TRUNG TƯỚNG ĐỒNG SỸ NGUYÊN: NHÀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ MƯU LƯỢC VÀ VỊ "KIẾN TRÚC SƯ TRƯỞNG" CỦA ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN HUYỀN THOẠI
Lê Văn Quản
Thân thế và Gia đình
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên (tên khai sinh là Nguyễn Hữu Vũ, bí danh Nguyễn Văn Đồng) sinh ngày 1-3-1923 tại xã Quảng Trung, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông xuất thân trong một gia đình trung lưu và sớm nung nấu tinh thần yêu nước, chống thực dân Pháp xâm lược. Để giữ bí mật trong quá trình hoạt động cách mạng và bảo đảm an toàn cho gia đình ở quê nhà, từ năm 1947, ông chính thức lấy tên là Đồng Sỹ Nguyên – cái tên đã gắn bó suốt phần đời còn lại và đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc.
Gia đình của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên có truyền thống cách mạng vô cùng đặc biệt. Trong dòng họ của ông có tới 214 thành viên (tính cả con, cháu, chắt, dâu, rể); trong đó có 6 anh em ruột và 32 người cháu tham gia quân đội với 52 đảng viên. Gia đình ông vinh dự có "3 vị tướng" bao gồm: bản thân ông (Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên), người em ruột kề sau ông là Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh (nguyên Phó Viện trưởng Học viện Hậu cần) và người cháu ruột là Trung tướng Nguyễn Hữu Cường (nguyên Tư lệnh Quân khu 4).
Quá trình Hoạt động Cách mạng và Sự nghiệp Binh nghiệp
Thời kỳ tiền khởi nghĩa và Kháng chiến chống thực dân Pháp (1938 - 1954)
Thời kỳ đầu hoạt động: Ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng từ năm 12 tuổi và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 12-1939 khi mới hơn 16 tuổi. Năm 1940, ông giữ chức Bí thư Chi bộ xã và đến năm 1941 làm Phủ ủy viên lâm thời huyện Quảng Trạch. Khi bị thực dân Pháp truy nã gắt gao, ông phải lánh sang Lào và Thái Lan hoạt động bí mật để gây dựng cơ sở cách mạng trong kiều bào yêu nước.
Tham gia giành chính quyền và Quốc hội khóa I: Tháng 3-1945, ông trở về nước tham gia thành lập Ban Cán sự tỉnh Quảng Bình, lập chiến khu chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông làm Chủ nhiệm Việt Minh kiêm Chỉ huy trưởng bộ đội Quảng Bình. Năm 1946, khi mới 23 tuổi, ông đã trúng cử làm Đại biểu Quốc hội khóa I – Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới.
Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân: Khi kháng chiến bùng nổ, ông giữ cương vị Bí thư Huyện ủy kiêm Tỉnh đội trưởng Quảng Bình. Tại quê nhà, ông đã chỉ đạo xây dựng Chiến khu Trung Thuần và phát động phong trào toàn dân đánh giặc thông qua mô hình "Làng chiến đấu" nổi tiếng như Cảnh Dương, Cự Nẫm, Hoàn Lão.... Dưới sự chỉ đạo của ông, ngày 15-7-1949 đã trở thành ngày "Quảng Bình quật khởi", tạo nên bước ngoặt mạnh mẽ cho phong trào kháng chiến địa phương.
Hoạt động ở mặt trận Trung Lào: Từ năm 1951 đến năm 1954, ông giữ chức Cục phó Cục Tổ chức và làm phái viên của Tổng Tư lệnh trong nhiều chiến dịch lớn (như Điện Biên Phủ, Hoàng Hoa Thám), đồng thời trực tiếp tham gia Bộ Chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận Trung Lào.
Thời kỳ xây dựng miền Bắc và phong quân hàm vượt cấp (1954 - 1966)
Sau hiệp định Genève, ông phụ trách công tác trao trả tù binh tại Sầm Sơn và đón nhận bộ đội miền Nam tập kết. Sau đó, ông lần lượt giữ các chức vụ Cục trưởng Cục Động viên dân quân, Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ Tổng Tham mưu và được phong quân hàm Đại tá vào năm 1958.
Sau khi học tại Học viện Quân sự Bắc Kinh (1961 - 1962), ông được bổ nhiệm làm Tổng tham mưu phó (1964), Chính ủy Quân khu 4 (1965) và Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại mặt trận Trung - Hạ Lào.
Trong suốt cuộc đời binh nghiệp kéo dài của mình, ông chỉ trải qua đúng 2 lần phong quân hàm: lần đầu phong Đại tá năm 1958, và lần thứ hai vào năm 1974, ông được phong vượt cấp từ Đại tá lên thẳng Trung tướng. Ông chính là 1 trong 2 người duy nhất trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam được phong vượt cấp đặc biệt này.
Vị "Kiến trúc sư trưởng" của Tuyến đường Trường Sơn Huyền thoại (1967 - 1976)
Đầu năm 1967, đồng chí Đồng Sỹ Nguyên được Quân ủy Trung ương chỉ định làm Tư lệnh Bộ Chỉ huy 559 (Bộ đội Trường Sơn). Đây là thời kỳ Mỹ đánh phá tàn bạo nhất bằng không quân, hóa học và vũ khí công nghệ cao.
Với tư duy chiến lược sắc sảo, ông đã đưa ra những quyết sách mang tính đột phá, xoay chuyển hoàn toàn cục diện chiến trường:
Chuyển từ phòng tránh sang thế chủ động tiến công: Ông khẳng định tư tưởng chỉ đạo của tuyến chi viện phải là tư tưởng tiến công. Thay vì chỉ "phòng tránh thụ động", ông chỉ đạo xây dựng thế trận hiệp đồng binh chủng. Các lực lượng phòng không được lệnh "quay nòng pháo theo bánh xe" để chốt chặn và phục kích máy bay địch ngay tại trọng điểm, bảo vệ vững chắc cho đội hình xe tải vận tải.
Cơ giới hóa toàn bộ và xây dựng "Trận đồ bát quái": Ông bác bỏ phương án quay lại vận tải thô sơ gùi thồ, quyết liệt thực hiện chiến lược "cơ giới hóa toàn bộ tuyến Trường Sơn". Dưới sự chỉ huy của ông, tuyến đường vươn mình thành mạng lưới giao thông khổng lồ dài gần 17.000 km đường bộ (bao gồm hơn 800 km "đường kín" được ngụy trang hoàn toàn dưới tán rừng già để xe chạy ban ngày), 1.400 km đường ống dẫn xăng dầu xuyên suốt Trường Sơn vào tới chiến trường Nam Bộ, 1.350 km đường dây thông tin và 500 km đường sông.
Hệ thống đường ống xăng dầu Trường Sơn đã tạo nên một kỳ tích "huyền thoại trong huyền thoại", giúp loại bỏ việc vận chuyển xăng dầu thủ công bằng phuy, đáp ứng hoàn hảo yêu cầu cơ động nhanh của lực lượng binh chủng lớn trong chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Ông cũng là người có tầm nhìn nhân văn sâu sắc khi từ giữa năm 1974 đã đề xuất và trực tiếp chỉ đạo chọn địa điểm, xây dựng Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn tại Bến Tắt (Quảng Trị) làm nơi quy tập, an nghỉ vĩnh hằng cho hơn một vạn đồng đội đã anh dũng hy sinh.
Nhà Lãnh đạo Đột phá Thời bình và Dấu ấn Ngành Giao thông (1976 - 2006)
Sau ngày đất nước thống nhất, ông đảm nhiệm nhiều trọng trách: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng (giai đoạn 1977-1982). Đầu năm 1979, khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, ông được điều động trở lại làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô.
Từ năm 1982 đến 1986, trên cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, ông đã thể hiện tư duy cải cách mạnh mẽ:
Chấn chỉnh tổ chức hạch toán: Tiến hành sắp xếp lại toàn bộ lực lượng, giải thể cấp cục/vụ trung gian để thành lập các liên hiệp xí nghiệp, tổng công ty vận tải khu vực, hạch hạch toán hạch toán hạch toán hạch toán kinh tế, xóa bỏ dần cơ chế bao cấp trì trệ. Chuyển đổi các Ty giao thông thành các Sở Giao thông Vận tải cấp tỉnh, thành phố.
Dấu ấn trên các công trình thế kỷ:
Cầu Chương Dương (Hà Nội): Trước tình hình ách tắc nghiêm trọng trên cầu Long Biên, ông đề xuất xây dựng cầu Chương Dương và đưa ra quyết định táo bạo là thay đổi thiết kế từ cầu treo sang cầu cứng, tận dụng sắt thép thừa từ cầu Thăng Long để thi công. Cây cầu khánh thành vào năm 1985, vượt tiến độ 12 tháng trong niềm hân hoan của người dân Thủ đô.
Ông cũng chỉ đạo mở rộng Quộc lộ 5 lên 4 làn xe, mở rộng trục đường Nguyễn Trãi (Hà Nội), thúc đẩy đường sắt vào mỏ Apatit Lào Cai, Kép - Cái Lân....
Linh hồn của Đường Hồ Chí Minh thời kỳ mới: Từ năm 1996, dù đã bước sang tuổi 73, ông vẫn nhiệt huyết đảm nhận vai trò Đặc phái viên của Chính phủ để chỉ đạo xây dựng đường Hồ Chí Minh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ông luôn lặn lội bám sát thực địa, trực tiếp khảo sát từng cung đường biên giới.
Nốt Trầm Đau Thương và Những Ngày Cuối Đời
Dù là một vị tướng oai phong nơi trận mạc, ông luôn dành tình yêu thương tỉ mỉ cho gia đình. Cuộc đời ông phải gánh chịu một nỗi đau mất mát to lớn: người con trai thứ tư của ông – Đại đội trưởng pháo binh Nguyễn Tiến Quân – đã anh dũng hy sinh vào đầu năm 1979 tại mặt trạng biên giới phía Bắc. Nhận tin dữ khi đang chủ trì cuộc họp quan trọng, vị tướng đã kìm nén nỗi đau để hoàn thành công việc trước khi lên biên giới tìm thi thể con. Ông chưa bao giờ dùng tầm ảnh hưởng của mình để dành đặc quyền, đặc lợi cho con cháu, luôn khuyến khích họ lên đường cống hiến khi Tổ quốc cần.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên qua đời vào ngày 4-4-2019 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, hưởng thọ 96 tuổi. Tang lễ của ông được tổ chức trọng thể theo Nghi thức cấp Nhà nước và an táng tại Nghĩa trang Công viên Vĩnh Hằng (Hà Nội).
Với những cống hiến vĩ đại, ông đã được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng. Đặc biệt, vào sáng ngày 13-12-2024, ông đã được Đảng và Nhà nước long trọng truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Các Nguồn Truy Xuất (Grounding Sources)
Tóm tắt tiểu sử đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên – Báo Nhân Dân.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên - Tư lệnh đường Trường Sơn huyền thoại – Báo Nhân Dân.
Những điều đặc biệt ở Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên – Hội Trường Sơn.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên trong ký ức gia đình – Hội Trường Sơn.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và những bước đột phá của ngành giao thông – Báo Quân đội nhân dân.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên - nhà chính trị, quân sự mưu lược – Báo Quân đội nhân dân.
Lễ tang Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên tổ chức theo nghi thức cấp Nhà nước – Báo Tuổi Trẻ.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên: Vị "Kiến trúc sư trưởng" vĩ đại của tuyến đường Trường Sơn (1923 - 2019) – Thư viện ký ức.
Đồng Sĩ Nguyên – Người chỉ huy tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại – Thư viện ký ức.


