Trung tướng Phạm Tuân với cuộc sống đời thường.
“Vợ tôi yêu và lấy một người lính không quân anh hùng liệu có phải đối mặt với những áp lực gì không ư?”. Tướng Tuân hỏi lại tôi rồi nói tiếp: “Có đấy! Tuy nhiên, thời đó truyền thông không phát triển như bây giờ nên chẳng có chuyện ai đó “nổi như cồn” như cách nói hiện nay đâu. Sau cưới hơn một một năm thì vợ sinh con đầu lòng. Lúc con gái còn đỏ hỏn thì tôi đã phải sang Liên Xô học. Trước ngày đi thì con bị thủy đậu, mụn nhọt mọc khắp người, đến mức cháu không ngủ được. Khi đó chân đi nhưng lòng đầy ưu tư lo lắng, cũng may có gia đình ông chú vợ nên tôi cũng vững tâm cất bước. Trong thời gian nuôi con nhỏ một mình, vợ tôi đều phải tự thân bươn chải. Học xong văn hóa, năm 1978, vợ tôi lại phải gửi con cho dì để vào Sài Gòn học tiếp. Năm 1979, xảy ra chiến tranh biên giới, dì lại gửi con gái tôi lên tàu vào Nam với mẹ. Cũng trong năm đó, phía Liên Xô đề nghị tôi đưa vợ con sang ít ngày, thế là cả nhà có dịp đoàn tụ. Đó cũng là lần đầu tiên con gái tôi sinh nhật có đủ mặt bố mẹ”.
Đến năm 1981, vợ và con Phạm Tuân lại khăn gói đưa nhau xuống Thái Bình học y khoa. Cũng may các anh tỉnh đội Thái Bình cho mượn một căn phòng để hai mẹ con có chỗ tá túc trong thời gian học. Một mình nuôi con, bôn ba trong Nam, ngoài Bắc, ra tận nước ngoài, có lẽ không gì diễn tả nổi sự cố gắng mà hai mẹ con đã cùng nhau vượt qua trong những tháng năm đó. “Mãi đến sau này, sự thiệt thòi vẫn đeo đẳng. Khi vợ xếp hàng nhận đồ phân phối thì ai cũng ì xèo rằng vợ phi công thì thiếu gì. Thế là vợ lại được phen tủi thân vì nhà phi công cũng đâu khá hơn gì hàng triệu người dân thời đó”, Tướng Tuân bùi ngùi.
Kể về cô con gái cả Phạm Thu Hằng, ông nói ngày sinh Hằng cũng là kỉ niệm khó quên. Năm 1976, ba phi công gồm Thiếu tá Phạm Tuân, Trung tá Vũ Ngọc Đỉnh, và Thiếu tá Đỗ Văn Lanh từ Đa Phúc về Hà Nội để chụp ảnh hồ sơ. Chụp xong cả ba rủ nhau ghé qua thăm nhà Phạm Tuân. Cả ba về tới nhà thì cửa khóa, vội sang hỏi hàng xóm thì được biết “cô Tiến đã khăn gói lên xích lô đi từ sáng”. Đoán chắc là vợ đi sinh, Phạm Tuân cùng hai người bạn ghé qua chợ Đồng Xuân mua một bó hoa to xông thẳng vào viện. Vui mừng hăm hở nhưng người bố trẻ chỉ được ngắm con đầu lòng trong chốc lát rồi lại tiếp tục cùng anh em lên đường. Sự trùng hợp ngẫu nhiên của lần trở về Hà Nội vào đúng ngày sinh con gái đầu lòng lại một lần nữa được ông nhắc đến với hai từ “may mắn”.
Trở về với thực tại, ông nói những ngày vất vả đã lùi xa. Con gái đầu Phạm Thu Hằng tốt nghiệp ngành tài chính có công việc ổn định và đã yên bề gia thất tại TP HCM. Con trai thứ cũng tốt nghiệp ngành tài chính tại Anh Quốc, hiện đang làm việc cho một công ty tư nhân. Giờ ông về hưu, trồng lan, nuôi chim, đánh bóng bàn, từng ấy việc cũng ngốn hết quỹ thời gian từ sáng đến tối. Những ngày rảnh rang, hai vợ chồng lại du hành thăm bạn bè cũ.
Chuyện giờ tướng Tuân mới kể “Tôi có phải là người được chọn đâu. Tôi là người may mắn. Bắt đầu từ việc “trượt” thợ máy lên thành phi công, bắn rơi máy bay B52 rồi bay vào vũ trụ với tấm vé… “vớt”. Năm 1965 tôi vào binh chủng Không quân, sau đó được sang Liên Xô học. Lúc này tôi chỉ là một anh thợ máy không quân. Sau nhiều lần sàng lọc, các phi công không đủ sức khỏe lần lượt được thay thế. Thợ máy chính là nguồn bổ sung nhân lực đầu tiên và tôi đã được lựa chọn. Tại trường phi công quân sự Liên Xô, tôi được đào tạo cơ bản và trở thành phi công tiêm kích bay đêm bằng máy bay MIG 17. Sau này về nước tôi lại được chọn sang đôi bay MIG 21. Nguồn kiến thức để “bổ túc” cho tân binh MIG 21 chỉ vỏn vẹn là những cuốn sổ người lái máy bay của các phi công đi trước. Đây cũng có lẽ là những khóa học với loại giáo trình “đặc biệt” của Không quân. Khó khăn là vậy nhưng tôi đã làm tốt.
“Chuyến bay lịch sử đêm 18-12-1972 đã nói lên tất cả và cũng chính lần đó “vị thần” may mắn lại mỉm cười với tôi. Sau khi chặn tốp B52 đầu tiên vào Hà Nội, tôi quần nhau với nhiều tốp máy bay F4 đến khi chiếc MIG 21 hết nhiên liệu buộc phải hạ cánh. Đài chỉ huy sân bay Đa Phúc đã bị trúng đạn, toàn sân bay chìm vào bóng đêm. Không đèn chiếu, đường băng chi chít hố bom nhưng tôi vẫn quyết hạ cánh. Khi máy bay vừa tiếp đất thì gặp phải một hố bom, ngay lập tức tôi bung dù giảm tốc. Máy bay trượt trên sân bằng cánh rồi quay 180 độ mới dừng hẳn. Bình thường cánh, bụng máy bay chạm đất thường gây cháy nổ, ấy vậy mà chiếc MIG 21 đụng hẳn vào hố bom, trượt liểng xiểng trên đường băng bằng bụng và cánh lại bình an vô sự”.
“Năm 1977, tôi được cử đi học lại Học viện Không quân Gagarin. Năm 1979, mặc dù có vấn đề về tim nhưng tôi vẫn được chọn vào đội bay quốc tế cho… đủ quân số. Khi trải qua những thử nghiệm y khoa khắt khe, tôi lại trở thành ứng cử viên phi công số một cho biên đội bay vào vũ trụ. Lịch sử về những phi hành gia đầu tiên đặt chân lên vũ trụ ghi tên tôi từ đó.
May mắn, cụm từ có lẽ đã gắn bó với tôi từ lúc đặt chân vào quân ngũ cho tới ngày về hưu. Nhưng chỉ may mắn thôi chưa đủ. Cơ hội đều dành cho tất cả mọi người. Tôi tự hào vì chưa bao giờ phải “bon chen” để có được cơ hội. Tất cả đều đến với tôi một cách tự nhiên. Cái riêng ở tôi có lẽ chính là sự bản lĩnh, biết nắm bắt, tận dụng, khai thác tối đa những cơ hội mà số phận dành cho mình và biến nó thành những chiến tích lịch sử.
“Khi bay vào vũ trụ, tất cả tâm lực, trí lực của phi hành đoàn tập trung vào việc điều khiển con tàu nhằm hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Tuy vậy, có những lúc hình ảnh rrái đất thân yêu lại hiện lên trong tâm trí tôi. Con người khi ở trên vũ trụ như có một góc nhìn khác, không còn ranh giới địa lý, sắc tộc, màu da… Lúc đứng trên mặt đất, người ta hướng đến gia đình, còn khi ở trong vũ trụ bao la, người ta gửi gắm niềm thương, nỗi nhớ về trái đất – nơi có sông, có núi, có Tổ quốc, có đồng loại, có những ngôi nhà bé nhỏ mà người thân thương của ta đang trú ngụ…”.



