Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TRUNG ĐOÀN 98 CHUYỂN BINH CHỦNG

Sinh năm: 1931 Quê quán: Quỳnh Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An Thường trú: 25/N4, Vĩnh Hồ, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.35632562 Nguyên Trợ lý cán bộ Trung đoàn 98, Nguyên Thiếu tá Phó phòng Cán bộ Cục Chính trị 559, Nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Đảng ủy Binh đoàn 12

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trung đoàn 98 Công binh, nguyên là Trung đoàn bộ binh, thành lập ngày 16 tháng 7 năm 1946 tại Quảng Ninh, một trong những trung đoàn thành lập sớm nhất của quân đội ta. Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Trung đoàn đã chiến đấu ngoan cường tại Hồng Quảng, tham gia chiến dịch Đường 18, Dường 4, quân địch phải hoảng sợ. Đồng chí Vũ Mạnh Hùng, Trung đoàn trưởng 98 đã hy sinh anh dũng tại trận Hạ Chiểu tháng 4 năm 1951, được Đảng, Nhà nước truy tăng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân năm 1999.


Tháng 5 năm 1951, Trung đoàn 98 trong đội hình Đại đoàn 316, liên tục chiến đấu trong vùng địch hậu Bắc Ninh và các chiến dịch Thượng Lào - Tây Bắc, Điện Biên Phủ, lập nhiều chiến công xuất sác, được Hồ Chủ Tịch tặng cờ "Thành tích đáng khen”. Tỉnh uỷ, Ủy ban Kháng chiến tỉnh Bắc Ninh tặng cờ "Vì nhân dân, vì Tổ quốc" trong chiến dịch Bắc Ninh và có "Quyết chiến Quyết thắng" ở chiến dịch Điện Biên Phủ. Một trong những cán bộ, chiến sĩ xuất sắc tiêu biểu là Anh hùng Lực lượng vũ trang Đặng Đức Song.


Sau năm 1954, miền Bắc được giải phóng, nửa nước hoà bình khỏi phục kinh tế, tiến lên chú nghĩa xã hội, quân đội được xây dựngchính quy từng bước hiện đại, trong huấn luyện "Trung đoàn chiến đấu" đạt loại khá giỏi, được giữ cờ luân lưu của Hồ Chủ Tịch "Học tập khá nhất".


Năm 1957, Trung đoàn tham gia diễn tập “Sư đoàn chiến đấu" trong đội hình Sư đoàn 312. Đầu năm 1958 sau khi diễn tập xong, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Trung đoàn giữa thao trường dưới chân núi Tam Lộng, Vĩnh Yên. Đại tướng giao nhiệm vụ cho Trung đoàn: trở lại Điện Biên Phú, vừa xây đựng đơn vị vừa tham gia sản xuất, đưa chiến trường năm xưa thành vùng kinh tế - quốc phòng manh, góp phần nâng cao đời sống vùng các dân tộc Điện Biên, từ nông nghiệp lạc hậu đói nghèo được ấm no, tiến lên theo kịp miền xuôi...


Tết Mậu Tuất 1958, Bác Hồ đã đến thăm Sư đoàn và động viên bộ đội trở lại Tây Bắc, Bác nói đại ý:

Các chú có công giải phóng Điện Biên, nay tiếp tục được xây dựng Điện Biên mạnh về quốc phòng, vững vàng về chính trị, giàu về kinh tế, văn hoá phát triển, đẩy lùi lạc hậu, đói nghèo, đưa đồng bào Tây Bắc nói chung, Điện Biên nói riêng, theo kịp miền xuôi cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội... Các chú làm tốt năm sau Bác lại sẽ lên thăm.


Đồng chí Nguyễn Kiện, Chính uỷ Sư đoàn hứa với Bác:

"Chúng cháu sẽ nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Bác, xác định lấy Tây Bắc là quê hương thứ hai, cùng sát cánh với Đảng và chính quyền địa phương, quyết đưa mảnh đất anh hùng này thành khu vực giàu có...".


Bộ quyết định chuyển Sư đoàn thành Lữ đoàn 316. Trung đoàn 174 làm nông trường Điện Biên, Trung đoàn 176 xây dựng công nghiệp kiến thiết Điện Biên, Trung đoàn 98 thành Trung đoàn Công binh, mở đường 42 từ Tuần Giáo lên Điện Biên thành đường cấp 4 miền núi.


Mùa xuân 1958, Trung đoàn hành quân từ Vĩnh Yên bằng xe lửa lên Yên Bái, vượt sông Đà rồi đi bộ theo đường Lũng Lô năm xưa, qua đèo Chẹn, tiếp tới Phù Yên, nơi đây Trung đoàn đã đánh đồn Bản Mo, được đồng bào Thái vui mừngđón tiếp và đơn vị theo đường 6 qua Yên Châu vượt đèo Pha Đin lên Tuần Giáo.


Chỉ huy sở Trung đoàn đặt tại thị trấn Tuần Giáo. Tới đây, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 98 tiếp tục hành quân lên Điện Biên được biên chế vào Lữ đoàn 316. Tiểu đoàn 3 cùng với Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 (thuộc Sư đoàn 312) và Tiểu đoàn 4 (thuộc Sư đoàn 320) tổ chức thành Trung đoàn 98 Công binh cầu đường. Hành quân trong hoà bình, nhưng lãnh đạo tư tưởng trở lại Điện Biên không đơn giản. Sư đoàn 316, Sư đoàn 312 vinh dự được tham gia giải phóng Điện Biên, quen rừng núi nay trở lại coi thường gian khổ. Nhưng lính Sư đoàn 320 từ đồng bằng lên miền núi là một thử thách lớn.


Nhiệm vụ chuyển binh chủng của Trung đoàn 98 thật đặc biệt: Cấp trên chỉ đạo Đảng uỷ Trung đoàn phải tổ chức Đại hội Đảng lần thứ 2 nhằm: Xác định nhiệm vụ xây dựng đơn vị trong tình hình mới và quán triệt nhiệm vụ mở đường từ Tuần Giáo đi Điện Biên, Đại hội lần này phải giải quyết được ổn định việc chuyển binh chủng từ đơn vị bộ binh thành Trung đoàn Công binh cầu đường, trực thuộc Quân khu Tây Bắc.


Quân đội ta tiến lên chính quy từ bộ binh chuyển binh chủng khác là chuyện bình thường. Nhưng ở đây Trung đoàn 98 phải làm một lúc nhiều việc: Tổ chức đơn vị thành một công trường thi công cầu đường, có đơn vị cầu bê tông, có đơn vị phá đá mở đường, làm mặt đường cấp phối... nhưng đơn vị lại không có một kỹ sư hoặc trung cấp cầu đường, cán bộ đại đội tiểu đoàn, cơ quan tham mưu chưa amhiểu nghiệp vụ cầu đường. Trung đoàn phải gửi Bộ Giao thông mở một lớp bồi dưỡng kỹ thuật và quản lý thi công cầu đường ngắn ngày trong 3 tháng, Trung đoàn mở lớp tập huấn từng khoa mục bồi dưỡng cho cán bộ trung đội, tiểu đội làm đến đâu rút kinh nghiệm đến đó.


Công trường 426 biệt phái cho Trung đoàn bốn cán bộ trung cấp cầu đường, trong đó có đồng chí Lê Ngọc Hoàn trung cấp cầu đường khoá 7 (sau này là Bộ trương Bộ Giao thông vận tải) bám sát công trường sinh hoạt như người lính. Mặt khác đưa chiến sĩ đi đào tạo lái xe máy, cử cán bộ đi đào tạo sĩ quan công binh, trung cấp cầu đường và đại học.


Tình hình tư tưởng ổn định, phát động thi đua với khẩu hiệu: “bắt núi cúi đầu", "lập công tập thể", phong trào cải tiến kỹ thuật, nuôi quân giỏi, anh nuôi đưa cơm trưa nóng, nước nóng tại mặt đường, khí thế "Thi đua ba nhất" rất sôi nổi. Chỉ tiêu một công đào 0,70 mét khối nhưng có tổ 3 người đã cải tiến kỹ thuật, đào đất đá 24 mét khối, bình quân 8 mét khối một đầu người. Chính những chiến sĩ trước lúc lên đường không yên tâm, nay lại là kiện tướng đào đất đá, sau đó có chiến sĩ được kết nạp vào Đảng.


Ngoài nhiệm vụ làm cầu đường, Trung đoàn còn tổ chứcmột đại đội làm tiểu nông trường Mường Ẳng trên đường mới mở, thu hút vợ con cán bộ chiến sĩ lên xây dựng Tây Bắc. Sau này tiểu nông trường này trực thuộc Nông trường Điện Biên, hiện nay phát triển thành thị tứ Mường Ẳng.


Một năm sau đã có trên 20 cán bộ chiến sĩ đưa vợ lên công trường, những đôi vợ chồng đó xác định Tây Bắc là quê hương thứ hai của mình. Trong 3 năm mở xong nền đường, Côngtrường 426 đưa 3 đại đội công nhân nữ lên khai thác cát sỏi, rải cấp phối mặt đường, cả công trường thi đua lao động sôi nổi.


Ngày nghỉ chủ nhật, lính ta và chị em công trường có dịp gặp nhau, làm qụen, rủ nhau tới căng tin, may vá, cắt tóc, chụp ảnh, ăn phở, uống trà tại khu vực Trung đoàn bộ. Họ tìm đồng hương, bắt bạn và xuất hiện những cặp trai gái mới yêu nhau và sau đó xây dựng gia đình.


Nhà văn Nguyễn Tuân đi thực tế tại công trường, thường nghỉở cơ quan chính trị, cụ hay lang thang xuống công trường, ngắm cảnh đẹp tìm cảm hứng, gặp nhiều cặp tình nhân mộng mơ bên bờ suối, và nhiều cặp đã thành vợ thành chồng, tiếp đó nhiều tiếng trẻ thơ ấm áp cả núi rừng. Cụ Nguyễn đã viết phóng sự, ký sự, sổ tay dày đặc các địa điểm: Tuần Giáo, Xuân Tre, Nả Tấu, Điện Biên,... Cụ đọc nhiều bài viêt cho cán bộ chiến sĩ cùng nghe, lãng mạn từ cảnh đến người, phác hoạ nên viễn cảnh của Tây Bắc trong tương lai. Điện Biên Phủ sẽ là một thành phố tráng lệ, một điểm du lịch hấp dẫn của đất nước, những cháu bé ra đời hôm nay sẽ là cán bộ xây dựng chủ nghĩa xã hội tương lai, ở quê hương thứ hai mà cha mẹ các cháu đã xác định...

Hai Trung đoàn 831 (Trung đoàn 83, Sư đoàn 335 lảm đường Bản Hoa - Xồm Lồm Mộc Châu) và 98 trực thuộc Quân khu được tổ chức biên chế giống nhau: biên chế thành 3 tiểu đoàn (1, 2, 3), một đại đội cầu, một trung đội xe máy, một trung đội khảo sát. Ban chỉ huy Trung đoàn 98: Đồng chí đại uý Phạm Ngọc Các, Trung đoàn trưởng, thiếu tá Nguyễn Phụ Hồng, Chính uỷ, đại uý Phạm Hữu Trí, Chủ nhiệm chính trị...


Kỹ sư Đỗ Bát, Trưởng ban Chỉ huy Công trường 426, có nhiều năm trong nghề đã từng thiết kế chỉ huy thi công đường Lũng Lô, Đèo Chẹn trong kháng chiến chống Pháp. Ông rất quan tâm giúp đỡ Trung đoàn, thắt chặt đoàn kết giữa đơn vị và công trường để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơ ne vơ, mơ rộng chiến tranh ở miền Nam Việt Nam và ở Lào hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng. Ngày 30 tháng 10 năm 1959, Đảng, Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào thoa thuận nhận quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào.


Bạn Lào yêu cầu Quân khu Tây Bắc phối hợp cùng quân và dân Bạn giải phóng tỉnh Phông Xà Lì. Quân khu điều động Trung đoàn 98 mở đường quân sự làm gấp từ Nậm Ngà đi Mường Khoa. Trung đoàn được trang bị một số xe Gatz, dụng cụ cầm tay, bộc phá, cấp tốc hành quân. Được phục vụ chiến đấu anh em phấn khởi lên đường.


Giữa mùa mưa năm 1961, vào mùa mưa ở Lào. Trung đoàn tập trung về nước củng cố và nhận nhiệm vụ mới. Bộ Quốc phòng cử đồng chí Chu Minh Hương, Chủ nhiệm Chính trị Cục Công binh và một đoàn cán bộ lên làm việc với Quân khu Tây Bắc, nhận hai Trung đoàn 98 và 83 về trực thuộc Cục Công binh - Bộ Quốc phòng. Trung đoàn 98 được phổ biến chủ trương của trên cho một số chiến sĩ phục viên, giải quyết chính sách hoặc chuyển ngành. Cơ quan cán bộ làm việc ngày đêm, sắp xếp cán bộ ổn định cho 3 tiểu đoàn, giải quyết chuyển ngành 30 cán bộ sang Bộ Giao thông vận tải, 22 cán bộ về Tổng cục Địa chất, hơn một chục cán bộ chuyển ngành về khu tự trị Thái Mèo vào các cương vị cấp huyện, cùng với một số chiến sỹ có vợ con tự nguyện ở lại làm công nhân các nông trường và Công trường 426.


Cuối tháng 8 năm 1961, Trung đoàn tổ chức hành quân bằng ô tô, chuyển vùng trực thuộc Cục Công binh - Bộ Quốc phòng. Đường 42 mới rải câp phôi chạy êm ru, mọi người tự hào đây là thành quả của Trung đoàn làm nên. Tạm biệt Điện Biên, tạm biệt Tuần Giáo, đơn vị qua đường 6 xuôi đường số 1 đến Nông Công tỉnh Thanh Hoá, nơi tập kết của Trung đoàn. Chỉ huy sở Trung đoàn đóng ở Phố Chuối bên bờ sông Mực, một vùng sơn thuỷ thơ mộng, nhân dân hân hoan đón nhận những người lính về ở nhà mình.


Ổn định nơi đóng quân xong, làm một số nhà tạm, chuẩn bị thao trường huấn luyến. Đại uý Chu Minh Đông, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 được bổ nhiệm Tham mưu trưởng, đại uý Trần Lê Vân chính trị viên Tiểu đoàn 2 làm Chủ nhiệm Chính trị, bổ sung 5 cán bộ trung cấp cầu đường Song Hải, Phạm Minh, Nguyễn Đình Tùng, đồng chí Lân, đồng chí An và kỹ sư Nguyễn Xuân Tiếu. Số cán bộ trung đoàn cử đi học năm trước nay về lại đơn vị nhận công tác.


Tháng 10 năm 1961, nhận lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, Trung đoàn hành quân vào Quân khu 4. Trung đoàn được trang bị thêm một số khí tài, đội ngũ chỉnh tề, hành quân bộ trên đường số 1, dân bảo bộ đội đi dã ngoại. Vào đến Hà Tĩnh ngược lên Hương Khê vào đường 12, dặt chỉ huy sở tiền phương tại Bãi Dinh, huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình. Nhiệm vụ được giao là bảo đảm giao thông từ Bãi Dinh vào cổng trời Cha Lo, mở rộng đèo Mụ Dạ sang Ba Na Phào và nâng cấp đường 129 đoạn Lằng Khằng đi Pha Nốp trên đất bạn Lào, kịp thời phục vụ chiến dịch Thà Khống giải phóng 6 huyện dọc biên giới Lào Việt, đồng thời tạo điều kiện cho Đoàn 559 lật cánh sang tây Trường Sơn.


Tháng 4 năm 1962, sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Trung Lào, Trung đoàn trở về đường 16 mở rộng đường và bảo đảm giao thông từ Thạch Bàn đi Vít Thù Lù, vào Làng Ho tạo điều kiện vượt Trường Sơn sang Lào. Chỉ huy sở tiền phương thời gian này đóng ở Phú Lương. Tuy gặp nhiều khó khăn về thời tiết mưa lũ, sốt rét, thiếu phương tiện thi công anh em vẫn xác định nhiệm vụ: “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", xây dựng con đường chiến lược góp phần chi viện giải phóng miền Nam.


Năm 1963, Cục Công binh giao nhiệm vụ: Tiểu đoàn 1 phối thuộc cho Đoàn 559, tiếp tục mở đường Trường Sơn, hai tiểu đoàn mở công trường làm trận địa pháo bờ biên,Tiểu đoàn 2 tại cửa Hội Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Tiểu đoàn 3 và Trung đoàn bộ về Thanh Khê, Quảng Bình. Trung đoàn được bổ sung một số xe ben, máy ép hơi, khoan đá, máy lu và xe tưới nước. Tiểu đoàn cầu, bắc cầu gỗ ở Sa Lung, ở Vĩnh Linh trên đường sắt, đây là công trình thí nghiệm của Cục Công binh đồng thời phục vụ cho quân ta cơ động vào giới tuyến Vĩnh Linh. Tháng 3 năm 1964, Trung đoàn về chỉ huy sở cơ bản ở Phố Chuối, theo lệnh của Bộ Tổng Tham mưu kiện toàn Tiểu đoàn 2 bộ binh làm nhiệm vụ tình nguyện tại Hạ Lào, các lực lượng còn lại do Cục Công binh điều động.


Tháng 6 năm 1964, Trung đoàn được kiện toàn, nhận Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 219, cấp trên bổ sung quân số tổ chức Tiểu đoàn 3, cùng với Tiểu đoàn 1 trực thuộc Bộ Tư lệnh 559, mang tên gọi Chi hội Bình Minh hành quân sang Bản Đông - La Hạp, mở đường cơ giới tây Trường Sơn.


Và ngày 09 tháng 8 năm 1964, Trung đoàn 98 bổ nhát cuốc đầu tiên thi công đoạn đường này. Ngày 09 tháng 8 trở thành ngày truyền thống của Trung đoàn Công binh 98 mở đường cơ giới Trường Sơn.

Với truyền thống từ một trung đoàn bộ binh chiến đấu trong đội hình Sư đoàn 316 tại chiến dịch Điện Biên Phủ đến xây dựng kinh tế vùng Điện Biên nay trở thành Trung đoàn Công binh Trường Sơn, hơn chục năm chiến đấu ở Trường Sơn, Trung đoàn tham gia mở đường mới, bảo đảm giao thông, mở các đường chiến dịch, tham gia mở đường kín, đường xây dựng cơ bản đông Trường Sơn, nhiệm vụ nào Trung đoàn cũng hoàn thành xuất sắc.


Ngày 03 tháng 9 năm 1973, Trung đoàn 98 Công binh được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn