Trung tướng Phạm Tuân: Người hai lần ghi danh vào lịch sử hàng không và vũ trụ toàn cầu
Hành trình phi thường của người thợ máy nhỏ con vươn mình thành phi công
tiêm kích
Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Tuân sinh năm 1947 tại xã
Quốc Tuấn, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Nhập ngũ năm 1965, ban đầu đồng chí
được cử sang Liên Xô đào tạo chuyên ngành thợ máy sửa chữa máy bay do không đạt
tiêu chuẩn thể hình đối với phi công chiến đấu. Tuy nhiên, bằng nghị lực rèn luyện thể
chất bền bỉ cùng tư chất thông minh, đồng chí đã vượt qua các kỳ kiểm tra sát hạch
nghiêm ngặt để chuyển loại sang học phi công quân sự, tốt nghiệp xuất sắc và trở về
nước tham gia chiến đấu bảo vệ bầu trời miền Bắc từ năm 1968 trong đội hình Trung
đoàn Không quân 921.
Đêm công kích chấn động
Chiến công lẫy lừng nhất của phi công Phạm Tuân gắn liền với chiến dịch 12 ngày đêm
lịch sử "Điện Biên Phủ trên không" vào tháng 12 năm 1972. Đêm ngày 27 tháng 12
năm 1972, đồng chí nhận lệnh điều khiển tiêm kích MiG-21 mang số hiệu 5121 cất
cánh từ sân bay dã chiến Yên Bái để ngăn chặn biên đội máy bay ném bom chiến lược
B-52 của Mỹ. Để vô hiệu hóa hệ thống nhiễu radar dày đặc và lực lượng tiêm kích F-4
yểm trợ của địch, đồng chí đã dũng cảm thực hiện chiến thuật giữ bí mật tuyệt đối, tắt
hệ thống radar dò tìm và thiết bị liên lạc để định vị mục tiêu hoàn toàn bằng mắt
thường. Khi áp sát chiếc B-52 ở khoảng cách tối ưu 3km, đồng chí đã bình tĩnh phóng
hai quả tên lửa không đối không, bắn rơi tại chỗ "siêu pháo đài bay" của Mỹ và điều
khiển máy bay hạ cánh an toàn, trở thành phi công đầu tiên bắn hạ B-52 trong một trận
không chiến.
Từ đỉnh cao vũ trụ đến khát vọng truyền lửa và đánh thức bản lĩnh tuổi trẻ Việt
Nam
Bên cạnh chiến công lịch sử trên, vào năm 1980, đồng chí Phạm Tuân tiếp tục ghi dấu
mốc lớn cho nền khoa học và lịch sử nước nhà khi trở thành người Việt Nam và người
châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ trong chương trình hợp tác quốc tế Intercosmos cùng
nhà du hành vũ trụ Liên Xô Viktor Gorbatko. Với những cống hiến vĩ đại, đồng chí là
cá nhân duy nhất vinh dự nhận cả ba danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân, Anh hùng Lao động và Anh hùng Liên Xô. Sau khi nghỉ hưu năm 2008 với
quân hàm Trung tướng, đồng chí vẫn tích cực đóng góp trí tuệ cho công tác giáo dục
truyền thống cách mạng, là tấm gương sáng ngời về bản lĩnh, ý chí vươn lên và tinh
thần sáng tạo không ngừng cho thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo.



