Trung tướng Lê Thanh – Người chiến sĩ kiên cường của miền Đông Nam Bộ
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT - K13E.GDTH
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng ở miền Đông Nam Bộ, có những người trưởng thành từ chính mảnh đất quê hương, đi qua những năm tháng chiến tranh bằng sự gan dạ, bền bỉ và khả năng tổ chức chiến đấu. Trung tướng Lê Thanh là một trong những người như thế. Ông tên thật là Lê Thanh, sinh năm 1925, tại làng Phú Thọ Hòa, tổng Dương Hòa Thượng, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, nay thuộc khu vực phường Phú Thọ Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tại địa phương, sau đó nhập ngũ và trưởng thành từ lực lượng vũ trang Liên quận Gò Vấp – Hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa. Những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, người chiến sĩ trẻ Lê Thanh từng bước trưởng thành qua thực tiễn chiến đấu. Từ năm 1947 đến năm 1951, ông giữ cương vị Đại đội trưởng Chi đội 12, Trung đoàn 312. Trong thời gian này, ông tham gia xây dựng hệ thống địa đạo Phú Thọ Hòa dài gần 600 mét, nối từ Lộc Hòa đến các khu vực Phú Thạnh và Bình Đông, trở thành nơi ém quân, đứng chân của cán bộ và lực lượng cách mạng hoạt động ở vùng ven và nội thành. Ông cũng trực tiếp chỉ huy, tham gia nhiều trận đánh, trong đó có Chiến dịch Bến Cát năm 1950, góp phần cùng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ chống lại các hoạt động bình định của quân Pháp.
Sau khi Hiệp định Genève năm 1954 được ký kết, tình hình miền Nam bước sang một giai đoạn đặc biệt khó khăn. Trong khi một bộ phận lực lượng cách mạng tập kết ra miền Bắc, Lê Thanh được Đảng phân công ở lại miền Nam, tiếp tục hoạt động bí mật, đấu tranh đòi đối phương thi hành Hiệp định Genève, đồng thời xây dựng và bảo vệ cơ sở cách mạng. Đây là thời kỳ mà việc duy trì lực lượng, giữ vững căn cứ và bảo đảm đường dây liên lạc có ý nghĩa sống còn đối với phong trào cách mạng miền Nam. Từ năm 1956, khi Xứ ủy Nam Bộ chủ trương khôi phục căn cứ và xây dựng lực lượng vũ trang, Lê Thanh được giao phụ trách xây dựng căn cứ địa của Xứ ủy ở miền Đông, tập trung tại các khu vực Chiến khu Đ và Chiến khu Dương Minh Châu, đồng thời cùng các đồng chí trong Ban Quân sự Miền tổ chức lực lượng bảo vệ cơ quan lãnh đạo. Trong điều kiện địch liên tục mở các cuộc càn quét, phá rừng, truy tìm lực lượng cách mạng, ông nhiều lần trực tiếp tổ chức và chỉ huy lực lượng chống càn, góp phần bảo vệ an toàn căn cứ của cách mạng ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Ninh.
Tháng 6 năm 1958, Ban Quân sự miền Đông Nam Bộ được thành lập trực thuộc Xứ ủy Nam Bộ. Lê Thanh được chỉ định giữ chức Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng. Trong cương vị này, ông tham gia tổ chức và trực tiếp chỉ huy hướng chủ yếu trong trận Dầu Tiếng ngày 11 tháng 8 năm 1958. Đây là một trận đánh có ý nghĩa quan trọng đối với lực lượng vũ trang cách mạng miền Đông, bởi lần đầu tiên kể từ sau thời kỳ tập kết, lực lượng vũ trang cách mạng tiến công và làm chủ một căn cứ chi khu của đối phương. Thắng lợi Dầu Tiếng tạo tiếng vang trên chiến trường Đông Nam Bộ và góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ cũng như nhân dân vào khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang cách mạng.
Cuối năm 1959, Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở ra phương hướng mới cho cách mạng miền Nam. Ở miền Đông Nam Bộ, Xứ ủy Nam Bộ quyết định tiến công căn cứ Tua Hai nhằm tạo bước phát triển cho phong trào đấu tranh vũ trang. Với cương vị Phó Ban Quân sự Miền, Lê Thanh được giao chuẩn bị chiến trường, xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến và trực tiếp chỉ huy hướng Đông Nam – hướng chủ công của trận đánh. Rạng sáng 26 tháng 1 năm 1960, lực lượng cách mạng tiến công Tua Hai. Trận đánh giành thắng lợi, thu được một lượng lớn vũ khí, tạo điều kiện để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ở miền Đông Nam Bộ. Tua Hai sau đó được xem là một trong những trận đánh mở đầu cho phong trào “Đồng khởi vũ trang” ở miền Đông Nam Bộ.
Từ đây, cuộc chiến đấu ở miền Đông ngày càng phát triển. Tháng 7 năm 1961, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập Trung đoàn 1 chủ lực Miền, Lê Thanh được chỉ định làm Trung đoàn phó. Đến cuối năm 1962, Trung ương Cục quyết định thành lập Trung đoàn 180, ông được giao làm Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy. Trên cương vị mới, ông cùng Ban Chỉ huy trung đoàn vừa xây dựng lực lượng, tổ chức huấn luyện, bảo đảm hậu cần – kỹ thuật, vừa đưa đơn vị cơ động chiến đấu trong điều kiện địch liên tục mở các cuộc hành quân, càn quét. Lực lượng của trung đoàn còn có nhiệm vụ bảo vệ an toàn các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy và căn cứ của Trung ương Cục, Quân ủy Miền. Những năm tháng ấy tiếp tục tôi luyện bản lĩnh của người chỉ huy Lê Thanh: kiên định trong mục tiêu, quyết đoán trong chiến đấu nhưng luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ lực lượng và căn cứ cách mạng lên hàng đầu.
Sau ngày đất nước thống nhất, nhiệm vụ của người quân nhân cách mạng vẫn chưa kết thúc. Trong những năm chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia, Lê Thanh tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách. Năm 1979, tại thị xã Xiêm Riệp, Mặt trận 479 được thành lập, ông được chỉ định làm Chính ủy và được thăng quân hàm Thiếu tướng. Đầu năm 1980, ông được bổ nhiệm Phó Tư lệnh Quân khu 7, tham gia chỉ đạo nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và công tác bảo vệ biên giới của Quân khu. Tháng 7 năm 1987, ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng. Đến năm 1991, ông được thăng quân hàm Trung tướng. Năm 1995, ông nghỉ hưu. Năm 2006, Trung tướng Lê Thanh qua đời do tuổi cao, sức yếu. Ghi nhận những đóng góp của ông, Đảng và Nhà nước đã trao tặng nhiều phần thưởng cao quý; năm 2015, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cuộc đời Trung tướng Lê Thanh trải dài qua những giai đoạn quan trọng của lịch sử cách mạng: từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp ở Sài Gòn – Gia Định, những năm tháng gian khó giữ căn cứ và xây dựng lực lượng ở miền Đông Nam Bộ, đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và những năm tháng xây dựng, bảo vệ Tổ quốc sau ngày thống nhất. Điều làm nên dấu ấn của ông không chỉ nằm ở những chức vụ hay quân hàm, mà còn ở hàng chục năm trực tiếp gắn bó với chiến trường miền Đông, nơi từng được gọi là vùng đất “gian lao mà anh dũng”. Từ một người chiến sĩ tham gia cách mạng ở quê hương Phú Thọ Hòa năm 1945, Lê Thanh từng bước trở thành người chỉ huy trưởng thành qua chiến đấu, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang và bảo vệ những căn cứ cách mạng quan trọng của miền Đông Nam Bộ. Câu chuyện về ông vì thế cũng là câu chuyện về một thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã dành phần lớn cuộc đời mình cho chiến trường, âm thầm giữ đất, giữ căn cứ, giữ lực lượng và giữ vững niềm tin vào ngày đất nước thống nhất.


