Trung tướng Cao Văn Khánh – Vị tướng trí thức trầm lặng, trợ thủ của Tổng Tư lệnh trong chiến dịch mùa Xuân 1975.Trung tướng Cao Văn Khánh – Vị tướng trí thức trầm lặng, trợ thủ của Tổng Tư lệnh trong chiến dịch mùa Xuân 1975.
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Linh Lớp:K13G-GDTH Trường: Đại học Hải Dương
Trung tướng Cao Văn Khánh – Vị tướng trí thức trầm lặng, trợ thủ của Tổng Tư lệnh trong chiến dịch mùa Xuân 1975.
Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, có những vị tướng được khắc ghi không chỉ bởi tài thao lược mà còn vì xuất thân, cá tính. Trung tướng Cao Văn Khánh (1917-1980) là một trường hợp như thế. Một trí thức yêu nước, bước vào chiến trường khốc liệt, để rồi suốt đời gắn với những trận đánh lớn, nhưng cũng mang trong mình nhiều ẩn ức.
Trung tướng Cao Văn Khánh - Từ giảng đường đến chiến khu
Sinh ra tại Thừa Thiên - Huế trong một gia đình quý tộc trí thức triều Nguyễn, Cao Văn Khánh sớm hấp thụ nền học vấn Tây học và Nho học. Ông đỗ Cử nhân Luật, một con đường nhiều hứa hẹn cho sự nghiệp quan trường hoặc trí thức thành thị. Nhưng ông chọn nghề dạy học, làm thầy giáo trường tư, rồi được mời chấm thi tại những ngôi trường danh tiếng như Quốc học Huế và Đồng Khánh.

Cao Văn Khánh và Ngọc Toản chụp trên chếc xe Jeep tại Điện Biên Phủ 5/1954. Ảnh Tạp chí nhiếp ảnh & đời sống
Ít ai ngờ, từ bục giảng ông rẽ sang con đường binh nghiệp. Trong phong trào Hướng đạo sinh, ông bộc lộ năng lực tổ chức và chỉ huy, một cá tính mạnh mẽ. Cách mạng tìm đến, khuyên ông vào học Trường Võ bị Thanh niên tiền tuyến Huế – nơi đào tạo lớp sĩ quan đầu tiên của nước Việt Nam mới. Cuộc đời trí thức trẻ bắt đầu gắn với binh nghiệp từ đây.
Cách mạng Tháng Tám 1945 nổ ra, ông cùng đồng đội tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế. Từ một trí thức luật khoa, Cao Văn Khánh trở thành Trung đội trưởng, rồi Đại đội trưởng Giải phóng quân tại cố đô.
Ngày 23/9/1946, trong dòng người Nam tiến đầy nhiệt huyết, ông cùng đơn vị vào Nam chiến đấu, giữ chức Tham mưu trưởng mặt trận Nha Trang – Khánh Hòa, rồi Khu trưởng Quân sự khu 5. Chính ông, cùng Tướng Nguyễn Chánh, đã ra lệnh nổ súng ở Đà Nẵng tối 19/12/1946 – mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc tại Liên khu 5.
Năm 1949, khi Đại đoàn 308 – Đại đoàn Quân tiên phong được thành lập, Cao Văn Khánh được điều ra Việt Bắc giữ chức Đại đoàn phó. Từ đây, tên tuổi ông gắn liền với những chiến dịch quyết định: Sông Thao, Biên giới 1950, rồi Điện Biên Phủ.
Ở Điện Biên, khi Bộ chỉ huy thay đổi phương châm tác chiến, chính ông – Đại đoàn phó 308 – chỉ huy cánh quân mở đường sang Lào, đánh vào tuyến sông Nậm Hu, chặn đường tiếp viện và rút chạy của quân Pháp. Đó là nhiệm vụ nặng nề nhưng quyết định, góp phần siết chặt vòng vây quanh tập đoàn cứ điểm.
Sau chiến thắng, trong một khoảnh khắc riêng tư, ông tổ chức lễ cưới cùng bác sĩ quân y Nguyễn Thị Ngọc Toản ngay trong căn hầm của De Castries – một đám cưới “độc nhất vô nhị” gắn liền với chiến thắng lịch sử.
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, từ năm 1966, Cao Văn Khánh là Tư lệnh B5 – Trị Thiên Huế, mảnh đất tuyến lửa khốc liệt nhất. Ông trực tiếp tham gia chỉ huy ở những chiến dịch nổi tiếng: Khe Sanh (1968), Đường 9 – Nam Lào (1971), Quảng Trị (1972), Tây Nguyên (1974).
Người lính Trị Thiên gọi ông là “ông thầy tướng” – một vị chỉ huy điềm tĩnh, trí tuệ, mạch lạc trong tư duy nhưng không ồn ào, phô trương. Sự quyết đoán và cẩn trọng của ông giúp giữ vững phòng tuyến ở những thời khắc cam go nhất.
Trợ thủ của Tổng Tư lệnh trong chiến dịch mùa Xuân 1975
Năm 1974, ông được rút về Bộ Tổng Tham mưu, giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng, cùng Trung tướng Hoàng Văn Thái trực tiếp giúp việc cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đây là giai đoạn chuẩn bị quyết định cho cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975.

Tại Tổng hành dinh trong Mùa xuân toàn thắng năm 1975. Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp (giữa), Thiếu tướng Tổng tham mưu phó Cao Văn Khánh (trái), Đại tá Cục trưởng Cục Tác chiến Lê Hữu Đức (phải). Ảnh tư liệu
Trong những ngày lịch sử ấy, Cao Văn Khánh là người “cầm nhịp” giữa Bộ Tổng Tư lệnh và các binh đoàn trên chiến trường. Ông theo dõi sát từng diễn biến, báo cáo kịp thời cho Bộ Chính trị và Tổng Tư lệnh, đồng thời truyền đạt chính xác mệnh lệnh đến các cánh quân. Những thông tin, quyết định ấy góp phần làm nên Đại thắng Mùa Xuân 1975.
Ẩn ức của một vị tướng trí thức
Thành tích của ông đồ sộ: Huân chương Quân công hạng Nhất, Chiến công hạng Nhất, Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba… Nhưng tên tuổi ông lại ít khi được nhắc đến. Trong những bức ảnh của Bộ Tổng tham mưu, ông luôn có mặt, nhưng hiếm khi được xướng tên.
Sự trầm lặng ấy khiến cuộc đời ông nhiều phần mờ khuất, đến mức dư luận từng đồn đoán vô căn cứ rằng ông là anh ruột của tướng Cao Văn Viên – Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn. Lý lịch gia đình, với những người anh ở bên kia chiến tuyến, cùng người vợ vốn là tiểu thư triều Nguyễn...
Bốn mươi năm sau ngày ông mất, con gái ông, PGS.TS Cao Bảo Vân - nguyên Viện phó Viện Pasteur TP.HCM, đã dành ra 10 năm để viết một cuốn sách dày hơn 800 trang, tái dựng “hồi ức lịch sử” về cha mình.

Cuốn sách dày hơn 800 trang do NXB Tri thức ấn hành. Nguồn: BBB
Chị từng thừa nhận: “Nếu còn sống, chưa chắc ba tôi sẽ viết hồi ký. Ông sống kín đáo”. Chính sự trầm lặng và khép kín ấy khiến chị nhiều lần nản lòng. Nhưng bằng công phu sưu tầm tư liệu, gặp gỡ nhân chứng và sự kiên trì, Cao Bảo Vân đã khắc họa lại hình ảnh một người cha, đồng thời dựng lên bức tượng đài thế hệ trí thức Việt Nam dấn thân vào cách mạng: từ bỏ vinh hoa phú quý, chấp nhận nghịch cảnh, sống và chiến đấu dưới làn bom đạn chỉ với khát vọng độc lập – tự do cho dân tộc.


