Trung tướng Nguyễn Thới Bưng
Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, lần lượt giữ các chức vụ Phó Tiểu đội trưởng, Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Đại đội 1, Chi đội 12
Đến năm 1950, ông lần lượt giữ các chức vụ Tổ phó quân báo, Trung đoàn 312; Đại đội phó, Đại đội trưởng Đại đội 807. Đến năm 1954, lần lượt giữ các chức vụ: Huyện đội phó; Đại đội trưởng Đại đội độc lập Hóc Môn; Phó tiểu ban Tác huấn Tỉnh đội Gia Định, phụ trách lớp bổ túc cán bộ B và xã đội
Đến năm 1956, là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 5, Sư đoàn 330; Đảng ủy viên Tiểu đoàn; Trợ lý pháo binh, Phòng Tham mưu Sư đoàn 330
Đến năm 1957, được cử đi học bộ binh cao cấp ở Trung Quốc, sau đó về làm trở lại là Trợ lý Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu
Năm 1961, là Trợ lý tác chiến Lữ đoàn 338, rồi Trưởng ban Tác chiến Lữ đoàn
Năm 1963, ông vào chiến trường B2 (miền Nam), là Trung đoàn phó – Tham mưu trưởng, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5, Sư đoàn 5. Năm 1966 là Tham mưu phó Sư đoàn 5, rùi Tham mưu trưởng Sư đoàn 9. Đến năm 1967 là Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9
Năm 1972, ông là Trưởng phòng Tác chiến, Bộ chỉ huy Miền
Giai đoạn 1974 – 1975, ông được cử đi học lớp Bổ túc quân sự cao cấp
Năm 1975, ông là Phó Tư lệnh thành phố Sài Gòn - Gia Định, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Thành phố
Từ 1976 đến 1979, ông làm Tham mưu trưởng rồi Phó Tư lệnh Quân khu 7; Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu
Từ 1979 đến 1983, Phó Tư lệnh, Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 9
Từ 1983 đến 1986, Tư lệnh Quân khu 9; Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu
Từ 1987 đến 1989, làm Tư lệnh Quân khu 7
Năm 1989, được bổ nhiệm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Viẹt Nam
Năm 1992, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, phụ trách công tác đối ngoại
Năm 1997, nghỉ hưu
Phong quân hàm: Thiếu tướng (1983); Trung tướng (1988)
Ông qua đời ngày 22 tháng 01 năm 2014 tại Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 2026, được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.



