Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TRƯỚC KHI BƯỚC VÀO NHỮNG TRẬN ĐÁNH LỚN TRÊN ĐỒI A1

Đoạn hồi ký là những dòng đính chính đầy tâm huyết từ "người thật, việc thật" thuộc Trung đoàn 174, làm rõ những góc khuất anh hùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Qua trận phòng ngự quả cảm tại bản Tà Lèng và nhiệm vụ "dương công" nghi binh tại đồi A1, tác giả đã tái hiện sự mưu trí, dũng cảm của người lính khi phải đối mặt với hỏa lực áp đảo của kẻ thù trong điều kiện thiếu thốn mọi bề. Những trang viết không chỉ ghi lại chiến công mà còn nặng trĩu tình đồng đội, từ lời hứa đưa hài cốt liệt sĩ

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp10 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trải qua những ngày "khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt, đầu nung lửa sắt, máu trộn bùn non"... của thời trai trẻ oanh liệt, nhìn lại quá khứ ấy, tôi cũng như bao đồng đội không khỏi tự hào và bùi ngùi nhớ tới nhiều đồng đội đã để lại xương máu mình cho "Điện Biên lẫy lừng thế giới".

Sau khi đọc cuốn Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ở một số đoạn mà bản thân tôi, người thật việc thật, từng tham gia trực tiếp chiến đấu lúc đó ở cương vị cán bộ b, c bộ binh, tôi không khỏi áy náy và muốn làm rõ thêm một vài sự việc nêu trong sách, một cuốn sách mang tính lịch sử vĩ đại của dân tộc. Cho nên mặc dù lịch sử đã đi qua nửa thế kỷ rồi, vả lại một số sự việc viết lại này cũng chỉ là những chi tiết nhỏ của chiến dịch, nhưng nay tôi cũng xin viết lại sự thật một số sự việc đó.

1. Trận phòng ngự đồi Tà Lèng (trang 172, 173 sách đã dẫn)

Sau khi Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định chuyển phương án tác chiến sang "đánh chắc tiến chắc", toàn đơn vị chúng tôi được rút về phía đông Mường Thanh, đóng quân ở sau bản Tà Lèng khoảng 1km chờ lệnh mới.

Hôm đó là ngày 29 hay 30 tháng Chạp năm Quý Tỵ, hoặc 1/2/1954. Từ tờ mờ sáng, tôi, b trưởng b1 BB/C925, d255, e174 được gọi lên đại đội nhận lệnh của c trưởng Đặng Văn Đùng và d trưởng Nguyễn Đôn Tự: đưa ngay nửa trung đội ra tổ chức phòng ngự ở bản Tà Lèng, sẵn sàng đánh địch từ Mường Thanh nống ra thăm dò lực lượng ta. Nửa trung đội còn lại do b phó Hoàng Văn Luận phụ trách đóng quân trong đội hình đơn vị.

Sau khoảng 30' chuẩn bị, tôi cùng a1 của tiểu đội trưởng Hát và a phó Mưu cùng một tổ trung liên, tổng cộng 15 đồng chí nhanh chóng ra bản Tà Lèng. Sau khi nghiên cứu khái quát địa hình và xác định hướng tấn công của địch, tôi cho dàn quân và gấp rút đào công sự phòng ngự.

Bản Tà Lèng nằm trên đường mòn từ Mường Phăng đi xuống Mường Thanh, dân đã sơ tán hết vào rừng, còn lại chỏng trơ độ 8 mái nhà sàn tranh tre ọp ẹp và một số cây ăn quả lưa thưa trong vườn. Bản nằm trên một mỏm đồi, cao hơn cánh ruộng bậc thang phía trước chừng 8-10m. Hai bên và phía sau là đồi cao rậm rạp. Chính diện phòng ngự rộng khoảng 50-60m.

Khoảng 8 giờ sáng, một chiến sĩ cảnh giới của b tôi bố trí ở phía trước cách độ 300m hớt hải chạy về báo cáo phát hiện địch đang dò dẫm tiến vào phía ta.

Tuy công sự phòng ngự còn sơ sài (mới sâu khoảng 30cm), tôi cũng lệnh nhanh chóng nguỵ trang và sẵn sàng chiến đấu, đồng thời cho chiến sĩ Hướng chạy về báo cáo đại đội.

Độ 15 phút sau, khi trời mới quang mây, chiếc máy bay bà già đã vè vè lượn trên đầu. Dưới đất địch dò dẫm tiến gần vào trước trận địa. Khoảng gần 9h khi một số tên Tây trắng, Tây đen tiến vào cách chúng tôi khoảng 20m, tôi cho đồng loạt nổ súng. Tên chỉ huy đang cầm ba-toong chỉ chỏ và tên đeo điện đài bị bắn gục. Chúng vãi đạn như mưa và hò hét xung phong (a la xô). Không vào được trận địa, chúng rút ra khoảng 100m, sau đó pháo các loại tới tấp dội xuống bản Tà Lèng.

Do công sự không đủ độ sâu, anh em lại mệt mỏi sau một đêm mới trở về chưa được nghỉ ngơi, quân số lại mỏng, sau hai đợt xung phong không vào được trận địa. Địch chủ yếu dùng pháo và cối dội vào, phía ta hy sinh một, bị thương hai đồng chí. Khẩu trung liên, hỏa lực chủ yếu bị hỏng, chúng tôi chỉ còn tiểu liên, súng trường, lựu đạn và lưỡi lê.

Gần 12h trưa, sau nhiều loạt pháo, chúng lại tổ chức xung phong lần nữa. Anh em tôi còn lại, súng đã dương lê, cố nhằm vào tên chỉ huy mà bắn và ném lựu đạn ra, sẵn sàng giáp lá cà với chúng. Không vào được, chúng lại rút ra. Một buổi trưa im lặng, căng thẳng, nặng nề.

Sau 3 đợt đánh địch xung phong, nửa trung đội chỉ còn lại tôi và 5, 6 chiến sỹ. Trận địa đã bị lộ và tan tành sau nhiều đợt pháo. Thấy không thể cố thủ tiếp, tôi cho anh em rút lên đồi cao bên phải bản Tà Lèng độ 100m. Trên đó cây cối rậm rạp, lại có mấy công sự đào sẵn khá sâu (sau này mới biết là do trinh sát ta đào trên đường đi trinh sát xuống Mường Thanh). Tôi phân công chiến sỹ Phán bố trí ở công sự bên cạnh, còn công sự rộng hơn thì tôi và hai chiến sỹ còn lại (Lê Văn Bạc và Trần Văn Kiệm) bố trí, mắt luôn quan sát phía trước.

Khoảng 2h chiều, máy bay bà già trở lại vòng lượn trên trận địa, pháo lại tới tấp dội vào bản Tà Lèng, và sau đó khoảng vài chục tên xung phong vào bản, nháo nhác tìm kiếm. Chúng tôi giữ tuyệt đối im lặng vì lực lượng còn quá mỏng. Đơn vị phía sau thì vẫn không thấy ra chi viện. Tìm không thấy quân ta, chúng cho là quân ta đã rút, nên chúng cũng rút ra xa.

Độ 15 phút sau, chúng tôi nghe có tiếng động sột soạt ở sườn cao phía sau cách khoảng vài chục mét, nhưng cây cối rậm rạp và có lẽ từ chỗ quang mò vào nên chúng không phát hiện được. Chúng tôi ở thế thấp nên cố gắng ra hiệu cho nhau tuyệt đối im lặng. May sao chúng chỉ đi vòng qua rồi đi thẳng xuống bản Tà Lèng, lại nháo nhác tìm, bắn vu vơ mấy băng rồi đi tiếp ra hướng Mường Thanh.

Bất ngờ một tiếng nổ oành ngay trên miệng hố, cả Bạc, Kiệm và tôi đều bị thương. Chiến sỹ Bạc bị nặng nhất: 1 mảnh vào đầu, bị choáng, nôn và khuỵu xuống hố; chiến sỹ Kiệm bị gẫy cổ tay; tôi đứng giữa bị một mảnh vào mi mắt. Chúng tôi xé áo băng bó cho nhau.

Chiều xuống rồi, địch không dám tiến về phía ta nữa và có lẽ đang rút dần về Mường Thanh.

Khoảng hơn 3h chiều, trời Điện Biên bớt dần ánh nắng, tôi cho một chiến sỹ còn khỏe về phía sau báo cáo tình hình, thì cũng là lúc đơn vị tiến ra truy kích địch. Có tiểu đội đồng chí Niết đi đầu và tiếp theo là xuất hiện sự việc dũng sỹ Hoàng Văn Nô đâm lê tiêu diệt địch trên đường rút.

Tối đến, tôi và mấy chiến sỹ bị thương được đưa về đội Điều trị 3 ở Mường Phăng. Hôm sau là ngày mồng 1 Tết năm Giáp Ngọ.

Khoảng gần trưa, trong lán của viện, chúng tôi được E trưởng Nguyễn Hữu An cùng mấy cán bộ của Ban Chính trị đến thăm và thông báo đề nghị tặng thưởng Huân chương cho tôi và đơn vị về thành tích phòng ngự giữ vững trận địa Tà Lèng.

Đến quá trưa, chiến sỹ Bạc mới được chuyển đến viện trong tình trạng hôn mê hoàn toàn, tôi đã sang thăm và nói rõ hoàn cảnh bị thương với các y bác sỹ bên lán đó. Hôm sau tim Bạc ngừng đập, tôi đã có mặt lúc khâm liệm và cùng đưa Bạc đến nơi an nghỉ cuối cùng ở nghĩa trang cạnh ĐT3. Trên mộ có bia mộ gỗ. Nhiều năm sau, nhân dân Điện Biên Phủ đã chuyển hài cốt về nghĩa trang liệt sỹ A1, nhưng tiếc thay hầu hết đều không có tên tuổi cụ thể.

Năm 1958, tôi từ Quân khu Tây Bắc được cử về học ở Hà Nội, nhớ lại địa chỉ, tôi đã tìm về gia đình Bạc ở Hưng Yên.

Trong tình cảm quân dân cả nước, bà mẹ Bạc và gia đình đã yêu cầu nhận tôi làm con nuôi. Từ đó đến nay, kể cả sau đại thắng mùa Xuân từ chiến trường B2 trở về, tôi vẫn giữ tình cảm như có đồng chí Bạc trong gia đình, tuy vẫn mang theo một nỗi niềm ân hận là không đưa được hài cốt liệt sỹ Bạc về nghĩa trang quê nhà. Còn các chiến sỹ Phán, Kiệm, Hướng... thì đến nay vẫn chưa liên lạc được.

Nửa thế kỷ qua rồi, nay đã là cựu chiến binh ở tuổi "cổ lai hi", tôi vẫn không quên được anh em đã cùng tôi sống chết ngày đó ở trận địa cảnh giới phòng ngự bản Tà Lèng.

2. Trận dương công đồi A1

Ngày 13/3/1954 sư đoàn 312 tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam. Đồi A1, một điểm phòng ngự có thể coi là hiểm yếu nhất đối với chỉ huy sở Mường Thanh, nơi chính thức ta sẽ mở đầu cuộc tấn công đợt 2 (30/3/1954). Riêng phân đội tôi được cọ xát với A1 từ 14/3/1954, tất nhiên chưa phải để tiêu diệt mà là nghi binh để đơn vị bạn tiêu diệt cứ điểm đồi Độc Lập. 5h chiều 14/3, phân đội chúng tôi gồm trung đội BB1 phối thuộc có 1b đại diện, 1a cối 60 ly của c925, nhận lệnh dương công đồi A1 để sư đoàn 308 công kích đồi Độc Lập. Phân đội chúng tôi được trang bị thêm 4 quả bộc phá ống, 2 đại liên, 2 cối 60 ly và 4 quả phóng lôi. Nhiệm vụ là: phát hỏa trước như tấn công vào đồi A1 để nghi binh và thu hút hỏa lực tạo thuận lợi cho sư đoàn 308 tiêu diệt cứ điểm đồi Độc Lập.

Khoảng 7h tối 14/3, chúng tôi được lệnh xuất phát, lợi dụng pháo sáng địch, bí mật men theo chân đồi Cháy tiếp cận vào phía nam đồi A1. Xác định vị trí xuất phát tấn công và bố trí xong hỏa lực, chúng tôi bí mật đào công sự.

Khoảng 12h đêm lệnh phát hỏa bắt đầu. Bốn chiến sỹ bộc phá thay nhau lên mở hàng rào, đồng thời trung đại liên nổ súng. Bốn quả phóng lôi cũng được khối 60 ly lần lượt phóng vào hàng tiền duyên. Cứ khoảng 3-4 phút, bộc phá viên lại thay nhau lên mở hàng rào. Mỗi lần ngớt tiếng pháo địch, trung đại liên chúng tôi lại nhả đạn.

Trong đồi A1, pháo sáng địch phụt lên liên tục, và sau đó độ 5 phút, pháo Mường Thanh, Hồng Cúm tới tấp dội về trận địa. Độ 15 phút sau, pháo địch thưa dần, tuy nhiên cối trong đồn A1 vẫn bắn ra trận địa.

Bỗng quan sát viên của tôi báo cáo: xuất hiện một tiểu đội địch trên sườn đồi Cháy phía sau lưng trận địa chúng tôi. Tôi báo cáo bằng điện thoại về anh Đôn Tự và được lệnh tiếp tục giữ bí mật, đồng thời cho 1 a bộ binh quay súng bố trí hướng về phía đồi Cháy. Nếu địch phát hiện thì tự chiến đấu bảo vệ, nếu không bị phát hiện thì im lặng chờ lệnh thu quân.

Quả thật, độ mươi phút sau, bọn địch đi tuần tra quay trở về đồn. Lúc này pháo các cỡ đã râm ran chuyển sang phía đồi Độc Lập. Như vậy địch đã phát hiện và đối phó với hướng tấn công chủ yếu của ta.

Sau 15 phút nữa, chúng tôi được lệnh thu quân, trận địa trở lại im lặng. Tôi cho cáng một liệt sỹ và 4 thương binh về trước, toàn quân đội đi sau theo thứ tự hỏa lực rồi đến bộ binh, lại men theo chân đồi Cháy trở về căn cứ. Trời cũng gần sáng.

Đến gần trưa 15/3/1954, tôi được gọi lên gặp Ban chỉ huy d255 và được thông báo là Trung đoàn biểu dương cả phân đội tối qua đã hoàn thành xuất sắp nhiệm vụ dương công và được đề nghị tặng thưởng Huân chương chiến công. Quân số thương vong thấp hơn 3 lần dự kiến. Đại đoàn 308 đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm đồi Độc Lập.

Trở về "hàm ếch", tôi tiếp tục đọc Thượng Cam Lĩnh và chuẩn bị để tối đến lại cùng anh em tiếp tục đi đào chiến hào vào đồi A1.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn