Trung tướng Phạm Tuân (sinh năm 1947)
Một trong những phi công chiến đấu huyền thoại của Không quân Nhân dân Việt Nam. Ông là người đầu tiên bắn rơi siêu máy bay ném bom B-52 của Mỹ trên không trung và trở thành người Việt Nam cũng như người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ.
Sinh ngày 14 tháng 2 năm 1947 tại Xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên). Trong một gia đình nông dân nghèo vùng đồng bằng Bắc Bộ. Năm 1965, ông nhập ngũ vào Quân đội Nhân dân Việt Nam ban đầu ở ngành thợ máy, nhưng nhờ có sức khỏe xuất sắc và tư duy nhạy bén, ông được tuyển chọn đào tạo phi công chiến đấu tại Liên Xô.
Tháng 12 năm 1972, Mỹ mở chiến dịch Linebacker II, dùng 'pháo đài bay' B-52 rải thảm bom tàn phá Hà Nội, Hải Phòng nhằm hủy diệt miền Bắc Việt Nam.
Đêm ngày 27 tháng 12 năm 1972, Thượng úy Phạm Tuân lái chiếc tiêm kích MiG-21 cất cánh từ sân bay dã chiến Yên Bái trong điều kiện cực kỳ ngặt nghèo, tắt hết đèn tín hiệu và radar để tránh bị tiêm kích F-4 của Mỹ phát hiện.
Bằng sự dũng cảm và tài thao lược xuất sắc, ông vượt qua mọi hàng rào bảo vệ dày đặc của không quân Mỹ, áp sát chiếc B-52. Ở cự ly tối ưu, ông phóng hai quả tên lửa đối không tiêu diệt gọn chiếc siêu máy bay ném bom chiến lược này rồi hạ cánh an toàn. Đây là chiếc B-52 đầu tiên và duy nhất bị bắn rơi bởi một phi công tiêm kích trong lịch sử chiến tranh.
Ngày 23 tháng 7 năm 1980, Đại úy Phạm Tuân cùng nhà du hành vũ trụ người Liên Xô Viktor Gorbatko cất cánh từ sân bay vũ trụ Baikonur trên tàu Liên hợp 37 (Soyuz 37) vào không gian.
Ông đã làm việc gần 8 ngày trên trạm không gian Salyut 6, thực hiện tổng cộng 142 vòng quanh Trái Đất, tiến hành nhiều thí nghiệm khoa học quan trọng về viễn thám Trái Đất, sinh học vũ trụ và khí tượng thủy văn, mang lại niềm tự hào vô bờ bến cho dân tộc Việt Nam.
Ông là người duy nhất của Việt Nam được phong tặng đồng thời ba danh hiệu Anh hùng cao quý nhất: Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam (1973), Anh hùng Lao động Việt Nam (1980) và Anh hùng Liên bang Xô Viết kèm Huân chương Lênin (1980).
Sau khi về nước, ông tiếp tục cống hiến cho quân đội, giữ các chức vụ quan trọng như Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân, Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và được thăng quân hàm Trung tướng vào năm 2002.



