Trung tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Khuất Duy Tiến - Những điều tôi biết

Trung tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Khuất Duy Tiến, sinh năm 1931 ở xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, TP Hà Nội, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3, nguyên Cục trưởng Cục Quân lực, Bộ Tổng tham mưu, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1.
Tôi nhớ có lần, vào cuối năm 2000, ông mời tôi về thăm nhà ở quê hương Đại Đồng. Vùng đất này có một đặc điểm ẩm thực là: Trong các bữa ăn thịnh soạn, ngoài những món ăn ngon quen thuộc như nhiều miền quê khác, thì bao giờ trên mâm cũng phải có món củ chuối non nấu xáo với xương lợn. Món ăn rất ngon, bình dị đượm vị quê hương ấy ông luôn yêu thích và nói với chúng tôi: “Sơn hào hải vị cũng chẳng thể sánh bằng”. Ông bình dị như thế đó!
Tôi khâm phục gia đình ông - một gia đình nền nếp, gia giáo, có truyền thống văn hóa. Ông cùng vợ là bà Vũ Thị Hồng Vân sinh thành, dưỡng dục lên 4 người con thành đạt: Con trai cả là Trung tướng, Tiến sĩ Khuất Việt Dũng, nguyên Chính ủy Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng (Bộ Quốc phòng), hiện là Phó chủ tịch Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam; con gái thứ hai là Tiến sĩ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội; con gái thứ ba là Thạc sĩ, Bác sĩ Khuất Hải Oanh, Giám đốc Trung tâm phát triển xã hội; con trai út là Tiến sĩ Khuất Việt Hùng, Phó cục trưởng Cục Vận tải, Bộ Giao thông vận tải, đồng thời là Phó chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia…
Qua nhiều năm, từ những lần gặp đầu tiên (khoảng năm 1992) cho đến tận bây giờ, cảm nhận xuyên suốt của tôi về ông Khuất Duy Tiến là một cán bộ có năng lực giỏi, đã từng trải qua nhiều cương vị, có bề dày thành tích, vốn sống, kinh nghiệm phong phú, phong cách điềm đạm vui vẻ, dễ gần, chân thành, cương trực. Thêm nữa, điều tôi kính quý và học hỏi ông còn ở chỗ ông giàu vốn Nho học. Ông thuộc rất nhiều câu danh ngôn Hán- Việt, có tính triết lý nhân sinh sâu sắc. Về lĩnh vực này, ông cũng là “thầy tôi”. Với tôi, do không được học nên không biết chữ nho.
Nhưng vì thích tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi, nên tôi cũng có biết được nghĩa của nhiều từ Hán- Việt. Nhờ thế, tôi liều viết ra vài ba câu đối, vài ba bài thơ Đường bằng âm Hán, để tự vịnh hoặc đề tặng người khác. Viết tiếng Việt xong, tôi nhờ người biết chữ Nho viết ra giấy. Bằng cách đó, tôi làm câu đối, làm thơ tặng một số người mà tôi thân quý - nhất là nhân dịp mừng sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới... Tôi thường đem cái mình viết ra để hỏi các bậc cha chú thành thạo chữ Nho, trong đó có tướng Khuất Duy Tiến. Đọc xong họ nói rằng, câu đối, bài thơ như vậy là đúng nghĩa và đúng niêm luật chặt chẽ của Đường thi. Thật ra, tôi thuộc loại điếc không sợ súng!
Nhiều năm trước, khi biết tin Khuất Việt Dũng - con trai cả của ông được thăng quân hàm cấp trung tướng, tôi kính tặng gia đình ông đôi câu đối bằng chữ Nho: “Phụ tử tướng quân thiên hạ thiểu/ Công danh khanh tước quốc triều đa”. (Nghĩa là: Cha con cùng làm tướng trong thiên hạ là ít. Các chức tước khác của quốc gia thì nhiều). Ngày 20-8-2016, nhân có việc tôi đến thăm nhà, ông Khuất Duy Tiến thân tình chỉ cho câu đối đó được viết bằng chữ Nho treo lên tường.
Kèm theo dòng ghi phía bên phải (cũng bằng chữ Nho): Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu đề hạ. Năm 2020, nhân dịp ông mừng thọ 90 tuổi, tôi đã làm đôi câu đối kính tặng ông: “Bách niên trường thọ kim tại hữu/ Cửu thập phong thần cổ sở hy”. (Nghĩa là: Người thọ 100 tuổi hiện nay vẫn có/ Chín mươi tuổi mà còn minh mẫn, thông tuệ thì xưa nay hiếm). Người xưa nay hiếm ấy, đến giờ vẫn bình lặng sống tại căn nhà tập thể do Bộ Quốc phòng cấp ở gần phố nhà binh và sẵn sàng trên những hành trình cùng đồng đội về chiến trường xưa, trao truyền lửa cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay.


