Trung tướng Nguyễn Văn Thạnh (Mười Thi): Trọn đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng và quân đội

Nguyễn Văn Thạnh, tên thường gọi Mười Thi, sinh năm 1923 tại làng Bình Đại, quận Bình Đại, tỉnh Mỹ Tho (nay là thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre). Trú quán xã Bình Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Tháng 1-1945, ông tham gia lực lượng Thanh niên tiền phong. Tháng 8-1945, ông chỉ huy lực lượng Thanh niên tiền phong ở xã tham gia giành chính quyền tại huyện Bình Đại. Tháng 1-1946, ông hoạt động phong trào thanh niên trong huyện. Năm 1947, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Năm 1948, ông gia nhập bộ đội, học Trường Dân quân Nam Bộ; sau đó, về phụ trách dân quân huyện An Hóa, tỉnh Bến Tre. Năm 1949, ông là Chính trị viên Xã đội Bình Đại , Bí thư Chi bộ xã Bình Đại, huyện Bình Đại.
Sau khi Hiệp định Genève được ký kết (7-1954), ông được chỉ định ở lại miền Nam hoạt động, được đề bạt vào Huyện ủy huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Từ năm 1958 đến năm 1960, ông giữ chức vụ Bí thư Huyện ủy Bình Đại, lãnh đạo cuộc “đồng khởi” ở huyện Bình Đại giành được thắng lợi to lớn. Năm 1961, ông là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Bến Tre. Năm 1964, ông được bầu làm Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, phụ trách Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Bến Tre.
Từ năm 1965 đến tháng 3-1968, ông là Chính trị viên Tỉnh đội Bến Tre, tham gia tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cấp bậc Trung đoàn bậc phó. Từ tháng 4-1968 đến tháng 6-1969, ông được điều động về Quân khu 8, làm Phó chủ nhiệm Chính trị Quân khu, cấp bậc Trung đoàn bậc trưởng. Từ tháng 7-1969 đến tháng 6-1972, ông được đề bạt Quân khu ủy viên Quân khu 8, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 8. Từ tháng 7-1972 đến tháng 1-1975, ông là Phó Chính ủy Quân khu 8 kiêm Chủ nhiệm Chính trị, cấp bậc Sư đoàn bậc phó. Tháng 2-1975, ông là Phó Chính ủy Quân khu 8 kiêm Chính ủy Sư đoàn 8, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, cùng với Bộ Tư lệnh sư đoàn 8 chỉ huy sư đoàn tiến chiếm, giải phóng căn cứ Đồng Tâm của sư đoàn 7 quân đội Sài Gòn ngày 30-4-1975, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Năm 1976, ông được bầu làm Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tiền Giang, Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang, đại biểu Quốc hội khóa VI đơn vị tỉnh Tiền Giang. Năm 1978, ông là Quân khu ủy viên Quân khu 9, Phó Chính ủy Quân khu 9. Từ tháng 5-1979 đến tháng 7-1980, ông giữ chức vụ Phó Tư lệnh về Chính trị Mặt trận 979/Quân khu 9. Năm 1980, ông là Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 9. Năm 1983, ông là Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9. Năm 1984, do có nhiều công trạng trong quân đội, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng, là Bí thư Đảng ủy Quân khu, Phó tư lệnh Quân khu 9. Năm 1988, ông được thăng quân hàm Trung tướng.
Năm 1989, ông được Đảng và Quân đội cho nghỉ hưu. Năm 2019, do tuổi cao sức yếu, ông qua đời. Nhận xét về ông, ông Nguyễn Văn Danh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Tiền Giang, trong Điếu văn đọc tại buổi lễ truy điệu ông, đã nêu rõ: “Trọn cả cuộc đời, suốt 57 năm công tác, trải qua 2 cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc, đồng chí Trung tướng Nguyễn Văn Thạnh luôn giữ vững quan điểm, lập trường của người chiến sĩ Cộng sản, vượt qua nhiều gian khổ, ác liệt của chiến tranh. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, đồng chí cũng tỏ rõ quyết tâm một lòng một dạ đi theo Đảng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, hoàn thành mọi nhiệm vụ của Đảng phân công. Trong từng vị trí, trách nhiệm được giao, đồng chí luôn thể hiện sự kiên định vững vàng, chấp hành và thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tận tụy với công việc, phát huy tốt tinh thần dân chủ tập thể, tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành...”.
Do có nhiều công lao đóng góp đối với sự nghiệp cách mạng, ông đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng; Huân chương Độc lập hạng Nhì; Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Nhì; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.
Nguồn: Tiền Giang nhân vật chí (2020)



