Trung tá Đoàn Trọng Cách
Câu chuyện về Trung tá Đoàn Trọng Cách quê ở Khánh An, Yên Khánh, Ninh Bình (cũ), bây giờ là Đông Hoa Lư, Ninh Bình, tham gia chi viện cũng đầy xúc động. Nhà có hai anh em đều tham gia chiến trường miền nam. Riêng ông đã xung phong đi chi viện từ năm 18 tuổi, trực tiếp tham gia chiến đấu. Ông cho rằng, chính tình cảm gắn bó, chia ngọt sẻ bùi giữa những người đồng chí, đồng đội nơi chiến trường đã giúp ông vượt qua gian khổ, ác liệt của cuộc chiến.
Câu chuyện về Trung tá Đoàn Trọng Cách quê ở Khánh An, Yên Khánh, Ninh Bình (cũ), bây giờ là Đông Hoa Lư, Ninh Bình, tham gia chi viện cũng đầy xúc động. Nhà có hai anh em đều tham gia chiến trường miền nam. Riêng ông đã xung phong đi chi viện từ năm 18 tuổi, trực tiếp tham gia chiến đấu. Ông cho rằng, chính tình cảm gắn bó, chia ngọt sẻ bùi giữa những người đồng chí, đồng đội nơi chiến trường đã giúp ông vượt qua gian khổ, ác liệt của cuộc chiến.
Trung tá Đoàn Trọng Cách bùi ngùi kể lại: “Trong suốt quá trình vào nam chiến đấu, xúc động nhất là những ngày đầu vào gặp các đồng chí cán bộ miền nam. Khi gặp chúng tôi, các anh ôm lấy tôi và hỏi thăm về tình hình phát triển ở miền bắc. Sau đó các anh dạy chúng tôi từ cách nói năng, cách tập kết, huấn luyện, cách đi rừng, cách chiến đấu và cả cách cuốn thuốc lá hút mỗi khi nhớ nhà… Là lính trẻ đang tuổi ăn tuổi lớn, điều kiện ở chiến trường thiếu thốn nhưng các anh luôn nhường cơm cho tôi ăn no. Ngủ các anh mắc võng ở vòng ngoài canh gác cho tôi ngủ ở vòng trong được an toàn. Chỉ bằng những hành động nhỏ nhưng tôi rất cảm động vì những sự quan tâm, tình thương mến như thế này chỉ ở chiến trường mới có”.
Trải qua hoàn cảnh bom đạn ác liệt nơi chiến trường và cũng đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, giờ đây không biết những người anh, người đồng chí năm xưa ông từng gặp như anh Pháo, Anh Trung ở miền bắc; anh Thông, anh Nhung ở miền trung… có còn sống hay không, nhưng mỗi khi nhắc tới ông Cách vẫn rưng rưng xúc động.
Trong thời gian tham gia chi viện được cử vào Ban An ninh khu V, ông Cách vẫn nhớ như in những “chuyến hàng đặc biệt” mà ông phải bảo vệ. Do bí mật của công việc, ông không bao giờ được phép hỏi cụ thể về “chuyến hàng” và giao dịch chỉ bằng các mật khẩu.
Ông nhớ mãi lần bảo vệ “chuyến hàng đặc biệt” là đồng chí Võ Chí Công, lúc đó là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy khu V từ Hà Nội vào họp chuẩn bị phương án giải phóng Buôn Ma Thuột. “Nhận nhiệm vụ đón đồng chí Võ Chí Công từ A Sầu, A Lưới (Thừa Thiên Huế) vào đến huyện Trà My, Quảng Nam-Đà Nẵng (cũ), đến đâu đồng chí cũng xuống trao quà khiến chúng tôi rất lo lắng vì sợ bị địch phục kích. Nhưng rất may mắn là cuối cùng chúng tôi đã bảo vệ và bàn giao đồng chí an toàn” - Trung tá Đoàn Trọng Cách cho biết.
Trung tá Đoàn Trọng Cách cũng không thể nào quên lần bảo vệ “chuyến hàng đặc biệt” khác là đồng chí Khu ủy khu V từ Quảng Nam-Đà Nẵng vào đến Đắk Lắk (cũ). Ông cho biết, lần áp tải “chuyến hàng” này phải đi qua đèo Phượng Hoàng, địa hình hiểm trở lại sương mù phủ kín, nếu bị địch phục kích sẽ rất khó thoát được. Trong quá trình di chuyển, đoàn đã nghỉ một đêm tại Khánh Hòa, sáng hôm sau đồng chí Khu ủy khu V đòi đi sớm, nhưng nhận thấy không an toàn nên ông Cách và lái xe đã tìm cách giữ đồng chí Khu ủy khu V lại. Thật may mắn, lúc đó có đoàn xe của quân đội đi qua, ông Cách đã nhanh trí cho xe của đồng chí Khu ủy khu V đi giữa đoàn. Bởi theo kinh nghiệm, ông cho rằng, nếu địch có phục kích thì sẽ đánh vào đầu hoặc cuối đoàn quân. Nhờ vậy, một lần nữa ông Cách lại lập công bảo vệ an toàn cho các đồng chí cán bộ lãnh đạo cao cấp.
“Sau lần đó tôi đã được biểu dương và được kết nạp vào Đảng sớm”, trung tá Đoàn Trọng Cách chia sẻ.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những năm tháng thời hoa lửa vẫn còn in đậm trong ký ức của những người từng đi qua bom đạn. Đó là những câu chuyện thấm đẫm máu, nước mắt và lòng yêu nước nồng nàn của một thế hệ sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Trong dòng ký ức ấy, câu chuyện về Bà Trần Thị Lệ, sinh năm 1956, hiện đang sinh sống tại ấp 4, xã Gia Thuận, là một minh chứng xúc động cho tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường của người lính cách mạng. Mới 13 tuổi, khi tuổi thơ lẽ ra còn gắn liền với sách vở, bà đã sớm tham gia kháng chiến. Nỗi đau mất mát khi giặc Mỹ ném bom, cướp đi sinh mạng của những người thân trong gia đình đã hun đúc trong bà máu căm thù giặc sâu sắc, thôi thúc bà dấn thân vào con đường cách mạng.
Trong những năm tháng ấy, bà tham gia làm nhiệm vụ giao liên, nắm tình hình địch, góp phần bảo vệ lực lượng ta giữa muôn vàn hiểm nguy. Đến năm 1971, bà chính thức cầm súng ra chiến trường, trực tiếp chiến đấu 4 năm trong quân ngũ, cùng đồng đội vượt qua mưa bom bão đạn, góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.
Hòa bình lập lại, trở về với cuộc sống đời thường, bà Trần Thị Lệ tiếp tục phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành người dân mẫu mực, tích cực lao động sản xuất, xây dựng kinh tế gia đình, góp phần ổn định và phát triển đời sống tại địa phương. Hiện nay, bà là hội viên Hội Cựu Chiến binh dân ấp 4, luôn nhiệt tình tham gia các phong trào, hoạt động của ấp, được bà con tin yêu, quý trọng.
Thấm nhuần sâu sắc lời dạy “Đi cho dân nhớ, ở cho dân thương”, bà thường xuyên răn dạy con cháu và thế hệ trẻ rằng: được sống trong hòa bình hôm nay là thành quả của biết bao hy sinh mất mát, vì vậy phải biết trân trọng lịch sử, sống có trách nhiệm, chăm chỉ học tập, lao động và góp sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.
Những câu chuyện thời hoa lửa như câu chuyện của cựu chiến binh Trần Thị Lệ không chỉ là ký ức của riêng một con người, mà còn là bài học sống động về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và giá trị của hòa bình dành cho các thế hệ hôm nay và mai sau.



