Trung tướng Lê Thanh – Người chiến sĩ kiên cường của miền Đông Nam Bộ
Trung tướng Lê Thanh – người chỉ huy kiên cường của chiến trường miền Đông Nam Bộ. Từ những ngày đầu tham gia cách mạng, ông trưởng thành qua các chiến trường Gò Vấp – Hóc Môn, Chiến khu Đ, Tua Hai và Sài Gòn – Gia Định, trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Một cuộc đời gắn trọn với chiến đấu, đồng đội và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Có những người lính đi qua chiến tranh không chỉ bằng lòng dũng cảm, mà còn bằng sự bền bỉ, mưu trí và một ý chí sắt đá. Cuộc đời họ gắn với những căn cứ giữa rừng sâu, những con đường giao liên bí mật và những năm tháng mà mỗi ngày sống, chiến đấu đều là một lần thử thách. Trung tướng Lê Thanh, tên khai sinh Lê Văn Dọn, bí danh Tám Lê Thanh, là một người như thế. Ông sinh năm 1925 tại Phú Thọ Hòa, Gò Vấp, Gia Định, tham gia Cách mạng tháng Tám năm 1945 và trưởng thành từ phong trào cách mạng ở miền Nam.
Những ngày đầu của cuộc đời cách mạng đưa người thanh niên Lê Thanh đến với những trận chiến ở vùng đất Gò Vấp – Hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa. Từ một chiến sĩ, ông dần trở thành cán bộ chỉ huy. Trong những năm 1947–1951, ông giữ cương vị Đại đội trưởng Chi đội 12, Trung đoàn 312. Cũng trong thời gian ấy, ông tham gia xây dựng hệ thống địa đạo Phú Thọ Hòa, một căn cứ quan trọng giúp cán bộ, lực lượng kháng chiến có nơi đứng chân và hoạt động ngay giữa vùng ven Sài Gòn.
Nhưng điều làm nên dấu ấn của Lê Thanh không chỉ là những trận đánh.
Đó còn là khả năng tổ chức và xây dựng căn cứ giữa một vùng đất luôn bị đối phương truy lùng.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, khi nhiều lực lượng cách mạng miền Nam tập kết ra Bắc, Lê Thanh được phân công ở lại miền Nam. Ông tham gia tổ chức cơ sở, xây dựng và bảo vệ các tuyến giao liên của Trung ương Cục ở miền Đông Nam Bộ. Đến cuối những năm 1950, ông được giao phụ trách xây dựng căn cứ địa của Xứ ủy Nam Bộ ở Chiến khu Đ và Chiến khu Dương Minh Châu mở rộng, đồng thời tham gia tổ chức lực lượng bảo vệ các cơ quan lãnh đạo cách mạng.
Giữa rừng núi miền Đông, những căn cứ ấy trở thành nơi che chở cho cán bộ và lực lượng cách mạng. Để giữ được căn cứ, người lính phải vừa xây dựng lực lượng, vừa đối phó với những cuộc càn quét ngày càng khốc liệt.
Lê Thanh nhiều lần trực tiếp tổ chức và chỉ huy lực lượng chống càn, bảo vệ căn cứ.
Tháng 6 năm 1958, ông được chỉ định làm Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng Ban Quân sự miền Đông Nam Bộ. Không lâu sau, ông tham gia và trực tiếp chỉ huy hướng chủ yếu trong trận Dầu Tiếng ngày 11 tháng 8 năm 1958. Chiến thắng này tạo tiếng vang lớn ở miền Đông Nam Bộ, đánh dấu một bước phát triển quan trọng của lực lượng vũ trang cách mạng sau những năm tháng phải hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn.
Rồi một trận đánh khác đi vào lịch sử.
Đó là Tua Hai.
Ngày 26 tháng 1 năm 1960, trong cao trào Đồng khởi, lực lượng cách mạng tiến công căn cứ Tua Hai ở Tây Ninh. Khi ấy, Lê Thanh là Phó Ban Quân sự Miền, được giao trực tiếp chuẩn bị chiến trường, xây dựng kế hoạch và chỉ huy hướng chủ công. Trận đánh giành thắng lợi, tạo tiếng vang lớn và được xem là một trong những trận đánh mở đầu cho phong trào “Đồng khởi vũ trang” ở miền Đông Nam Bộ.
Từ những căn cứ giữa rừng sâu đến những trận đánh lớn, Lê Thanh ngày càng trưởng thành.
Năm 1961, Trung đoàn 1 chủ lực Miền được thành lập và ông được chỉ định làm Trung đoàn phó. Đến cuối năm 1962, khi Trung đoàn 180 được thành lập, ông giữ cương vị Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy. Trong những năm tiếp theo, đơn vị vừa xây dựng lực lượng, huấn luyện, bảo đảm hậu cần, vừa cơ động chiến đấu và bảo vệ an toàn các cơ quan lãnh đạo của Trung ương Cục và Quân ủy Miền.
Chiến tranh càng kéo dài, trách nhiệm trên vai người chỉ huy càng lớn.
Năm 1966, Lê Thanh trở về địa bàn Gò Vấp – Hóc Môn, giữ cương vị Chỉ huy trưởng Liên quân Gò Vấp – Hóc Môn và Tiểu đoàn 2 Gò Môn. Ông cùng cán bộ, chiến sĩ chuẩn bị chiến trường, tổ chức lực lượng và chỉ huy nhiều hoạt động chiến đấu trên địa bàn Sài Gòn – Gia Định.
Đến tháng 10 năm 1967, ông được giao làm Chính ủy Phân khu 1.
Rồi Xuân Mậu Thân năm 1968 đến.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, Lê Thanh cùng Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Phân khu 1 lãnh đạo, chỉ huy lực lượng tiến công trên hướng Hóc Môn và vùng ven Sài Gòn. Sau đó, ông tiếp tục cùng đơn vị tổ chức chống càn, giữ vững vùng căn cứ và phối hợp với phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.
Những năm tháng ấy là một cuộc thử thách liên tục.
Nhưng người chỉ huy không được phép mệt mỏi.
Bởi phía sau ông là đồng đội.
Là căn cứ.
Là những người dân đã che chở, nuôi dưỡng cách mạng.
Và là cả một phong trào đấu tranh đang cần những người giữ lửa.
Năm 1972, Lê Thanh được chỉ định làm Chính ủy Quân khu Sài Gòn – Gia Định. Trong Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, ông cùng Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo lực lượng chiến đấu trên nhiều địa bàn, góp phần tiêu hao lực lượng đối phương và mở rộng vùng kiểm soát của cách mạng. Sau Hiệp định Paris năm 1973, ông tiếp tục lãnh đạo lực lượng vừa chiến đấu, vừa hỗ trợ nhân dân đấu tranh chống những hành động phá hoại Hiệp định.


