Trung sĩ Phùng Văn Hộ – Người vận tải vượt núi Hoàng Su Phì
Trung sĩ Phùng Văn Hộ – Người vận tải vượt núi Hoàng Su Phì Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, công tác vận tải chiến dịch luôn là một trong những nhiệm vụ gian khổ nhất. Lực lượng vận tải phải vượt núi cao, rừng sâu, những con đường ngập bùn lầy để đưa đạn gạo ra mặt trận. Trong số đó, Phùng Văn Hộ, người được phong chức Trung sĩ phụ trách Tiểu tổ vận tải đặc biệt, là một trong những gương mặt tiêu biểu của tuyến lửa này.
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, công tác vận tải chiến dịch luôn là một trong những nhiệm vụ gian khổ nhất. Lực lượng vận tải phải vượt núi cao, rừng sâu, những con đường ngập bùn lầy để đưa đạn gạo ra mặt trận. Trong số đó, Phùng Văn Hộ, người được phong chức Trung sĩ phụ trách Tiểu tổ vận tải đặc biệt, là một trong những gương mặt tiêu biểu của tuyến lửa này.
Sinh năm 1921 tại Hà Giang, ông Hộ là người dân tộc Dao, lớn lên giữa núi rừng quanh năm mây phủ. Khi cách mạng bùng nổ, ông tự nguyện gia nhập đội du kích địa phương, làm nhiệm vụ dẫn đường và vận chuyển lương thực. Thông thạo từng lối mòn, thác suối, ông nhanh chóng trở thành người dẫn đường chính cho các đoàn quân chủ lực tiến vào Việt Bắc.
Năm 1948, trong chiến dịch Sông Lô, ông Hộ đã dẫn một đoàn vận tải vượt quãng đường hiểm trở dài gần 200 km, chở hơn 30 tạ gạo tới mặt trận chỉ trong 9 ngày. Nhờ tốc độ này, bộ đội ta có đủ lương thực ngay thời điểm quyết chiến. Cũng trong chiến dịch này, ông cứu sống hai đồng đội bị lũ cuốn khi vượt suối, dùng dây rừng buộc vào người rồi lao xuống dòng nước siết kéo họ lên bờ.
Nhận thấy tinh thần dũng cảm và óc tổ chức của ông, đơn vị quyết định phong chức Trung sĩ, giao nhiệm vụ phụ trách tiểu tổ vận tải đặc biệt – lực lượng thường được cử đi trước, mở đường, trinh sát và giải cứu các tổ vận tải gặp nguy hiểm.
Chiến dịch Biên Giới năm 1950 là dấu mốc lớn trong cuộc đời ông. Khi địch ném bom dữ dội trên đường vận tải, nhiều đoàn xe đạp thồ bị tắc lại. Ông Hộ đã tổ chức phân tán lực lượng, chia nhỏ hàng hóa, đào đường tránh xuyên rừng dài hơn 7 km chỉ trong hai đêm. Nhờ đó, đạn pháo và lương thực kịp thời tới chiến trường Đông Khê – Thất Khê, góp phần vào chiến thắng vang dội.
Sau hòa bình, ông tiếp tục công tác ở địa phương, vận động đồng bào Dao xây dựng nông trường, mở đường giao thông, góp phần làm đổi thay cả vùng Hoàng Su Phì.



