TRUNG TƯỚNG ĐỒNG VĂN CỐNG (1918-2005), NGƯỜI ANH CẢ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH BẾN TRE
Trung tướng Đồng Văn Cống, bí danh Hồng Kỳ, tên thường dùng ở chiến trường là Chín Hồng, sinh năm 1918 tại làng Tân Hào, tổng Bảo Phước, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre), trong một gia đình khá giả, đông con.
Lúc nhỏ, ông học ở trường Hương Điểm và thi đỗ tiểu học. Với uy tín gia đình, lại có học thức, Đồng Văn Cống được giới thiệu vào Hội đồng kỳ mục của làng Tân Hào, giữ chức Chánh lục bộ, nên nhân dân quen gọi là “Chánh lục bộ Cống". Ông tham gia cách mạng, hoạt động bí mật từ năm 1936, vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 16/2/1939.
Ông có sức vóc cao to, mạnh khỏe, điển trai, thích hoạt động xã hội, sở trường chơi thể thao bộ môn đá banh và cờ tướng. Ông sống phóng khoáng, gần gũi với dân, lại giao thiệp rộng nên từng là thần tượng của thanh niên trang lứa trong làng và bạn bè quanh vùng.
Trong Cách mạng tháng Tám, ông là Bí thư Chi bộ Tân Hào kiêm Tổng ủy viên lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền tại địa phương.
Tháng 2/1946, giặc Pháp đánh chiếm Bến Tre, ông thành lập và lãnh đạo Đội Du kích Tân Hào (nhân dân thường gọi là Bộ đội ông Cống), được trang bị 4 súng lửa, mã tấu và đánh nhiều trận. Sau 3 tháng chiến đấu, đội du kích đã phát triển thành trung đội, trang bị 20 súng các loại và cái tên Bộ đội Tân Hào ra đời.
Trong các chiến công, nổi bật nhất là trận Bàu Dơi (tháng 5/1946) sung, khiến diệt gọn 1 trung đội địch có 11 tên lính Pháp, thu cho kẻ thù ngắn sợ. Từ đó, nhân dân truyền tụng câu ca: "Bộ đội ông Cống/ đóng ở Bàu Dơi/ Tây vào đánh chơi/ Thằng Đả đảo!" 20: đốt nhà dân/nào đô
Là một nông dân mặc áo bộ đội, cuộc đời và sự nghiệp của ông luôn gắn chặt với chiến trường xông pha trong lửa đạn; từ một đội du kích xã qua nhiều năm liên tục chiến đấu, ông cùng đồng đội xây dựng nên trung đội, đại đội..., cho đến trung đoàn quân chính quy.
Thực hiện chủ trương của Quân khu, ngày 6/5/1946, đơn vị vệ quốc đoàn đầu tiên của Bến Tre ra đời lấy phiên hiệu Chi đội 19, do Đồng Văn Cống làm Chi đội trưởng, Nguyễn Công Trung làm Chánh trị viên. Chi đội trực tiếp chỉ huy 7 trung đội (tương đương một đại đội).
Vào tháng 7/1947, thực hiện Nghị quyết quân sự toàn quốc lần thứ 3, Chi đội 19 được bổ sung quân, trang bị và tăng cường cán bộ thành lập Trung đoàn 99 do Đồng Văn Cống làm Trung đoàn trưởng, Đỗ Huy Rừa làm Trung đoàn phó và Võ Văn Thời làm Chánh trị viên.
•Những trận đánh lịch sử trong kháng chiến chống Pháp
Khi còn là Bộ đội Tân Hào, ngày 25/6/1946, ông Cống đã phối hợp với Bộ đội Đoàn Trần Nghiệp đánh trận ở Giồng Chùa (Tân Hào) diệt 2 trung đội địch, thu 25 súng.
Bộ đội Đoàn Trần Nghiệp: Còn gọi là Bộ đội ông Phải ở Thạnh Phú Đông, do hai anh em ông Phan Văn Phải và ông Phan Văn Kích thành lập, lấy tên là Bộ đội Đoàn Trần Nghiệp. Đoàn Trần Nghiệp (1908 -1930), còn có tên là Ký Con, quê ở làng Khúc Thủy, huyện Thanh Oai (nay thuộc Thủ đô Hà Nội). Ông là một chiến sĩ cách mạng trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930 của Việt Nam Quốc dân Đảng. Cuộc khởi nghĩa thất bại, Đoàn Trần Nghiệp bị thực dân Pháp xử bắn. Hiện nay, ở TP. Hồ Chí Minh có con đường mang tên ông.
Ngày 23/1/1947 (mùng 2 Tết Đinh Hợi), 2 tiểu đoàn Pháp càn vào 2 làng Tân Hào Đông và Thạnh Phú Đông, Chi đội 19 chặn đánh một cánh quân ở lộ quẹo (Tân Hào) diệt gần hết tiểu đoàn, thu 150 súng, phá hủy một xe bọc thép. Đây là một trận đánh mưu trí dũng cảm và thắng lợi to lớn.
Vào 9 giờ sáng ngày 18/2/1947, Trung đội 2 thuộc Chi đội 19 nổ súng áp đảo diệt đồn Vàm Nước Trong (làng Định Thủy, quận Mỏ Cày) diệt 31 tên địch, bắt sống 13 tên, thu toàn bộ vũ khí.
Ngày 19/5/1947, Chi đội 19 phục kích ở Phú Lễ, huyện Ba Tri diệt 6 xe, 132 tên địch, thu gần 100 súng các loại.
•Những dấu ấn lịch sử
Đầu năm 1951, Léon Leroy lấn chiếm và bình định Bến Tre đã gây cho ta nhiều tổn thất. Đồng Văn Cống được Bộ Tư lệnh Khu 8 điều về làm Tỉnh đội trưởng Bến Tre. Ông đã góp phần củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang lúc bấy giờ.
Sau Hiệp định Genève, ông được cử vào Ban Liên hiệp đình chiến Trung ương, trực tiếp lo việc chuyển quân tập kết bộ đội Nam Bộ. Năm 1955, ông được đề bạt Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330 với quân hàm đại tá. Năm 1960, ông được cử đi học ở Học viện quân sự Nam Kinh (Trung Quốc).
Năm 1962 trở về nước, ông đã trải qua các chức vụ: Phó Tư lệnh Quân khu 3, Ủy viên thường vụ Liên Khu ủy III, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Quốc phòng kiêm Trưởng phòng chuyên trách công tác chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong giai đoạn này, có một sự kiện mà ít ai biết đến, khi ông đang chỉ huy việc đưa vũ khí xuống tàu không số để chở vào Nam, các chiến sĩ hải quân chuẩn bị nhổ neo, ông đã gỡ lấy khẩu súng ngắn kèm đạn dược trao cho một chiến sĩ và nói: “Cho tôi gởi về quê hương với tấm lòng nhớ thương tha thiết và xin được góp lửa với chiến trường.”
Đầu năm 1963, ông được trở về Nam, làm Trưởng ban Quân sự Khu 9, rồi Bộ Tư lệnh Khu 9. Năm 1969, ông được cử làm Phó Tư lệnh……
(Còn tiếp)



