Trung tướng Nguyễn Văn Chia - Người chỉ huy của Đoàn Bình Giã
Đồng chí Nguyễn Văn Chia sinh ngày 14/5/1942 tại ấp Cây Trôm, xã Phước Hiệp, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh). Tuổi thơ nghèo khó và những trận đòn tra tấn của địch khi làm giao liên đã sớm hun đúc ý chí cách mạng trong ông. Năm 1961, ông nhập ngũ vào Đại đội 315, đơn vị pháo cối đầu tiên của chủ lực Miền, sau đó chiến đấu trong Trung đoàn 1 (Đoàn Bình Giã), Sư đoàn 9. Từ một chiến sĩ, ông trưởng thành qua nhiều cương vị chỉ huy, trực tiếp tham gia Chi

Những người từng sống ở vùng đất thép Củ Chi đều hiểu rằng, chiến tranh không bắt đầu bằng tiếng súng.
Mà bắt đầu từ những mất mát rất đời thường.
Với Nguyễn Văn Chia, đó là tuổi thơ thiếu vắng tình mẹ.
Mẹ mất khi ông mới năm tháng tuổi.
Ông lớn lên trong vòng tay bà nội rồi cùng cha bươn chải với ruộng đồng nghèo khó.
Mười mấy tuổi, ông đi làm thợ lắp ráp xe bò ở xã Tân An Hội.
Chính tại nơi ấy, những cán bộ cách mạng đã âm thầm giác ngộ cho cậu thanh niên hiền lành.
Ông được giao làm giao liên giữa hai xã Phước Hiệp và Tân An Hội.
Tháng 10 năm 1960, trong một chuyến làm nhiệm vụ, ông bị lính bảo an phục kích bắt giữ.
Chúng tra tấn dã man để khai thác cơ sở cách mạng.
Nhưng chàng trai mười tám tuổi vẫn không hé nửa lời.
Sau nhiều ngày không khai thác được gì, chúng buộc phải thả ông.
Rời nhà giam với đầy thương tích, ông chỉ có một suy nghĩ:
"Phải cầm súng."
Ngày 22 tháng 5 năm 1961, Nguyễn Văn Chia chính thức nhập ngũ.
Ông được biên chế vào Đại đội 315, đại đội pháo cối đầu tiên của chủ lực Miền.
Sau đó, ông chuyển về Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1 – đơn vị sau này được cả chiến trường biết đến với tên gọi Đoàn Bình Giã.
Những năm đầu chiến đấu là chuỗi ngày gian khổ.
Vũ khí thiếu.
Đạn dược ít.
Có những trận đánh, mỗi chiến sĩ chỉ được cấp vài băng đạn.
Ông thường động viên đồng đội:
"Đạn ít thì bắn cho trúng. Người lính thắng bằng bản lĩnh, không chỉ bằng súng."
Cuối năm 1964, chiến dịch Bình Giã mở màn.
Đây là lần đầu tiên bộ đội chủ lực miền Nam đối đầu trực diện với các đơn vị tổng dự bị tinh nhuệ của quân đội Sài Gòn.
Lúc ấy, Nguyễn Văn Chia là Chính trị viên phó Tiểu đoàn 1.
Dưới sự chỉ huy của Ban Chỉ huy Tiểu đoàn, đơn vị liên tiếp tiêu diệt Tiểu đoàn biệt động quân 33 và nhiều đơn vị cơ động của đối phương.
Chiến thắng Bình Giã đã chứng minh bộ đội chủ lực miền Nam hoàn toàn có thể đánh thắng những đơn vị mạnh nhất của địch.
Sau chiến dịch, ông được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba.
Chưa đầy nửa năm sau, ông tiếp tục bước vào Chiến dịch Đồng Xoài.
Trong trận đánh quyết định, trung đội hỏa lực do ông chỉ huy được tăng cường cho Đại đội 1, phục kích Tiểu đoàn 7 Dù – lực lượng tổng dự bị chiến lược của quân đội Sài Gòn.
Khi đội hình địch lọt vào trận địa, ông bình tĩnh phát lệnh nổ súng.
Trận đánh kết thúc với thắng lợi lớn.
Đơn vị tiêu diệt gọn một tiểu đoàn địch, bắt sống hơn ba mươi tên và thu toàn bộ vũ khí.
Sau chiến dịch, ông được tặng danh hiệu "Chiến sĩ Ấp Bắc" cùng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.
Năm 1968, ông cùng Tiểu đoàn 1 tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân.
Những trận đánh tại Đông Thạnh, Trường Quang Trung và vùng ven Sài Gòn diễn ra vô cùng ác liệt.
Địch phản kích nhiều đợt bằng xe tăng và trực thăng.
Nhưng Đại đội 1 vẫn kiên cường giữ trận địa.
Tổng kết hai đợt tiến công, đơn vị loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên địch, bắn cháy nhiều xe tăng và bắn rơi trực thăng.
Những năm sau đó, ông liên tục được giao những trọng trách lớn hơn.
Từ Chính trị viên Tiểu đoàn, Tham mưu phó, Trung đoàn phó, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1.
Ở cương vị nào, ông cũng giữ nguyên phong cách của một người chỉ huy luôn có mặt ở nơi ác liệt nhất.
Mùa xuân 1975, Trung đoàn 1 nhận nhiệm vụ tiến công theo hướng Tây Nam Sài Gòn.
Đêm 28 tháng 4, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Chia, đơn vị vượt sông Vàm Cỏ Đông, tiêu diệt các cứ điểm địch tại Giồng Dinh và Mỹ Hạnh, mở đường cho Sư đoàn 9 thọc sâu vào nội đô.
Sáng 30 tháng 4, ông chỉ huy trung đoàn vừa tiến công vừa kêu gọi đối phương đầu hàng.
Càng vào gần trung tâm Sài Gòn, hàng ngũ quân địch càng tan rã.
Nhiều đơn vị buông súng.
Nhiều binh sĩ tự nguyện đầu hàng.
Ông nhớ mãi hình ảnh lá cờ giải phóng tung bay trong ngày đất nước thống nhất.
Sau hòa bình, ông tiếp tục chỉ huy Sư đoàn 9, chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.
Những năm tháng ấy không kém phần gian khổ.
Ông từng nói với cán bộ dưới quyền:
"Người lính không chọn nơi chiến đấu. Tổ quốc cần ở đâu thì mình có mặt ở đó."
Trở về nước, ông lần lượt giữ các cương vị Phó Tham mưu trưởng Quân đoàn 4, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tây Ninh, Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 7, rồi Tư lệnh Quân khu 7.
Dù trở thành vị tướng mang quân hàm Trung tướng, ông vẫn giữ lối sống giản dị của người lính Củ Chi năm nào.
Điều khiến ông trăn trở nhất không phải những chiến công của bản thân.
Mà là những đồng đội đã mãi mãi nằm lại trên các chiến trường Bình Giã, Đồng Xoài, An Lộc và Campuchia.
Trước khi qua đời năm 2010, ông vẫn ấp ủ hoàn thành một cuốn hồi ký để kể lại cuộc đời người lính.
Dù cuốn hồi ký ấy chưa kịp hoàn thành, nhưng chính cuộc đời của ông đã trở thành một bản anh hùng ca về lòng trung thành với Tổ quốc và nghĩa tình với đồng đội.


