việt gian thổ phỉ mặc toàn đồ đen. Một xe tăng húc đổ cổng chính, một xe tăng khác húc đổ tường góc phía nam. Lính địch vào được trong sân trước nhà tiền sảnh nhưng bị quân ta từ trong bắn ra và bị lựu đạn từ trên gác cao thả xuống. Địch cố tiến vào, ta cố đánh bật chúng ra. Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Văn Dụ bị thương, chính trị viên đại đội Mạnh Lân, 2 trung đội trưởng Vũ Bạch Liên và Nguyễn Duy Ứng cùng một số chiến sĩ hy sinh.

Đến 16 giờ, địch đã hình thành thế bao vây cả 3 mặt, chỉ còn mặt tây nam là trống. Trước tình hình đó, tiểu đoàn trưởng Quốc Linh ra lệnh cho bộ đội rút về tuyến sau. Quân ta trong tầng hầm và trên tầng cao tòa nhà chính-được lệnh đồng loạt tiến công địch. Bị bất ngờ, lính địch hoảng loạn nấp vào hào giao thông và sau xe bọc thép. Quân ta tranh thủ rút ra ngoài theo hướng đã định. Một số người còn bị kẹt trong tầng hầm của bệnh viện, mãi đến đêm mới rút ra được. Nơi tập kết của tiểu đoàn là làng Huỳnh Cung (huyện Thanh Trì). Trong lúc này, Đại đội 55 đóng ở Việt Nam học xá vẫn bị bao vây.

Sau khi chiếm được Nhà thương Vọng, ngày hôm sau địch bắt đầu tấn công vào Việt Nam học xá từ hai phía: Đê La Thành xuống và từ Chợ Mơ sang. Nhưng lính địch chỉ vào đến cách nhà A và nhà B chừng 100 m thì phải dừng lại vì khoảng cách này là bãi trống, hỏa lực của ta bắn mạnh. Đại đội 55 được trang bị một đại liên Nhật, 2 trung liên, 1 cối 60 ly và một số tạc đạn 56 ly. 3 khẩu súng máy của ta đặt ở tầng hầm sát với bãi trống bắn liên tục làm cho lính địch không dám tiến lên. Xe tăng địch tiến vào thì bị tạc đạn 56 ly từ trên nóc nhà ném xuống. Địch tấn công trong 2 ngày đều bị ta đánh trả mãnh liệt. Không tiến vào được, địch dùng pháo bắn vào các nhà có quân ta đóng, làm sập các cầu thang. Đến 4 giờ chiều ngày thứ hai thì địch rút. Trong mấy ngày trước đó, dân quân du kích và một số bà con dân phố chưa đi tản cư ở phía Phố Huế và khu Bạch Mai đều dồn vào khu Việt Nam học xá, tổng cộng hơn 1.000 người. Đại đội 55 phải sử dụng số gạo dự trữ của đại đội để nấu cơm cho mọi người ăn trong 2 ngày và tổ chức cho họ rút khỏi khu vực Việt Nam học xá. Sau đó, Đại đội 55 cũng nhận được lệnh rút ra ngoài theo hướng Đầm Sét – Thế là sau 4 ngày trụ ở khu Việt Nam học xá, có 4 đồng chí hy sinh và 3 người bị thương, Đại đội 55 về tập kết ở làng Đại Từ.

Sau khi chiếm được Nhà thương Vọng, địch cho quân tiến sang đánh chiếm trận địa của Đại đội 157 ở Ngã Tư Sở. Đại đội 157 được lệnh rút về Huỳnh Cung, bắt đầu chính thức thuộc biên chế của Tiểu đoàn 64.

Toàn tiểu đoàn đóng quân ở Huỳnh Cung để nghỉ ngơi, chấn chỉnh đội ngũ, bổ sung quân số và đón Tết âm lịch. Chiều mồng 2 tết (23-01-1947), toàn tiểu đoàn hành quân lên phía bắc Hà Nội (vùng Bồng Lai, Bá Dương, Tây Tựu).

Sau khi chiếm được Nhà thương Vọng và Ngã Tư Sở, địch đánh chiếm thị xã Hà Đông rồi tiến về Mai Lĩnh để bảo vệ cho thị xã Hà Đông.

Không để cho địch tự do tiến quân, các đơn vị thuộc Tiểu đoàn 64 đã quấy rối, tiêu hao quân địch: Đại đội 157 ở vùng tây nam ngoại thành Hà Nội, Đại đội 68 ở vùng Sấu Giá, Đại Đồng, Đại đội 55 tấn công đột kích vào làng cổ Nhuế.

Sau khi quân Pháp chiếm được thị xã Hà Đông và Mai Lĩnh, tướng Bô-la-éc (Cao ủy Đông Dương) ra lệnh tổ chức một cuộc gặp mặt dân chúng ở sân vận động Hà Đông, với ý đồ phô trương thanh thế và tuyên truyền kết quả công cuộc bình định của quân đội Pháp. Để phá ý đồ nham hiểm đó, mờ sáng 20-03-1947 quân ta tổ chức một cuộc tập kích vào thị xã Hà Đông. Tiểu đoàn 64 được giao nhiệm vụ tổ chức 2 mũi tấn công: một mũi do Đại đội 157 phụ trách đánh vào khu vực đầu cầu trên đường số 6 từ Hà Nội vào, một mũi do Đại đội 68 phụ trách từ Tây Mỗ đánh vào thị xã. Còn Đại đội 55 thì án ngữ tại Ba La Bông Đỏ, và có tác chiến tại vùng Thạch Bích (Thanh Oai).

Kết quả trận đánh vào thị xã Hà Đông: quân ta không tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, nhưng đã thắng lợi lớn về mặt chính trị.

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Trung đoàn 66 - 55 năm một chặng đường vẻ vang« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2022, 08:16:59 am »

*

* *
Theo yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ, lực lượng chiến đấu của Khu 2 được chấn chỉnh lại. Trung đoàn 37 và Trung đoàn 35 được sáp nhập thành một trung đoàn chủ lực mới, mang số hiệu Trung đoàn 37 do đồng chí Phùng Thế Tài làm trung đoàn trưởng.

Ngày 16-05-1947, theo mệnh lệnh của Tổng chỉ huy, Trung đoàn 37 được đổi phiên hiệu thành Trung đoàn 66.

Tiểu đoàn 64 là một tiểu đoàn mạnh nằm trong đội hình Trung đoàn 66. Đầu tháng 4-1947, Tiểu đoàn 64 được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến tả ngạn Sông Đà đánh quân địch nhảy dù ở Ba Vành, gần thị xã Hòa Bình. Sau khi nhảy dù xuống Ba Vành, địch đánh lấn ra vùng lân cận. Đại đội 68 đã vượt sông Đà, chặn đánh địch ở Xóm Máy, đầu làng Thịnh Lang, quân địch phải rút, Đại đội 68 lấy được một khẩu súng máy đầu bạc. Bị tấn công liên tục, địch phải rút quân theo đường thủy qua Đồng Luận, Núi Chẹ, co về khu vực chiếm đóng của chúng ở đông nam Sơn Tây. Đại đội 68 lại có một trận đánh địch bất ngờ tại vùng Dốc Lễ.

Bắt đầu đóng quân và chiến đấu ở vùng rừng núi, những người lính con em thủ đô và Hà Đông, Sơn Tây cũng bắt đầu làm quen với "nước suối, nhà sàn", với cảnh "trâu gõ mõ, chó leo thang" và biết được thế nào là bệnh sốt rét. Ăn uống kham khổ thuốc men thiếu thốn, nhiều chiến sĩ đã chết sau những cơn sốt rét ác tính. Những anh em bị sốt rét phải chia nhau từng viên ki-na-krin. Về sau, nhờ kinh nghiệm của nhân dân, đồng chí Cư y tá trưởng phụ trách quân y của tiểu đoàn đã dẫn anh em bộ đội vào rừng lấy cây canh-ki-na về giã ra lấy bột hòa với nước cho người ốm uống để chữa bệnh sốt rét.

Từ ngày 11-07-1947 theo điện của Bộ Tổng chỉ huy, Tiểu đoàn 64 được đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 171.

Cuối tháng 8-1947, địch mở cuộc tấn công lên Trung Hà và theo đường thủy lên đánh chiếm Tu Vũ. Tiểu đoàn 171 cùng các đơn vị bạn đánh địch ở Hưng Hóa, buộc địch phải rút khỏi Trung Hà. Sau đó, tiểu đoàn về đóng quân ở vùng Bất Bạt (Sơn Tây).

Tháng 10-1947, địch mở cuộc tấn công đại quy mô lên chiến khu Việt Bắc nhằm tiêu diệt tận gốc lực lượng đầu não kháng chiến của quân và dân ta. Địch mở một mũi tiến công nghi binh để kìm giữ lực lượng ta ở Sơn Tây. Lúc này, toàn tiểu đoàn đang luyện quân ở vùng Bất Bạt, được lệnh hỏa tốc hành quân về vùng Lễ Khê để ngăn chặn địch. Bị quân ta đánh mạnh ở Lễ Khê, quân địch phải quay sang phía Mía (Quảng Oai) rồi tiến lên chiếm Trung Hà để bảo vệ cho cánh quân đường thủy đánh lên sông Lô. Theo yêu cầu của chính quyền ta ở địa phương Trung Hà, tiểu đoàn đã chặn địch không cho đổ bộ lên bờ, và yểm hộ cho dân kịp thời chuyển được hết một kho vải lớn của ta.

Cuộc tấn công Thu Đông 1947 của địch lên Việt Bắc thất bại. Cuộc kháng chiến của ta chuyển sang giai đoạn cầm cự. Trung đoàn 66 được lệnh chuyển về vùng Mỹ Đức (Hà Đông) làm chủ lực của Khu 2, vừa xây dựng lực lượng vừa bảo vệ khu căn cứ, và được bổ sung thêm Tiểu đoàn 101 từ Nam Định lên.

Cũng trong thời gian này, các đơn vị thuộc Tiểu đoàn 171 đã được thay đổi phiên hiệu: Đại đội 55 đổi là Đại đội 176, Đại đội 68 đổi là Đại đội 178, Đại đội 157 đổi là Đại đội 180.

Đội ngũ cán bộ chỉ huy các cấp được bổ sung, củng cố:

- Ban chỉ huy tiểu đoàn: tiểu đoàn trưởng Nguyễn Nhị, tiểu đoàn phó Nguyễn Huy Thọ, chính trị viên Phạm Ngọc Kình, chính trị phái viên Nguyễn Văn Nghĩa (sau này đồng chí Vũ Hoán về thay đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa về d101).

- Đại đội 176: đại đội trưởng Lê Bính, đại đội phó Hoàng Quang Thanh Huệ, chính trị viên Nguyễn Sĩ Tín.

- Đại đội 178: đại đội trưởng Lê Thanh, đại đội phó Trần Chí, chính trị viên Nùng Phi (Đặng Trần Cư).

- Đại đội 180: đại đội trưởng Nguyễn Đức Phương, đại đội phó Trịnh Duy Hậu, chính trị viên Vũ Chấn.

Tiểu đoàn 171 đóng quân tại vùng hữu ngạn sông Đáy (Phù Lưu Tế, Thanh Áng, Phùng Xá, Hà Xá) và nô nức thực hiện cuộc vận động luyện quân lập công. Lúc này, tiểu đoàn được bổ sung một đại đội phá xe tăng gọi tắt là FAX. Một thời gian sau, đại đội này được chuyển về đơn vị pháo của trung đoàn. Tiểu đoàn thành lập một trung đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Nguyễn Vĩnh Thụy phụ trách và đồng chí Ngô Sơn Nga làm chính trị viên. Được một thời gian lại có thay đổi: đồng chí Mạnh Chung (người Nhật) phụ trách và đồng chí Đặng Thái làm chính trị viên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn