TRUNG TƯỚNG ĐỖ QUANG HƯNG – MỘT ĐỜI GẮN VỚI CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ VÀ TÌNH NGHĨA QUỐC TẾ

Cuộc đời của Trung tướng Đỗ Quang Hưng là một hành trình dài bắt đầu từ vùng đất Nam Bộ trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến và kéo dài qua nhiều chiến trường. Từ một thanh niên tham gia cách mạng năm 1945, ông lần lượt trưởng thành qua công tác du kích, chỉ huy đơn vị chủ lực, tham gia những chiến dịch lớn ở miền Nam, làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia và sau này đảm nhiệm cương vị lãnh đạo ở Quân khu 7 cũng như Hội Cựu chiến binh.
Đỗ Quang Hưng sinh năm 1929, quê tại xã Long Điền, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Năm 1945, khi mới mười sáu tuổi, ông đã tham gia hoạt động cách mạng. Những năm đầu, ông công tác tại địa phương, sau đó trưởng thành qua các vị trí trong lực lượng vũ trang ở Bạc Liêu và Cà Mau. Từ cán bộ tiểu đội, trung đội đến chỉ huy lực lượng du kích, những trải nghiệm đầu đời đã giúp ông hiểu rõ chiến tranh nhân dân ở vùng sông nước Nam Bộ.
Giai đoạn kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ huấn luyện và chỉ huy. Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc, công tác tại các đơn vị của quân đội và theo học Trường Sĩ quan Lục quân. Đây là khoảng thời gian vừa học tập vừa chuẩn bị cho những nhiệm vụ lâu dài. Cuối năm 1961, ông được điều động trở lại chiến trường miền Nam.

Ảnh 1 – Chân dung Trung tướng Đỗ Quang Hưng. Chú thích: Vị tướng trưởng thành từ chiến trường Nam Bộ và từng là Quyền Tư lệnh Quân khu 7.
Từ đây, sự nghiệp quân sự của Đỗ Quang Hưng gắn chặt với những chiến trường ác liệt ở Nam Bộ. Năm 1964, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1, tham gia Chiến dịch Bình Giã. Sau đó, ông công tác tại Sư đoàn 9, lần lượt đảm nhiệm các cương vị từ Tham mưu phó đến Trung đoàn trưởng. Trong bối cảnh quân Mỹ trực tiếp tham chiến với ưu thế lớn về hỏa lực và trang bị, các đơn vị của Quân giải phóng phải tìm ra những cách đánh phù hợp với thực tế chiến trường.
Một dấu ấn đáng chú ý trong giai đoạn này là trận đánh tại Dầu Tiếng năm 1965, nơi Đỗ Quang Hưng cùng tập thể chỉ huy Trung đoàn 1 tổ chức chiến đấu chống lực lượng đối phương. Những kinh nghiệm từ các trận đánh ở miền Đông Nam Bộ đã góp phần vào quá trình tổng kết và phát triển cách đánh gần, hạn chế ưu thế hỏa lực của đối phương. Đằng sau mỗi kinh nghiệm quân sự là sự đánh đổi và tinh thần kiên cường của cả tập thể cán bộ, chiến sĩ.
Năm 1968, Đỗ Quang Hưng là Tham mưu phó Sư đoàn 9 và tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân. Sau đó, ông tiếp tục đảm nhiệm công tác đào tạo và chỉ huy đơn vị. Đến năm 1974, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 3. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, Sư đoàn 3 nằm trong đội hình Đoàn 232, tiến công trên hướng Tây và Tây Nam, góp phần cùng các lực lượng tạo nên thắng lợi chung của cuộc Tổng tiến công.
Ngày đất nước thống nhất không phải là điểm kết thúc nhiệm vụ của người lính. Những năm cuối thập niên 1970 và trong thập niên 1980, Đỗ Quang Hưng tiếp tục được giao các nhiệm vụ tại Quân khu 7 và trên các mặt trận làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Ông từng giữ các chức vụ Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Mặt trận 479, Tư lệnh Mặt trận 779 và tham gia công tác chuyên gia quân sự. Trong quá trình này, các lực lượng Việt Nam vừa thực hiện nhiệm vụ quốc phòng vừa phối hợp hỗ trợ nhân dân Campuchia khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống và xây dựng lực lượng.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.

Ảnh 2 – Ảnh tư liệu về Trung tướng Đỗ Quang Hưng hoặc đơn vị ông từng chỉ huy. Chú thích: Hành trình qua các chiến trường miền Nam và nhiệm vụ quốc tế.
Trở về nước, ông tiếp tục giữ cương vị Phó Tư lệnh Quân khu 7. Năm 1994, khi Tư lệnh Bùi Thanh Vân qua đời, Đỗ Quang Hưng được chỉ định làm Quyền Tư lệnh Quân khu 7. Trong thời bình, nhiệm vụ của quân khu tập trung vào xây dựng lực lượng, huấn luyện và củng cố thế trận quốc phòng. Đây là một dạng trách nhiệm khác với chiến trường, nhưng vẫn đòi hỏi sự nghiêm túc và tầm nhìn của người chỉ huy.
Điều khiến hình ảnh Trung tướng Đỗ Quang Hưng trở nên gần gũi là sự bình dị được nhiều bài viết về ông nhắc đến. Ông không chỉ được biết đến qua những chức vụ quân sự mà còn qua đời sống tình cảm với gia đình và đồng đội. Hai người con trai của ông từng theo con đường quân ngũ; một người bị thương, một người đã hy sinh trong chiến tranh. Câu chuyện ấy cho thấy chiến tranh không phải một khái niệm trừu tượng mà luôn để lại dấu ấn sâu sắc trong từng gia đình.
Sau khi nghỉ hưu, ông vẫn tham gia hoạt động của Hội Cựu chiến binh, từng giữ vai trò Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam và góp sức cho hoạt động cựu chiến binh tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đó là sự tiếp nối của một cuộc đời luôn gắn với tập thể. Khi không còn trực tiếp chỉ huy đơn vị, ông vẫn tiếp tục đóng góp vào việc giữ gìn truyền thống và chăm lo đời sống tinh thần của những người từng khoác áo lính.
Trung tướng Đỗ Quang Hưng qua đời năm 2009. Trong cuộc đời hoạt động của mình, ông được tặng nhiều huân chương và phần thưởng cao quý. Tuy nhiên, khi nhìn lại, điều nổi bật nhất vẫn là hành trình hơn nửa thế kỷ gắn với các chiến trường và nhiệm vụ khác nhau. Từ vùng sông nước Bạc Liêu, qua chiến trường miền Đông, đến Campuchia và Quân khu 7, mỗi nơi đều để lại một dấu ấn trong cuộc đời người lính.

Ảnh 3 – Ảnh giao lưu, tri ân của đoàn viên hoặc sinh viên với cựu chiến binh. Chú thích: Gìn giữ ký ức lịch sử và tiếp nối truyền thống.
Đối với thế hệ trẻ, câu chuyện về Trung tướng Đỗ Quang Hưng gợi lên ý nghĩa của sự kiên trì và tinh thần trách nhiệm. Không phải ai cũng bắt đầu từ một vị trí lớn. Nhưng nếu mỗi người làm tốt nhiệm vụ của mình, biết học hỏi và không né tránh khó khăn, họ có thể trưởng thành qua thời gian. Đó cũng là cách mà một thanh niên mười sáu tuổi tham gia cách mạng đã trở thành một vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Những câu chuyện về các nhân chứng lịch sử như Trung tướng Đỗ Quang Hưng cần được thế hệ hôm nay tiếp tục tìm hiểu và kể lại. Không phải để sống trong quá khứ, mà để hiểu rõ hơn giá trị của hòa bình. Mỗi trang lịch sử được kể bằng những con người cụ thể sẽ giúp chúng ta nhận ra rằng độc lập, thống nhất và cuộc sống bình yên hôm nay đã được xây dựng bằng sự hy sinh và cống hiến của biết bao thế hệ.



