Trung đoàn phó Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2

Trung tướng Phạm Xuân Thệ nhập ngũ năm 1967, chiến đấu tại nhiều chiến trường ác liệt như Khe Sanh, Quảng Trị, Huế – Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2, trực tiếp có mặt tại Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 và là một trong những người áp giải Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đến Đài Phát thanh Sài Gòn để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Sau chiến tranh, ông giữ các cương vị Tư lệnh Quân đoàn 2, Tư lệnh Quân khu 1 và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2011.
Trung tướng Phạm Xuân Thệ – Người chứng kiến thời khắc lịch sử 30 tháng 4
Lịch sử dân tộc Việt Nam có những thời khắc làm thay đổi vận mệnh đất nước. Một trong những thời khắc thiêng liêng nhất là trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong khoảnh khắc lịch sử ấy có sự hiện diện của một người lính trẻ – Đại úy Phạm Xuân Thệ, người sau này trở thành Trung tướng và Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Sinh năm 1947 tại xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, ông lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Người anh trai của ông đã hy sinh trên chiến trường miền Nam, để lại trong lòng người em quyết tâm tiếp bước con đường bảo vệ Tổ quốc. Sau thời gian tham gia xây dựng công trình Thủy điện Thác Bà, tháng 8 năm 1967, ông tình nguyện nhập ngũ khi vừa tròn 20 tuổi.
Được biên chế về Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, ông nhanh chóng trưởng thành qua những trận đánh ác liệt tại Khe Sanh, Quảng Trị, Huế và nhiều chiến trường khác. Là người chỉ huy dũng cảm, ông nhiều lần bị thương nhưng vẫn tiếp tục trở lại đơn vị chiến đấu. Trong hồi ức của mình, ông từng chia sẻ rằng điều day dứt nhất không phải là những vết thương trên cơ thể mà là sự hy sinh của nhiều đồng đội ngay bên cạnh mình.
Tháng 4 năm 1975, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại úy Phạm Xuân Thệ giữ cương vị Trung đoàn phó Trung đoàn 66. Đơn vị của ông được giao nhiệm vụ thọc sâu vào nội đô Sài Gòn. Sau khi đánh chiếm căn cứ Nước Trong và Tổng kho Long Bình, đơn vị tiếp tục tiến thẳng về Dinh Độc Lập. Đây là thời khắc quyết định của cuộc chiến tranh kéo dài hơn hai mươi năm.
Khi tiến vào Dinh Độc Lập, Đại úy Phạm Xuân Thệ cùng đồng đội gặp Tổng thống Dương Văn Minh. Trước đề nghị "bàn giao chính quyền", ông đã khẳng định dứt khoát rằng: "Các ông là người thất bại, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không có bàn giao gì cả." Sau đó, ông cùng lực lượng quân giải phóng áp giải ông Dương Văn Minh đến Đài Phát thanh Sài Gòn để đọc bản tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước toàn dân. Câu nói ấy đã trở thành một dấu ấn lịch sử, thể hiện khí phách và lập trường kiên định của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục gắn bó với quân đội, đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng như Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, Tư lệnh Quân đoàn 2 và Tư lệnh Quân khu 1. Dù ở bất kỳ vị trí nào, ông luôn giữ phẩm chất của người lính Cụ Hồ: tận tụy, trách nhiệm và gần gũi với cán bộ, chiến sĩ. Ông nghỉ hưu năm 2008 sau hơn bốn mươi năm phục vụ trong quân ngũ.
Năm 2011, Đảng và Nhà nước phong tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân nhằm ghi nhận những cống hiến đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là phần thưởng xứng đáng dành cho người chỉ huy đã góp phần làm nên thắng lợi lịch sử mùa Xuân năm 1975.
Điều khiến tôi kính phục ở Trung tướng Phạm Xuân Thệ không chỉ là chiến công trên chiến trường mà còn là sự khiêm nhường của một người lính sau chiến tranh. Trong nhiều cuộc gặp gỡ với thế hệ trẻ, ông luôn nhấn mạnh rằng chiến thắng là công lao của cả dân tộc, của biết bao đồng đội đã ngã xuống chứ không phải của riêng một cá nhân. Ông thường nhắc nhở thanh niên hôm nay phải biết trân trọng hòa bình, không ngừng học tập và cống hiến để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Qua câu chuyện của Trung tướng Phạm Xuân Thệ, tôi càng hiểu rõ hơn giá trị của độc lập, tự do và sự hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước. Hình ảnh người Đại úy năm nào kiên quyết yêu cầu đối phương tuyên bố đầu hàng vô điều kiện sẽ mãi là biểu tượng của bản lĩnh, lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc.
Là đoàn viên thanh niên, tôi nhận thức rằng trách nhiệm của mình là tiếp nối truyền thống ấy bằng việc không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện và góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Đó cũng là cách thiết thực nhất để tri ân những người đã hy sinh vì nền độc lập hôm nay.


