trung tướng Phạm Kiệt – Người chỉ huy Đội du kích Ba Tơ và cán bộ quân sự, biên phòng tiêu biểu
Phạm Kiệt tên thật là Phạm Quang Khanh, sinh ngày 10-1-1910 tại làng An Phú, nay thuộc xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Từ khi còn trẻ, ông đã tham gia các hoạt động yêu nước và sớm tiếp cận phong trào cách mạng. Tháng 1-1931, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Do hoạt động tích cực trong Công hội đỏ và Xích vệ đỏ, tháng 6-1931 ông bị chính quyền thực dân bắt và đưa đến Nhà tù Buôn Ma Thuột. Trong thời gian bị giam giữ, ông tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng trong tù và có vai trò trong việc tổ chức vượt ngục cho một số cán bộ cách mạng. Sau cuộc đảo chính của Nhật tại Đông Dương tháng 3-1945, tình hình cách mạng ở Quảng Ngãi chuyển biến nhanh chóng. Đêm 10 rạng sáng 11-3-1945, cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ nổ ra. Phạm Kiệt cùng các cán bộ cách mạng tại địa phương tham gia chỉ huy cuộc khởi nghĩa, tổ chức lực lượng tiến công các vị trí của chính quyền địch tại Ba Tơ. Sau khi khởi nghĩa giành thắng lợi, ông được Tỉnh ủy Quảng Ngãi giao giữ chức Chỉ huy trưởng Đội du kích Ba Tơ. Ngày 13-3-1945, Đội du kích Ba Tơ chính thức ra mắt trước nhân dân; ngày 14-3, các chiến sĩ làm lễ tuyên thệ tại hang Én – suối Loa. Đội du kích Ba Tơ về sau được xác định là một trong những đơn vị tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau Cách mạng tháng Tám, Phạm Kiệt tiếp tục đảm nhiệm các nhiệm vụ quân sự ở khu vực Nam Trung Bộ. Cuối tháng 9-1945, ông được giao làm Chỉ huy trưởng Ủy ban Quân chính Nam phần Trung Bộ. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông tiếp tục hoạt động trên các chiến trường miền Trung và từng bước trưởng thành qua các cương vị chỉ huy. Quá trình công tác trong thời kỳ này giúp ông tích lũy kinh nghiệm tổ chức lực lượng, xây dựng căn cứ và chỉ huy chiến đấu trong điều kiện chiến trường phân tán, khó khăn. Trong kháng chiến chống Pháp, Phạm Kiệt tham gia nhiều nhiệm vụ quan trọng của quân đội. Ông được biết đến là một cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn và có quan hệ công tác gần gũi với nhiều lãnh đạo quân sự cấp cao. Tron
Phạm Kiệt tên thật là Phạm Quang Khanh, sinh ngày 10-1-1910 tại làng An Phú, nay thuộc xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Từ khi còn trẻ, ông đã tham gia các hoạt động yêu nước và sớm tiếp cận phong trào cách mạng. Tháng 1-1931, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Do hoạt động tích cực trong Công hội đỏ và Xích vệ đỏ, tháng 6-1931 ông bị chính quyền thực dân bắt và đưa đến Nhà tù Buôn Ma Thuột. Trong thời gian bị giam giữ, ông tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng trong tù và có vai trò trong việc tổ chức vượt ngục cho một số cán bộ cách mạng.
Sau cuộc đảo chính của Nhật tại Đông Dương tháng 3-1945, tình hình cách mạng ở Quảng Ngãi chuyển biến nhanh chóng. Đêm 10 rạng sáng 11-3-1945, cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ nổ ra. Phạm Kiệt cùng các cán bộ cách mạng tại địa phương tham gia chỉ huy cuộc khởi nghĩa, tổ chức lực lượng tiến công các vị trí của chính quyền địch tại Ba Tơ. Sau khi khởi nghĩa giành thắng lợi, ông được Tỉnh ủy Quảng Ngãi giao giữ chức Chỉ huy trưởng Đội du kích Ba Tơ. Ngày 13-3-1945, Đội du kích Ba Tơ chính thức ra mắt trước nhân dân; ngày 14-3, các chiến sĩ làm lễ tuyên thệ tại hang Én – suối Loa. Đội du kích Ba Tơ về sau được xác định là một trong những đơn vị tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau Cách mạng tháng Tám, Phạm Kiệt tiếp tục đảm nhiệm các nhiệm vụ quân sự ở khu vực Nam Trung Bộ. Cuối tháng 9-1945, ông được giao làm Chỉ huy trưởng Ủy ban Quân chính Nam phần Trung Bộ. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông tiếp tục hoạt động trên các chiến trường miền Trung và từng bước trưởng thành qua các cương vị chỉ huy. Quá trình công tác trong thời kỳ này giúp ông tích lũy kinh nghiệm tổ chức lực lượng, xây dựng căn cứ và chỉ huy chiến đấu trong điều kiện chiến trường phân tán, khó khăn.
Trong kháng chiến chống Pháp, Phạm Kiệt tham gia nhiều nhiệm vụ quan trọng của quân đội. Ông được biết đến là một cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn và có quan hệ công tác gần gũi với nhiều lãnh đạo quân sự cấp cao. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ông tham gia công tác chỉ huy và được Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận, tặng một số kỷ vật vì những thành tích trong chiến dịch. Các tư liệu của Báo Quân đội nhân dân cũng ghi nhận mối quan hệ công tác giữa Phạm Kiệt với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trong quá trình hoạt động cách mạng.
Sau năm 1954, Phạm Kiệt tiếp tục đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ trong xây dựng lực lượng vũ trang. Cuối thập niên 1950, ông được giao những công việc liên quan đến bảo vệ miền Bắc và xây dựng lực lượng Công an nhân dân vũ trang. Đây là lực lượng có nhiệm vụ bảo vệ biên giới, vùng biển và các mục tiêu quan trọng, đồng thời tham gia đấu tranh chống hoạt động gián điệp, biệt kích. Trong thời kỳ chống Mỹ, ông trực tiếp quan tâm đến công tác xây dựng lực lượng, huấn luyện cán bộ, bảo đảm đời sống bộ đội và tổ chức bảo vệ biên giới.
Một đặc điểm thường được các đồng chí, đồng đội và những tài liệu viết về Phạm Kiệt nhắc đến là phong cách làm việc thẳng thắn, sâu sát và coi trọng thực tế. Ông thường trực tiếp kiểm tra các đơn vị, quan tâm đến điều kiện sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ và chú trọng công tác đoàn kết với đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới. Những tư liệu của Báo Quân đội nhân dân cho biết ông đặc biệt quan tâm đến đời sống chiến sĩ tại các đồn biên phòng và việc xây dựng quan hệ với nhân dân vùng biên giới.
Trong quá trình công tác, Phạm Kiệt được phong quân hàm Trung tướng và đảm nhiệm các nhiệm vụ quan trọng trong lực lượng vũ trang. Ông có thời gian gắn bó với công tác bảo vệ biên giới và xây dựng lực lượng Công an nhân dân vũ trang, góp phần đặt nền móng cho sự phát triển của lực lượng Bộ đội Biên phòng sau này. Các tài liệu quân sự đánh giá quá trình hoạt động của ông trải rộng từ xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trước năm 1945, chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến đến nhiệm vụ bảo vệ biên giới và xây dựng lực lượng sau chiến tranh.
Trung tướng Phạm Kiệt qua đời sau một cuộc đời hoạt động cách mạng kéo dài nhiều thập niên. Tên tuổi ông gắn liền với Khởi nghĩa Ba Tơ, Đội du kích Ba Tơ và quá trình xây dựng lực lượng vũ trang, biên phòng của Việt Nam. Nhiều địa danh, tài liệu và hoạt động tưởng niệm tại Quảng Ngãi hiện vẫn ghi nhận vai trò của ông trong cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ và lịch sử hình thành lực lượng vũ trang cách mạng ở địa phương



