Trung tá Bảy Môn và lựa chọn giữa Rừng Sác năm 1955: khước từ lón thiếu tướng để dẫn anh em về Chiến khu Đ
Câu chuyện về Võ Văn Môn (Bảy Môn), một người xuất thân giang hồ bến Thủ Thiêm cầm súng đánh Pháp từ những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, rồi đi qua mười năm phân hóa đầy biến động của lực lượng Bình Xuyên. Năm 1955, khi Bình Xuyên tan rã giữa vòng vây Rừng Sác, ông đã khước từ lời mời về hợp tác kèm lón thiếu tướng và tài sản được hoàn trả, chọn dẫn anh em ly khai về Chiến khu Đ, để năm 1960 cùng đứng vào hàng ngũ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.
Trong lịch sử Nam Bộ kháng chiến, cái tên Bình Xuyên gợi lên nhiều cảm xúc trái ngược. Đó là những người giang hồ ven sông Sài Gòn từng cầm tầm vông, mã tấu đánh Pháp từ những ngày đầu, nhưng cũng là lực lượng về sau bị chia cắt, một phần theo Bảy Viễn về thành hợp tác với Pháp. Giữa dòng chảy ấy có một con người ít được nhắc tới: Võ Văn Môn, thường gọi là Bảy Môn. Câu chuyện của ông không phải về một người chưa từng lầm đường, mà về một người biết quay mũi ghe đúng lúc, khi cái giá phải trả là rời bỏ mọi thứ mình đang có.
Tháng 9 năm 1945, khi quân Pháp nổ súng tái chiếm Sài Gòn, ông Trần Văn Giàu bố trí năm mặt trận phòng thủ các cửa ô. Cánh Bình Xuyên do Ba Dương (Dương Văn Dương) chỉ huy giữ mặt trận số 4, từ cầu Tân Thuận tới cầu Sập Bình Đông. Trong đội hình ấy, bộ đội của Bảy Môn đóng ở Thủ Thiêm, sát cánh cùng Mười Lực và Tám Hoe. Họ không có quân phục, ít súng đạn, chỉ có lòng căm ghét ngoại bang và cái nghĩa khí của dân sông nước. Bảy Môn được xem là một trong những phó tướng của Bình Xuyên thời ấy, cùng hàng với Mười Trí, Năm Hà và Bảy Viễn.
Nhưng ngọn cờ chung không giữ được lâu. Tháng 2 năm 1946, Ba Dương hy sinh trên đường đưa quân vượt sông Soài Rạp về Bến Tre cứu mặt trận An Hóa – Giao Hòa. Mất người anh cả, Bình Xuyên bắt đầu phân hóa. Năm 1948, Bảy Viễn đưa một bộ phận về hợp tác với Pháp và chính phủ Quốc gia, còn phần lớn anh em khác được tổ chức lại thành Vệ quốc đoàn. Những năm sau đó, Bình Xuyên của Bảy Viễn nắm cảnh sát đô thành, sòng bạc Đại Thế Giới và cả một vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Tư liệu không ghi rõ Bảy Môn đã trải qua những năm ấy ra sao, chỉ biết rằng đến năm 1955, ông là một trung tá trong hàng ngũ Bình Xuyên. Người lính Thủ Thiêm năm nào giờ đã đứng bên phía bịp quyền lực và tiền bạc.
Bước ngoặt đến sau Hiệp định Genève năm 1954. Theo nhà văn Nguyên Hùng, hai cán bộ Bảy Khánh và Chín Đạo được giao nhiệm vụ bắt liên lạc với Mười Lực, Bảy Môn và Năm Chàng, mong kéo Bình Xuyên về lại với kháng chiến. Bảy Môn không giấu giếm. Ông báo thẳng với Bảy Viễn, rồi được phái đi mời đại diện của Việt Minh tới gặp. Cách làm ấy cho thấy một con người trọng chữ tín với anh em: muốn đổi hướng thì đổi hướng cả đoàn, không đâm sau lưng người cũ.
Nhưng thời cuộc xoay nhanh hơn mọi dự tính. Chính phủ Ngô Đình Diệm quyết xóa bỏ các lực lượng vũ trang cát cứ. Cuối tháng 4 năm 1955, giao tranh nổ ra ngay giữa Sài Gòn. Chỉ trong khoảng một tuần, Bình Xuyên bị đánh bật khỏi nội thành, phải rút về Rừng Sác, vùng rừng đước ngập mặn nằm giữa sông Lòng Tàu và Soài Rạp.
Chính trong những ngày bị vây hãm ấy, cám dỗ lớn nhất đã tìm tới Bảy Môn. Theo Nguyên Hùng, một viên trung tá phía chính phủ đã tìm cách tiếp cận ông, trao thư của Dương Văn Minh, người vừa được thăng chức sau khi đẩy Bình Xuyên ra Rừng Sác. Lời mời rất rõ: về hợp tác với Thủ tướng Diệm, tài sản sẽ được hoàn trả, bản thân được phong thiếu tướng như Trịnh Minh Thế. Đặt trên bàn cân là một bên có lón tướng, nhà cửa, an toàn cho vợ con; còn bên kia là rừng đước, muỗi mòng, thiếu nước ngọt và một tương lai không ai biết trước.
Bảy Môn đã khước từ. Có thể hình dung người trung tá ấy đứng giữa những chiếc chòi sàn dựng tạm trên mặt nước, nhìn những anh em đã theo mình qua bao năm. Ông từng chọn sai một lần, khi đi theo người anh cả về thành. Lần này, ông không muốn đổi phần còn lại của đời mình lấy một chiếc lón vàng.
Tháng 8 năm 1955, chiến dịch Hoàng Diệu do Dương Văn Minh chỉ huy mở vào Rừng Sác để tảo thanh Bình Xuyên. Giữa lúc vòng vây siết lại, Phó bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa Phạm Văn Thuận và Bí thư Huyện ủy Long Thành Vũ Hồng Phô đã lấy danh nghĩa Mặt trận Liên Việt, trực tiếp vào Rừng Sác gặp Bộ chỉ huy Bình Xuyên. Nhờ chuyến đi ấy, bộ phận ly khai do trung tá Bảy Môn chỉ huy đã kịp thời rút khỏi Rừng Sác về Chiến khu Đ. Trong khi đó, Bảy Viễn chạy sang Campuchia rồi lưu vong ở Pháp, còn quân đội Cao Đài và Hòa Hảo lần lượt quy thuận chính quyền.
Về tới miền Đông, Bảy Môn không vội giao nộp lực lượng. Suốt gần năm năm, ông giữ một căn cứ độc lập giữa vùng rừng miền Đông Nam Bộ, tự lo cơm áo cho anh em trong lúc bị chính quyền truy đuổi. Phải đến năm 1960, khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, lực lượng của ông mới chính thức gia nhập Mặt trận. Đó là lần chọn phe cuối cùng, sau mười lăm năm kể từ bến Thủ Thiêm.
Tư liệu về những năm cuối đời của Bảy Môn đến nay vẫn còn trống. Nhưng dấu ấn của những người lính Bình Xuyên cũ vẫn còn trên dòng sông Lòng Tàu: từ ngày 15 tháng 4 năm 1966, nhóm cựu binh Bình Xuyên trong Mặt trận Giải phóng được biết đến với tên gọi Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, những người sinh ra nơi sông nước, thông thạo từng con rạch của vùng rừng ngập mặn.
Câu chuyện của Bảy Môn nhắc chúng ta rằng lịch sử không chỉ do những con người hoàn hảo làm nên. Có những người từng đi lạc giữa thời loạn, nhưng đến khoảnh khắc quyết định đã dám buông bỏ lón tướng và tài sản để đứng về phía dân tộc. Với tuổi trẻ hôm nay, đó là bài học về lòng dũng cảm nhìn lại chính mình và chọn con đường đúng, dù con đường ấy gian khổ hơn.



