Trung tướng Đỗ Quang Hưng - Người Tiểu đoàn trưởng của trận Bình Giã
Trung tướng Đỗ Quang Hưng sinh năm 1929, quê xã Long Điền, huyện Giá Rai (nay là huyện Đông Hải), tỉnh Bạc Liêu. Tham gia cách mạng từ năm 1945, ông trưởng thành từ lực lượng vũ trang Nam Bộ, từng đảm nhiệm nhiều cương vị từ Tiểu đội trưởng, Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng đến Trung đoàn trưởng và Tư lệnh Sư đoàn. Năm 1964, trên cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1 (Q761), ông trực tiếp chỉ huy đơn vị tham gia Chiến dịch Bình Giã, góp phần làm nên chiến thắng có ý nghĩa chiến lượ

Nhắc đến Chiến thắng Bình Giã, Trung tướng Đỗ Quang Hưng thường không nói nhiều về chiến công của mình.
Ông chỉ lặng lẽ nhắc đến đồng đội.
Những người đã cùng ông trải qua gần một trăm ngày đêm chiến đấu liên tục giữa vùng đất đỏ Bà Rịa cuối năm 1964.
Ông từng tâm sự:
"Chiến thắng nào cũng được viết bằng mồ hôi, máu và sự hy sinh của người lính."
Sinh ra trên vùng đất Bạc Liêu giàu truyền thống yêu nước, Đỗ Quang Hưng tham gia cách mạng từ những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến.
Ông trưởng thành rất nhanh qua thực tiễn chiến đấu.
Từ người chỉ huy trung đội du kích, rồi Đại đội trưởng, ông được cử ra miền Bắc học tập, sau đó lại tình nguyện trở về chiến trường miền Nam.
Cuối năm 1964, ông được giao giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1.
Đó là thời điểm chiến trường miền Đông Nam Bộ bước vào một thử thách lớn.
Địch xây dựng Bình Giã thành một cứ điểm mạnh, có lực lượng cơ động tinh nhuệ bảo vệ.
Bộ Chỉ huy Miền quyết định mở một chiến dịch lớn nhằm tiêu diệt lực lượng tổng dự bị của đối phương.
Tiểu đoàn của Đỗ Quang Hưng nhận nhiệm vụ phối hợp với lực lượng địa phương Bà Rịa, vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa thu hút quân tiếp viện vào khu vực phục kích.
Đó là nhiệm vụ vô cùng khó khăn.
Bởi đối phương có ưu thế về hỏa lực, xe bọc thép và không quân.
Trước giờ xuất kích, ông tập hợp cán bộ các đại đội.
Ông nói ngắn gọn:
"Chúng ta đánh không chỉ để thắng một trận, mà để chứng minh bộ đội chủ lực miền Nam có thể đánh bại quân cơ động mạnh nhất của địch."
Những lời ấy nhanh chóng lan khắp đơn vị.
Không ai còn nghĩ đến gian khổ.
Chỉ nghĩ đến nhiệm vụ.
Những ngày đầu chiến dịch, Tiểu đoàn 3 liên tục cơ động giữa những rừng cao su và các ấp chiến lược.
Ban ngày ngụy trang.
Ban đêm hành quân.
Mỗi bước đi đều phải giữ bí mật tuyệt đối.
Khi trận đánh mở màn, địch lập tức tung quân ứng cứu bằng trực thăng và xe cơ giới.
Đúng như phương án đã chuẩn bị, đơn vị của ông kiên quyết bám trận địa, buộc đối phương từng bước lọt vào thế trận phục kích.
Tiếng súng vang dội giữa rừng cao su.
Những đợt xung phong liên tiếp diễn ra.
Địch nhiều lần phản kích nhưng đều bị đánh bật.
Ông luôn có mặt ở tuyến trước.
Khi một mũi tiến công gặp khó khăn, ông trực tiếp đến chỉ huy, điều chỉnh đội hình và động viên chiến sĩ.
Ông nói:
"Giữ vững đội hình! Đồng đội đang ở bên cạnh mình."
Lời động viên ấy trở thành sức mạnh để cán bộ, chiến sĩ tiếp tục chiến đấu.
Sau gần 100 ngày đêm liên tục tác chiến, Tiểu đoàn 3 cùng Trung đoàn 1 và các đơn vị bạn đã góp phần làm nên Chiến thắng Bình Giã.
Chiến thắng ấy không chỉ tiêu diệt nhiều đơn vị tinh nhuệ của đối phương, mà còn chứng minh nghệ thuật tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực miền Nam đã trưởng thành vượt bậc.
Sau Bình Giã, Đỗ Quang Hưng tiếp tục được giao nhiều trọng trách.
Năm 1965, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, Sư đoàn 9.
Trong hai mùa khô 1965–1966 và 1966–1967, ông cùng đơn vị trực tiếp đối đầu với quân Mỹ.
Đặc biệt, trong trận Dầu Tiếng ngày 26/11/1965, Trung đoàn 1 đã đánh thiệt hại nặng quân Mỹ và quân đội Sài Gòn.
Đây là một trong những trận đánh góp phần hình thành phương châm nổi tiếng:
"Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh."
Đầu năm 1968, trên cương vị Tham mưu phó Sư đoàn 9, ông tham gia chỉ huy Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân.
Đơn vị tiến công Trung tâm huấn luyện Quang Trung, đánh mạnh vào vùng ven Sài Gòn, kiềm chế lực lượng đối phương tại Đồng Dù và tiến công khu kho Long Bình.
Những ngày ấy, ông gần như thức trắng.
Không phải vì mệt.
Mà vì mỗi quyết định đều liên quan đến sinh mạng của hàng trăm cán bộ, chiến sĩ.
Mùa xuân 1975, ông giữ cương vị Tư lệnh Sư đoàn 3.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, đơn vị của ông nằm trong đội hình tiến công giải phóng Sài Gòn.
Khi lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, ông lặng người.
Điều đầu tiên ông nghĩ đến không phải chiến công.
Mà là những người đồng đội đã nằm lại từ Bình Giã, Dầu Tiếng, Mậu Thân cho đến ngày toàn thắng.
Sau hòa bình, ông tiếp tục cống hiến trong quân đội, đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng và sau này trở thành Quyền Tư lệnh Quân khu 7.
Dù mang quân hàm Trung tướng, ông vẫn giữ lối sống giản dị.
Ông thường nói với lớp sĩ quan trẻ:
"Quân hàm có thể thay đổi, nhưng phẩm chất người lính thì không bao giờ được phép thay đổi."
Đến cuối đời, điều ông tự hào nhất không phải là những chức vụ từng đảm nhiệm.
Mà là đã được sống, chiến đấu cùng một thế hệ người lính sẵn sàng hy sinh vì độc lập của dân tộc.


