Cựu chiến binh

Trung tướng Vương Thừa Vũ — Người con ưu tú của Thủ đô, vị tướng tài ba Trí - Dũng - Nhân - Tín - Liêm - Trung

Lê Văn Quản

TP. Hồ Chí Minh12/08/2026phường Thủy Nguyên (phường Thủy Nguyên)26 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thân thế và cơ duyên đến với con đường cách mạng

Trung tướng Vương Thừa Vũ (tên thật là Nguyễn Văn Đồi) sinh năm 1910 tại làng Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội (trước đây thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông). Thuở nhỏ, ông theo cha sang Vân Nam, Trung Quốc sinh sống và lớn lên làm thợ hỏa xa tại nhà máy xe lửa Vân Nam. Khi quân Nhật xâm chiếm Mãn Châu, ông đăng lính vào quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng và được cử vào học tại Trường Quân sự Hoàng Phố năm 1937. Tại đây, ông đã có những cuộc tiếp xúc đầu tiên và dần có cảm tình với những người Cộng sản Việt Nam như Nguyễn Ái Quốc, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn.

Năm 1940, trước cuộc thanh trừng của Trung Hoa Quốc dân đảng đối với những người Cộng sản, ông quyết định rời bỏ cuộc sống ổn định ở xứ người cùng vợ con trốn về nước hoạt động cách mạng. Năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt giam, đến năm 1942 bị đày tại trại giam Bá Vân (Thái Nguyên). Dù chịu đòn roi tra tấn dã man của kẻ thù, ông vẫn kiên cường giữ vững chí khí chiến đấu, tham gia công tác binh vận và bí mật huấn luyện quân sự ngay trong nhà tù. Ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1943.

Năm 1945, khi đang bị giam tại Nghĩa Lộ (Yên Bái), lợi dụng sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3, ông cùng các bạn tù đã phá ngục trốn thoát. Trên đường vượt ngục, ông bị lạc vào một bản người dân tộc thiểu số. Do nghi ngờ ông là tay chân của Pháp, dân bản định mang ông ra xử bắn. Nhờ biết nói tiếng dân tộc và sự nhanh trí, khi được hỏi họ gì, ông đã buột miệng trả lời mình họ Vương (do nghe dân bản gọi nhau như thế). Dân bản thấy vậy liền cởi trói, giúp đỡ và nuôi giấu ông một thời gian. Từ đó, ông chính thức lấy tên là Vương Thừa Vũ làm tên hoạt động cách mạng. Sau khi rời bản, ông về Bắc Ninh và Hòa Bình gây dựng cơ sở cách mạng, huấn luyện quân sự ở Chiến khu II.

Sự nghiệp quân sự và những chiến công lẫy lừng

1. Vị Tư lệnh kiệt xuất bảo vệ Hà Nội cuối năm 1946

Sau Cách mạng tháng Tám, ông được giao trọng trách tiếp quản và chỉ huy lực lượng Bảo an binh Hà Nội. Khi thực dân Pháp gây hấn tại Thủ đô, ông được bổ nhiệm làm Khu trưởng Khu XI, sau đó là Tư lệnh Mặt trận Hà Nội.

Để chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, ông đề xướng thế trận độc đáo "trong đánh, ngoài vây" cùng chiến thuật "trùng độc chiến" (hay còn gọi là "cài then cửa") và "hóa chỉnh vi linh". Chiến thuật này cho phép quân dân Hà Nội tho ẩn tho hiện trong từng căn nhà, góc phố cổ để tiêu hao sinh lực địch. Nhờ mưu lược tài tình của Tư lệnh Vương Thừa Vũ, lực lượng vũ trang non trẻ của ta đã cầm chân thành công đội quân chính quy tinh nhuệ khoảng 6.500 binh lính Pháp trong nội đô suốt 60 ngày đêm khói lửa (gấp đôi thời gian dự kiến), tạo điều kiện cho cơ quan đầu não rút lui an toàn và cả nước chủ động chuẩn bị kháng chiến trường kỳ.

2. Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 308 và Chiến dịch Điện Biên Phủ

Sau khi rút lui bảo toàn lực lượng khỏi Hà Nội, ông giữ chức Khu bộ phó Khu IV rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình Trị Thiên và được phong quân hàm Đại tá vào năm 1948. Ngày 28/8/1949, khi Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên Phong) được thành lập tại Thái Nguyên, ông được bổ nhiệm làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên.

Dưới sự chỉ huy của ông, Đại đoàn 308 đã trực tiếp tham gia và lập nhiều chiến công vang dội trong hàng loạt chiến dịch lớn: Sông Lô, Đường số 4, Biên giới (1950), Trung du, Đông Bắc, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào và đặc biệt là trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ (1954). Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 28/9/1954, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng.

3. Tiếp quản Thủ đô ngày 10/10/1954

Tháng 10/1954, Thiếu tướng Vương Thừa Vũ giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội. Sáng ngày 10/10/1954, ông trực tiếp chỉ huy Đại đoàn 308 tiến vào giải phóng và tiếp quản Thủ đô trong rừng cờ hoa chào đón của người dân. Chiều cùng ngày, ông cùng bác sĩ Trần Duy Hưng thực hiện Lễ chào cờ lịch sử đầu tiên tại sân Cột cờ Hà Nội. Tròn 9 năm sau lời hứa khi rút quân ra đi bảo toàn lực lượng, ông đã thực hiện xuất sắc lời thề "ngày trở về" giải phóng quê hương.

4. Cống hiến trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Giai đoạn sau năm 1954, ông tiếp tục đóng góp to lớn vào công cuộc hiện đại hóa quân đội trên các cương vị Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, Tư lệnh Quân khu 3. Từ năm 1964 đến khi mất vào năm 1980, ông đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam kiêm Giám đốc Học viện Quân chính.

Năm 1972, khi đế quốc Mỹ mở cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B-52 vào Hà Nội và Hải Phòng, Trung tướng Vương Thừa Vũ đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng phương án tác chiến của bộ đội tên lửa phòng không, đề ra nhiều quan điểm chiến thuật sắc sảo, góp phần quan trọng vào thắng lợi lịch sử của chiến dịch "12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không". Năm 1974, ông chính thức được thăng quân hàm Trung tướng.

Di sản lý luận quân sự và tấm gương đạo đức sáng ngời

Không chỉ là một vị tướng thực trận quả cảm, Trung tướng Vương Thừa Vũ còn là một nhà lý luận quân sự kiệt xuất. Ông đã đúc kết thực tiễn chiến đấu thành những lý luận dễ hiểu, dễ nhớ cho chiến sĩ. Ông nổi tiếng với tư tưởng chỉ đạo "giữ bí mật, tạo bất ngờ, giành chủ động, đánh tiêu diệt", "một diệt, bốn cắt", đồng thời đề cao nguyên tắc người chỉ huy cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh và mưu mẹo, nghệ thuật nghi binh. Ông nhấn mạnh vai trò cốt lõi trong xây dựng quân đội qua ba trụ cột: nuôi quân, luyện quân và dùng quân.

Ông đã để lại nhiều tác phẩm, hồi ký quân sự có giá trị cao như: Hà Nội 60 ngày khói lửa, Trưởng thành trong chiến đấu, Những chặng đường chiến đấu, Kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu, Cắt dạ dày Điện Biên Phủ....

Trong đời sống thường nhật, ông là tấm gương mẫu mực về lối sống giản dị, cần kiệm, liêm khiết và chan hòa với nhân dân. Mỗi lần về thăm quê cuối tuần tại Thanh Trì, ông đều dừng xe từ xa để đi bộ vào làng nhằm tránh sự phô trương, quan cách. Cả cuộc đời ông cống hiến trọn vẹn cho đất nước, gánh chịu nỗi đau mất mát khi hai người con trai của ông đều hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Trung tướng Vương Thừa Vũ qua đời năm 1980 và được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Để tri ân những công lao to lớn của ông, Nhà nước đã trao tặng ông nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công, Huân chương Chiến thắng; đồng thời tên ông được đặt cho những con phố khang trang tại Hà Nội và thành phố Hạ Long.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhận định và vinh danh ông là tấm gương sáng ngời, một vị tướng hội tụ đầy đủ phẩm chất cao đẹp: "Trí – Dũng – Nhân – Tín – Liêm – Trung" theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Các nguồn tài liệu truy xuất:

  1. 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô: Trung tướng Vương Thừa Vũ - danh tướng quân sự tài ba, người con ưu tú của Hà Nội (Thông tấn xã Việt Nam - TTXVN).

  • Vương Thừa Vũ - Dòng Lịch Sử.

  • Tướng Vương Thừa Vũ - Một người con của Hà Nội (Tạp chí điện tử Thế giới Di sản).

  • Trung tướng Vương Thừa Vũ - danh tướng quân sự tài ba (Trang tin Câu chuyện thời hoa lửa).

  • Phố Vương Thừa Vũ (Trích Từ điển đường phố Hà Nội - Báo Hànộimới).

  • Vương Thừa Vũ, người chiến sỹ cộng sản kiên cường, người con ưu tú của Thủ đô Hà Nội (Di tích nhà tù Hỏa Lò).

  • TIỂU SỬ CÁC DANH NHÂN, ANH HÙNG, NGƯỜI CÓ CÔNG DỰ KIẾN ĐẶT TÊN ĐƯỜNG ĐỢT 5 NĂM 2022 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT.


  • Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn