Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên
Ông cùng kíp xe 390 (gồm Vũ Đăng Toàn, Nguyễn Văn Tập, Lê Văn Phượng) đã ghi dấu ấn lịch sử trong ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975.
Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đơn vị ông được lệnh phục sẵn ở tây Huế, ngày 20/3/1975 khi nghe tin quân ta đang trên đà thắng lớn ở Tây Nguyên, đơn vị ông được lệnh xuất kích, tiến theo đường Đông Nam Khe Tre đánh một số điểm như: Núi Bông, Núi Nghệ…để xuống cắt đường 1 Huế - Đà Nẵng, tiến thẳng ra giải phóng Huế. Sau đó lại được lệnh ra cửa Thuận An chặn đường rút chạy của địch.
Đêm 28/3 đơn vị ông được lệnh vượt đèo Hải Vân để cùng với các cánh quân phía Tây và trong Tam Kỳ đánh ra để giải phóng Đà Nẵng. Ở Đà Nẵng lúc này Tướng Ngô Quang Trưởng cùng với 10 vạn quân với 1 sức kháng cự rất mạnh. Tuy nhiên với sự hợp sức của bộ đội xe tăng và các quân binh chủng, lực lượng du kích và nhân dân yêu nước, thành phố Đà Nẵng hoàn toàn được giải phóng.
Ngày 26/4 đơn vị ông tập trung tại rừng Ông Quế của huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, trên đường đi nhìn thấy trên mũ của bộ binh và các quân binh chủng khác đều có chữ “thần tốc - thần tốc hơn nữa”, với một khí thế dũng mãnh như vậy “làm cho chúng tôi đi vào cuộc chiến với tinh thần phơi phới, không nghĩ đến hi sinh gian khổ, với sức trẻ vượt lên tất cả để bảo vệ tổ quốc”.
Ngày 26/4 phát động chiến dịch Hồ Chí Minh, ông và những người đồng đội cảm thấy vô cùng phẩn phởi khi được tham gia vào chiến dịch mang tên Bác, đánh vào thành lũy cuối cùng của kẻ thù.
Ngày 29/4 đơn vị ông đánh vào căn cứ Nước Trong là một “cánh cửa thép” của phía Đông Sài Gòn. Lúc này địch có 1000 sĩ quan tăng thiết giáp được trang bị hiện đại, nên đơn vị ông đã quyết tâm đánh từ 6h sáng đến 12h cùng ngày, làm chủ hoàn toàn trận địa. Sau đó địch phản công lại, hai bên giằng co quyết liệt. Trên đường tiến quân của quân giải phóng vào Sài Gòn các trận đánh từ cầu Rạch Chiếc, cầu Đồng Nai và cầu Sài Gòn diễn ra rất ác liệt, trong các trận chiến này, vai trò của bộ đội đặc công rất to lớn, rất nhiều chiến sĩ đặc công hi sinh, số còn lại quyết tâm giữ cầu để cho đại quân tiến vào.
Để cản bước tiến của quân giải phóng, địch đã sử dụng loạt đạn từ xe tăng M48, M41, M113 bắn sang, tàu dưới sông Sài Gòn bắn lên. Xung phong đi đầu tiến lên, xe tăng số 866 của đồng chí Lê Tiến Hùng vượt qua cầu Thị Nghè thì bị địch phản công, 3 đồng chí hi sinh, lúc đó xe 384 và xe 390 vượt lên đến ngã tư Hàng Xanh thấy lực lượng phản kích địch vẫn còn, pháo thủ số 1 Ngô Sỹ Nguyên nhìn qua ống ngắm thấy xe tăng M113 của địch ở trong ngã tư đang ngắm DKZ vào xe tăng của mình nhưng chưa trọn vẹn góc ngắm, ngay lập tức ông đã nổ súng, đúng lúc đó ông Tập lái xe và ông Toàn hô “Nguyên… Nguyên…mục tiêu… mục tiêu” tuy nhiên lúc đó súng đã nổ tiêu diệt được 2 xe tăng M113 và nhiều DMC.
Sau đó ông cùng với đồng đội đi theo bản đồ xe buýt thành phố Sài Gòn, đi được một lúc thì gặp xe của đồng chí Bùi Quang Thận, khi đi đến dinh độc lập xe đồng chí Thận đi giữa đầu cổng thì bất ngờ rẽ trái và dừng lại ở cổng phụ, xe 390 đến húc tung cánh cổng gãy bản lề và đổ xuống.
“Lúc này anh Thận cầm cờ chạy vào bên trong, đồng chí Vũ Đăng Toàn trưởng xe 390 cầm theo khẩu AK nhảy xuống xe đi theo hỗ trợ cho đồng chí Thận, một lúc sau đồng chí Thận lên cắm cờ còn đồng chí Toàn dồn nội các Dương Văn Minh vào một phòng, lúc này ông cũng vừa lên đến và tham gia đứng gác nội các Dương Văn Minh”.
Kể về thời khắc đó ông nói: “tham gia đứng gác lúc đó còn có đồng chí Phạm Xuân Thệ và đồng chí Vũ Đăng Toàn, được một lúc đồng chí Bùi Văn Tùng đến. Nhìn thấy đồng chí Bùi Văn Tùng đến Dương Văn Minh nói: “chúng tôi đang chờ các anh đến để bàn giao”, nhưng đồng chí Bùi Văn Tùng nói: “Các anh còn gì để bàn giao, phải đầu hàng vô điều kiện”. Sau đó đưa Dương Văn Minh và Nguyễn Văn Mậu đến đài phát thanh đọc lời đầu hàng”. Kể xong giọng ông đầy cảm xúc, ông nói tiếp “tôi rất tự hào khi tuổi còn rất trẻ mà được chứng kiến sự sụp đổ của một chính phủ mà Mỹ đã dày công xây dựng”.
Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc, ông cùng với đồng đội trên chiếc xe tăng 390 lại cùng nhau đi chiến đấu trong chiến tranh biên giới năm 1979, chiến tranh kết thúc ông cùng với đồng đội trở về với cuộc sống mưu sinh đời thường.


