TRƯỚC KHI ĐẾ QUỐC MỸ Ồ ẠT ĐỔ QUÂN VÀO MIỀN NAM
Đoạn văn kể về trận tập kích đồn Phú Cũ năm 1965 tại Phù Mỹ, trận mở màn của Sư đoàn 3 Sao Vàng. Người kể cùng đơn vị công binh mở cửa bãi mìn và hàng rào để bộ binh tiến công, tiêu diệt địch và làm chủ căn cứ. Chiến thắng này góp phần mở rộng vùng giải phóng và đánh bại chiến lược Chiến tranh đặc biệt.
Trước khi bước vào mùa khô năm 1965 - 1966 chủ trương của đảng ủy và bộ tư lệnh Quân Khu 5 là mở chiến dịch tiến công các căn cứ vùng đồng bằng và vùng giáp ranh miền trung, tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận quan trọng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, buộc chúng phải đưa những đơn vị chủ lực ra phản kích, tạo điều kiện cho quân chủ lực của ta đánh những trận vận động tiêu diệt lớn, góp phần cùng với các chiến trường làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và tay sai ở miền Nam Việt Nam.
Trận đầu tiên tôi được tham gia trên địa bàn đồng bằng miền Trung là trận tập kích tiêu diệt đại đội lính bảo an đóng tại đèo Phú Cũ, trên trục đường quốc lộ số 1, thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định vào ngày 23-9-1965. Đây là trận đánh điểm, diệt viện, là trận đánh đầu tiên của sư đoàn bộ binh 3 từ sau ngày thành lập.
Đánh tốt trận này sẽ khẳng định được một tiền đề là địch không chỉ bị tiêu hao trong khi đi hành quân càn quét, bởi phong trào du kích chiến tranh, mà ngay cả khi chúng ở trong căn cứ, có công sự vững chắc, có nhiều lớp hàng rào kẽm gai và mìn sát thương bao bọc, cũng bị tiêu diệt.
Đồn Phú Cũ, đóng trên một quả đồi thấp, khống chế đường Quốc lộ số 1 tại đèo Phú Cũ. Phía Tây, đối diện với đồn địch là một ngọn đồi khác cao hơn và “chiếu” xuống đồn địch, đồng thời nối dài với các dãy núi chạy về phía tây, ra đến vùng giải phóng. Về mặt địa hình, rất thuận lợi cho ta triển khai lực lượng và binh khí kỹ thuật, các trận địa hỏa lực bắn thẳng cũng như bắn cầu vồng. Đứng trên điểm cao đối diện có thể nhìn thấy rất rõ các mục tiêu tiền duyên phía tây và trung tâm của đồn địch. Phía đông căn cứ là những ngọn đồi nhỏ, thấp, tiếp đến là đồng bằng thuộc huyện Phù Mỹ. Đường số 1 chạy theo hướng Bắc - Nam cặp với đường xe lửa, chui qua đèo bằng một đoạn đường hầm. Hai bên đường, cả phía Nam và Bắc đèo là làng mạc trù phú, xen kẽ những cánh đồng tươi tốt, phì nhiêu.
Đồn Phú Cũ thuộc vào loại mục tiêu “công sự vững chắc” thời đó. Chúng bố trí đội hình phòng ngự có chính diện và chiều sâu. Bên ngoài có 4 lớp rào kẽm gai xen kẽ với mìn sát thương bộ binh. Bên trong là hệ thống chiến hào từ trong trung tâm ra đến tiền duyên, nối với các công sự chiến đấu, ụ súng và lô cốt xếp bằng bao cát. Hướng Tây, địch bố trí các lô cốt bê tông và công sự vững chắc hơn. Điều này cũng dễ hiểu, vì hướng này, địa hình bất lợi cho chúng. Ngoài những hỏa lực bộ binh thông thường, ở đây còn có trận địa cối 106,7mm. Hướng đề phòng ta tiến công là hướng Tây - nơi có các dãy đồi cao hơn và liên hoàn ra đến vùng giải phóng của ta. Vì vậy, chúng rất coi trọng việc tung thám báo, biệt kích, theo dõi, nắm tình hình ta từ xa.
Chi viện trực tiếp cho chúng về bộ binh, chủ yếu là Sư đoàn bộ binh 22, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Về hỏa lực, có các trận địa pháo ở Đệ Đức, Thiết Đính, Bồng Sơn thuộc huyện Hoài Nhơn; trận địa pháo tại nhà thờ Dốc, xã Mỹ Hiệp, quận lỵ Phù Mỹ và một số trận địa pháo khác, thuộc huyện Hoài Ân. Điều đó, chứng tỏ địch rất coi trọng sức mạnh của hỏa lực pháo binh.
Mục tiêu mở màn chiến dịch là đánh tiêu diệt đại đội bảo an đóng tại đèo Phú Cũ, cắt đứt đường quốc lộ số 1, huyết mạch giao thông quan trọng của địch. Nhiệm vụ và mục tiêu tiếp theo là vận động tiêu diệt lực lượng của Sư đoàn 22 từ căn cứ Bình Dương ra phản kích, và trung đoàn 40 từ căn cứ Đệ Đức vào giải tỏa.
Đầu tháng 9 năm 1965 đoàn cán bộ của cơ quan Sư đoàn 3 và hai Trung đoàn bộ bình tiến hành đi nghiên cứu chiến trường. Trước hết, tập trung chuẩn bị mục tiêu đèo Phú Cũ. Đây là “ngòi nổ”, là “phát pháo hiệu” đầu tiên của chiến dịch.
Trong trận này, đại đội công binh sư đoàn làm nhiệm vụ “mở cửa”. Tôi vừa là trinh sát viên, vừa là chiến sĩ công binh thuộc phân đội mở đường qua bãi mìn và lớp rào kẽm gai để cho bộ binh công kích vào bên trong đồn địch, tiêu diệt chúng.
Những ngày đi chuẩn bị chiến trường, đồng chí Trần Văn Hồng, trợ lý công binh Sư đoàn, đưa tiểu đội trinh sát chúng tôi vượt qua đỉnh núi Chóp Chài, xuống vùng biển Hà Ra - Phú Thứ, rồi từ đó, vượt đường trở lại điều nghiên hướng Tây đồn Phú Cũ. Ban ngày, chúng tôi trà trộn trong dân. Các anh chỉ huy dặn tôi: “Không được nói chuyện với nhân dân địa phương!” vì giọng nói “trọ trẹ” của tôi rất dễ bị phát hiện là người từ ngoài Bắc vào. Sự xuất hiện người miền Bắc lúc này chỉ có thể là quân chủ lực mà thôi. Nếu địch nắm được, chúng sẽ tích cực đề phòng, làm mất yếu tố bất ngờ của quân ta và còn nhiều tác hại khác nữa.
Đây là lần đầu tiên, tôi được xuống vùng đồng bằng, hơn nữa lại là đồng bằng ven biển. Ban ngày, nằm trong gia đình cơ sở cách mạng, sát chân núi Chóp Chài, nhà bà Hùng, phòng khi nếu địch càn quét, chúng tôi sẽ nhanh chóng sơ tán vào núi. Ban đêm, chúng tôi được các anh chỉ huy và cơ sở của ta dẫn ra cửa biển Hà Ra - Phú Thứ hóng mát. Tôi đã được tận hưởng, những cơn gió mát rượi nồng nàn muối mặn và được nghe tiếng sóng biển ầm ầm suốt đêm. Tôi có thể nhìn thấy ánh đèn hắt ra từ trên thuyền bè của dân đánh cá, câu mực. Biển về đêm trông giống như bầu trời đầy sao lấp lánh.
Bằng sự quan sát tinh tế, các mẹ, các chị đều biết tôi là bộ đội miền Bắc mới vào, nên ai cũng quý mến. Bà Hùng là cơ sở cách mạng. Chồng bà tập kết ra Bắc, và đã vào miền Nam, nhưng chưa liên lạc được. Bà có hai cô con gái xinh đẹp, có tên rất con trai là Hùng và Huy. Cô chị kém tôi khoảng 6 - 7 tuổi. Sau mỗi đêm đi trinh sát về, chúng tôi lại vào nhà bà để nghỉ. Đêm đi, ngày ngủ là sở trường của lính trinh sát chúng tôi. Bà thường dặn tôi: “Con cố gắng công tác, sau này khi nước nhà thống nhất, về đây tao gả cho một đứa!”. Tôi cứ ngơ ngác, ậm ờ, không biết nói gì... Năm 1974, tôi có dịp đi qua đây, ghé thăm bà. Bà đã già yếu, nhưng vẫn còn nhận ra tôi. Cô Hùng đã thoát ly lên căn cứ làm dược tá, còn Huy đang là một cô giáo xinh đẹp, sắp lấy chồng.
Sau khi chuẩn bị chiến trường xong, chúng tôi lại vượt núi, vượt đường quốc lộ số 1 về lại căn cứ để làm kế hoạch và tổ chức hiệp đồng tác chiến. Hồi đó, tôi là một chiến sĩ của một đơn vị cơ sở, nên chưa biết được nhiều, chưa hiểu được rộng như các cấp chỉ huy Trung đoàn, Sư đoàn hoặc cao hơn. Tôi chỉ có thể biết được nhiệm vụ của mình trong phạm vi nhất định. Sau này, tôi mới biết, hướng nghiên cứu của chúng tôi là hướng chủ yếu - có nhiệm vụ cùng với tiểu đội dò gỡ sạch mìn và đánh bộc phá liên tục, mở cửa qua các lớp rào kẽm gai, dẫn dắt bộ binh vào bên trong tiêu diệt địch. Và cũng sau này, tôi mới được biết rằng đây là trận mở màn chiến dịch, đánh chiếm một số đồn bót địch, vừa để mở rộng vùng giải phóng, vừa để kéo quân chủ lực địch từ các căn cứ ra ngoài công sự để tiêu diệt. Lực lượng bộ binh tiến công đánh chiếm mục tiêu này là tiểu đoàn 4 (tăng cường) thuộc trung đoàn bộ binh 12. Trung đoàn bộ binh số 2 phục kích phía Nam đèo Phú Cũ và tiến công đèo Nhông. Trung đoàn bộ binh 12 (thiếu tiểu đoàn 4) phục kích đánh viện ở khu vực Lại Khánh. Ý định của đợt tác chiến này là “đánh điểm diệt viện”. Trung đoàn bộ binh số 22 làm nhiệm vụ kìm chế pháo địch ở Thiết Đính, tập kích sân bay địch ở An Khê.
Đêm 22-9, quân ta bắt đầu triển khai đội hình chiến đấu tiến công. Trên các sườn đồi phía Tây đèo Phú Cũ, các trận địa hỏa lực như cối 120 mm, cối 82 mm, ĐKZ75 và súng máy 12,7 mm đã triển khai xong lúc 22 giờ. Phía sau là trạm sơ phẫu, có rất nhiều anh chị em dân công sẵn sàng tiếp đạn, tải thương. Phía trước trên hướng chủ yếu, bộ binh được triển khai sau trung đội công binh mở đường của chúng tôi. Trong nghệ thuật quân sự, mọi ưu tiên đều hướng về bộ binh, dành cho bộ binh. Vai trò của bộ binh là lực lượng chủ yếu làm chủ chiến trường, là lực lượng trực tiếp tiêu diệt bộ binh địch. Mọi lực lượng, mọi binh chủng đều bảo đảm những yếu tố cần thiết để bộ binh hoàn thành được nhiệm vụ của một chiến dịch hoặc một trận chiến đấu. Vì vậy, trước khi bộ binh vào chiếm lĩnh thì các trận địa hỏa lực phải trong tư thế sẵn sàng nhả đạn vào các mục tiêu được phân công. Trước khi bộ binh xung phong vào đồn địch cửa mở phải được thông suốt, các mục tiêu “đầu cầu” phải được tiêu diệt hoặc chế áp mãnh liệt, dập tắt mọi sự kháng cự của địch. Giai đoạn mở cửa, đánh chiếm “đầu cầu” trong chiến đấu tấn công địch trong căn cứ bao giờ cũng mang tính quyết định thắng lợi của trận đánh. Đây là giai đoạn chiến đấu vô cùng quyết liệt, một mất, một còn. Hiệu suất chiến đấu cao hay thấp cũng thể hiện ở giai đoạn này. Anh hùng Phan Đình Giót đã xả thân vì đồng đội và để tăng tốc độ đột phá trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ cũng diễn ra ở trong giai đoạn này.
Đêm ấy, trời không trăng nhưng nhiều sao. Ánh sáng của những ngọn hỏa châu do địch bắn lên cũng đủ để soi sáng cho các lực lượng trên các hướng vào tiếp cận mục tiêu. Tôi cùng với tiểu đội đánh bộc phá cũng đã triển khai đội hình xong trước cửa mở, sát với hàng rào đầu tiên. Từ vị trí này đến lô cốt “đầu cầu” 1 khoảng 120m - 150m. Từ trong đêm tối khó có thể nhìn thấy lô cốt một cách tường tận. Nhưng nếu nằm xuống mà nhìn lên sườn đồi phía địch, nơi tiếp giáp với khoảng trống của bầu trời thì thấy được khá rõ hình dáng những lô cốt, ụ súng lô nhô trước mặt. Tại căn cứ của địch, thỉnh thoảng có ánh lửa lập lòe, lóa lên rồi tắt ngấm. Có lẽ bọn lính canh gác hút thuốc lá. Trong bóng đêm tĩnh mịch, ánh đèn pha của địch chợt lóe lên quét ngang, dọc theo các lớp rào. Chúng tôi nằm im, nín thở. Có anh lính, mới ngày đầu ra trận, căng thẳng đến nỗi “tè” ra ướt cả quần lúc nào không hay. Lúc này, có lẽ không có người lính nào nghĩ đến chuyện vợ, con, gia đình, quê hương, bạn bè, tiền bạc, giàu nghèo; chỉ có hồi hộp chờ lệnh và sẵn sàng xông lên...
Theo hợp đồng, tiến công vào đồn Phú Cũ sẽ diễn ra trên hai hướng. Hướng chính, từ sườn đồi phía Tây. Hướng này, mục tiêu “cứng” hơn lực lượng địch tập trung cao hơn, trong đó phải nói đến mật độ hỏa lực pháo binh được chuẩn bị trước, kết hợp với bọn biệt kích, thám báo lùng sục từ xa. Song, địa hình ở đây cao hơn, rất thuận lợi cho ta bố trí lực lượng, triển khai đội hình. Nếu khắc phục được những khó khăn do địch tạo nên, thì đây là hướng tiến công lý tưởng. Theo nguyên tắc chiến thuật, nếu ta tập trung lực lượng tiến công vào chỗ mạnh, chỗ hiểm yếu của địch, làm mất chỗ dựa của chúng thì trận đánh sẽ được giải quyết nhanh. Sau khi cân nhắc, Sư đoàn và Trung đoàn quyết định chọn hướng này làm hướng tiến công chính. Chỉ còn lại một vấn đề cần giải quyết thật tốt là bám sát bọn biệt kích, thám báo để vô hiệu hóa các hoạt động của chúng, hợp đồng với các đơn vị kể cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích kìm chế các trận địa pháo binh của địch, tạo điều kiện cho Trung đoàn bộ binh 12 tiến công. Hướng thứ hai là từ Đông Nam đánh lên, chiếm mục tiêu ở mỏm đồi phía Đông.
Hiệu lệnh nổ súng tiến công là tiếng nổ dầu tiên của ống bộc phá do chúng tôi thực hiện tại lớp rào kẽm gai thứ nhất trên hướng tiến công chủ yếu.
Hồi đó, lực lượng mở cửa không được trang bị máy thông tin, nhưng để chỉ huy được kịp thời, đồng chí Trần Văn Hồng - trợ lý công binh Sư đoàn ngồi ở vị trí chỉ huy, phía sau chúng tôi 20 m để nhận lệnh cấp trên và ra lệnh cho chúng tôi nổ bộc phá.
23 giờ 45 phút, lực lượng mở cửa đã đưa được ống bộc phá, cố định vào hàng rào thứ nhất và chờ lệnh trong tư thế điểm hỏa.
Lúc 0 giờ (giờ G) lệnh nổ súng bắt đầu. Đồng chí tiểu đội trưởng điểm hỏa quả bộc phá đầu tiên. Tiếng nổ của ống bộc phá đã đánh thức tất cả mọi lực lượng ta và địch trên một vùng rộng lớn. Tiếp đó là âm thanh hỗn độn của bộc phá, của pháo cối, của các loại vũ khí tham gia trận đánh... Tiếng nổ dồn dập, đinh tai, nhức óc, đến nỗi ghé vào sát mang tai hét mà vẫn không nghe được; nhất là ở tiểu đội đánh bộc phá và trận địa ĐKZ75, súng máy 12,7 mm.
Giữa tiếng súng vang rền, là tiếng la hét của các cấp chỉ huy. Người nào, việc nấy, khẩn trương, hoạt bát, theo một “kịch bản” đã được chuẩn bị. Dưới làn đạn của hai bên, tiểu đội bộc phá chúng tôi, người lên, người xuống nhịp nhàng, vào ra như những con ong. Các trận địa hỏa lực, rót đạn vào mục tiêu, lúc thì rỉ rả, lúc thì cấp tập. Súng máy 12,7 mm bố trí hai bên cửa mở bắn từng loạt, từng loạt. Đạn vạch đường như những mũi tên từ sườn đồi găm xuống, trúng vào lô cốt, ụ súng, gốc cây; có những viên đạn vọt lên không trung vạch thành vệt sáng như ánh sao băng.
Lực lượng xung kích, nhích dần từng bước, lên sát cửa mở, sẵn sàng xung phong vào đồn giặc.
Sau năm phút, công binh mở xong cửa. Bộ binh từ các hướng ào ạt xông lên, đánh chiếm lô cốt đầu cầu, mở rộng sang hai bên và phía trước. Các trận địa pháo cầu vồng chuyển làn, bắn tập trung vào trung tâm đồn địch. Đội hình thọc sâu như một mũi tên, lao lên đánh chiếm sở chỉ huy, khu thông tin và các mục tiêu quan trọng trong đội hình đóng quân của địch.
Đã có một số đồng chí hy sinh và bị thương được đưa ra hướng cửa mở của chúng tôi. Cuộc chiến đấu mỗi lúc một quyết liệt. Nhiều đồng chí của ta tiếp tục bị hy sinh, bị thương.
Bây giờ đã là phút thứ 25, tính từ lúc bắt đầu nổ súng. Lực lượng thọc sâu của ta bị địch chống trả quyết liệt và bị chặn lại ở tuyến giữa.
Tại Sở chỉ huy, Trung đoàn nhận định: Địch có hầm ngầm chăng?
Trên hướng thứ yếu, phía đông đường số 1, địch có sơ hở, chủ quan, nên từ đầu đã tạo được lợi thế cho ta. Trên hướng này, ta đã chiếm được mỏm đồi phía đông đèo Phú Cũ.
Sau khi xốc lại đội hình, hai hướng hiệp đồng với nhau cùng tiến công lên mục tiêu chính: Mỏm đồi phía tây đường số 1.
Pháo địch trên các hướng tập trung bắn vào sườn đồi đối diện ở phía tây trên hướng tiến công chủ yếu của quân ta. Sau hơn một giờ đồng hồ công kích ta đã hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt và bắt sống trên 150 tên, thu toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng.
Trước cửa mở còn một khối thuốc nổ 20 kg nằm chỏng chơ. Khối bộc phá này là khối bộc phá dự bị, đề phòng địch dựa vào lô cốt, hầm ngầm cố thủ thì sẽ đem vào cho nổ tung. Với tính năng của khối thuốc nổ và nhất là khối thuốc nổ đã tra kíp nổ, nụ xòe và dây cháy chậm, chỉ cần một quả đạn cối, hoặc quả lựu đạn nổ gần cũng có thể bị kích nổ, giữa một đội hình chiến đấu của quân ta, tai họa sẽ khó lường. Thấy rõ sự nguy hiểm của khối thuốc nổ, tôi đã phải bò lên, kéo khối thuốc nổ ra xa đội hình và vô hiệu hóa khi không dùng đến nó nữa.
Trận tiến công đồn Phú Cũ thắng lợi. Nhưng ta thương vong lại khá cao, gần 100 đồng chí.
Những ngày sau đó, địch điên cuồng phản kích để giải tỏa đường quốc lộ số 1 đã bị ta cắt đứt tại đèo Phú Cũ và nhiều nơi khác. Các lực lượng chủ lực của ta kết hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích đã tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch khi chúng đi càn quét trên địa bàn các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ... Bọn địch trong các căn cứ, đồn bót chưa bị tiến công hết sức hoang mang, lo sợ.
Trong chiến dịch Thu - Đông, nhất là sau trận tiến công đồn Phú Cũ thắng lợi, cùng với chiến trường toàn miền, tại Quân khu 5, trên địa bàn ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, các đơn vị chủ lực của Quân khu, phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương đã tiến công một loạt các căn cứ, các chi khu quân sự và cơ quan chính quyền của địch, gồm chi khu quân sự Minh Long, căn cứ Gia Vực, Quảng Ngãi, chi khu quân sự và Quận lỵ Thượng Đức, vùng B Đại Lộc và nhiều nơi khác, bức rút hàng loạt đồn bót địch như đồn Cộng Hòa, đồn số 7 ở Quảng Ngãi, v.v... Vùng giải phóng được mở rộng ở các huyện miền núi như Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Ba Tơ (Quảng Ngãi), An Lão, Vân Canh, Vĩnh Thạnh (Bình Định). Vùng địch kiểm soát bị thu hẹp.
Hầu hết, các huyện miền núi thuộc các tỉnh đồng bằng ven biển Khu 5 ta có nhiều lợi thế về địa hình, một trong ba yếu tố (Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa) của cuộc chiến tranh Nhân dân Việt Nam. Trong các chiến dịch tiến công và cả trong từng trận chiến đấu của ta, địch đều bị ta bao vây, chia cắt cô lập từng khu vực, từng mục tiêu và bị hạn chế rất nhiều về sức mạnh của binh khí kỹ thuật. Đây là điểm bất lợi, không dễ gì khắc phục được của chúng.
Trận tiến công chi khu quân sự Minh Long và căn cứ Gia Vục của trung đoàn bộ binh số 22 và lữ đoàn 52 Quân khu 5 tại tỉnh Quảng Ngãi là một ví dụ.
Chi khu quận lỵ Minh Long là một căn cứ tầm cỡ của địch ở tỉnh Quảng Ngãi, xa các căn cứ của lực lượng có thể chi viện cho chúng; lại nằm trong một lòng chảo, xung quanh có các điểm cao, đối phương có lợi thế hơn về nhiều mặt, nhất là về địa hình; cho nên bọn địch đóng ở đây có hệ thống công sự, vật cản tương đối chắc chắn. Ngoài hai tiền đồn ở trên hai hướng Đông Bắc và Tây Nam là Gò Quang và Gò Găng, mỗi nơi một đại đội lính bảo an, chúng còn bố trí nhiều điểm chốt và hệ thống ấp chiến lược. Binh lính ở đây phần lớn là người dân lộc H’re, khét tiếng gian ác.
Đánh chiếm quận lỵ Minh Long, để bảo đảm chắc thắng, sư đoàn 3 đã sử dụng cả 3 trung đoàn bộ binh: Trung đoàn 22 và 12 tiến công các căn cứ đồn trú; quận lỵ. Trung đoàn 2 làm nhiệm vụ đánh viện.
Các trận địa cối 106,7 và 120mm bố trí trên các điểm cao 500 - 600 cùng với các trận địa phòng không, hiệp đồng với hỏa lực đi cùng các trung đoàn, chi viện cho bộ binh đánh chiếm lần lượt các mục tiêu.
Quyết tâm của sư đoàn là: lực lượng chặn viện phải loại trừ cho được bọn địch tăng viện từ bên ngoài, khống chế cho được sân bay dã chiến. Lực lượng tiến công quận lỵ, đánh đêm chưa dứt điểm, chuyển sang đánh ngày; bao vây, chia cắt tiêu diệt từng mục tiêu đến tiêu diệt toàn bộ. Làm chủ hoàn toàn quận lỵ Minh Long.
Tháng 12 năm 1965, trước khi đánh chiếm chi khu Minh Long, quân ta chiếm lĩnh toàn bộ các cao điểm xung quanh chi khu, thiết bị các trận địa hỏa lực. Trên các ngả đường từ đồng bằng lên quận lỵ đều bị ta phục kích, ngăn chặn. Chi khu quân sự Minh Long coi như bị cô lập.
Đại đội công binh chúng tôi được giao nhiệm vụ làm đường cơ động cho pháo vào triển khai, bố trí mìn tự động và mìn điều khiển để đánh quân đổ bộ xuống khu vực sân bay, và xây dựng sở chỉ huy cho Sư đoàn.
Đêm N - (29-12-1965 trước Tết nguyên đán) quân ta tiếp cận các mục tiêu trong khi nhân dân và binh lính đang xem chiếu phim. Do hệ thống phòng thủ của địch trong căn cứ bố phòng phức tạp, ngay từ đầu bộ đội ta có thương vong do vướng phải mìn địch.
23 giờ 30 phút, buổi chiếu phim kết thúc. Bọn lính vừa về đến căn cứ thì cũng là lúc bộ đội ta nổ súng tấn công các mục tiêu. Dưới sự chi viện của các trận địa súng cối bố trí ở dãy cao điểm 500 và ĐKZ 75 đi cùng, các hướng, các mũi thực hành tiến công các mục tiêu. Các trận địa pháo có thể chi viện được của địch thì ít, lại xa và đã bị ta kiềm chế. Do địa hình rừng núi và đêm tối nên lực lượng bộ binh của địch từ đồn Cộng Hòa - đồn số 7 không thể nào chi viện được. Các chốt tại chi khu Minh Long dựa vào công sự và hệ thống ấp chiến lược chống cự quyết liệt. Một số tên đầu sỏ, ngoan cố dựa vào những đường hầm bí mật tháo chạy.
Sau hơn 5 giờ đồng hồ chiến đấu, ta đã đánh chiếm được toàn bộ quận lỵ Minh Long, tiêu diệt nhiều sinh lực gồm một chi khu, hai căn cứ đồn trú, một sân bay và cơ quan hành chánh cấp quận của địch. Thu toàn bộ vũ khí, kho tàng.
Ngày hôm sau, địch cho 2 tốp máy bay lên ném bom, bị các trận địa phòng không của ta bố trí trên các điểm cao 500 - 600 bắn trả. Chúng phải bay ở độ cao ném bom, nên không trúng mục tiêu.
Đánh chiếm được căn cứ Minh Long, trước mắt đã giúp cho quân ta giải quyết được khó khăn về lương thực. Bộ đội ta thu được hàng chục tấn lương thực, thực phẩm, bao gồm gạo thơm, đường, sữa, dầu ăn,... Đại đội công binh chúng tôi được một thời gian ăn uống thoải mái, sung túc.
Một phần trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn và một phần công tác Đảng - công tác chính trị chưa thấm sâu vào mọi người, trong trận này một số đơn vị, bộ đội thu được tiền của địch (chúng chuẩn bị phát lương cho lính ăn tết) không chịu giao nộp. Suốt mấy ngày liền các phố xá dọc sông Trường Giang, Trường Lệ, bộ đội hành quân qua đây đã mua hết hàng hóa như kẹo bánh, đường sữa, thuốc lá và nhiều thứ khác. Sư đoàn phải thi hành kỷ luật một số cán bộ chỉ huy.
Phối hợp với trung đoàn bộ binh số 22, trung đoàn bộ binh số 2 bao vây đồn số 7 trên trục đường từ Thạch Trụ, huyện Mộ Đức lên huyện Nghĩa Hành và phục kích chặn viện ở phía Đông núi Lớn, tạo điều kiện cho trung đoàn bộ binh 22 giải quyết mục tiêu quận lỵ Minh Long. Nhưng địch không ra phản kích, đồn số 7 bí mật rút chạy và bỏ luôn chi khu quận lỵ Minh Long.
Thừa thắng ở quận lỵ Minh Long, trung đoàn bộ binh 22 được lệnh tiến công đồn Thạch Trụ, núi Xương Rồng. Đêm chiếm lĩnh, trời mưa to, nước lũ tràn về, cho nên trung đoàn 22 không thực hiện được ý định của sư đoàn. Chiến dịch Thu - Đông năm 1965 kết thúc.
Tại chiến trường khu V, lữ đoàn 52 của quân khu, do lữ đoàn trưởng Lê Chí Thuận chỉ huy cũng đã đánh chiếm căn cứ Gia Vực trong một đêm bằng chiến thuật tập kích hiệp đồng binh chủng.
Cũng như quận lỵ Minh Long, Gia Vực thuộc địa bàn rừng núi phía Tây tỉnh Quảng Ngãi. Là một trong những căn cứ vững chắc nhất của địch ở miền Trung, do một tiểu đoàn đồn trú lính người dân tộc Re đóng giữ. Do phòng thủ trong một địa thế bất lợi, xa sự chi viện của các lực lượng bên ngoài, nên mục tiêu này, địch cấu trúc khá hoàn chỉnh. Bên trong có lô cốt bê tông và lô cốt bằng bao cát xếp dày, nối liền với chiến hào từ tiền duyên vào tung thâm. Trung tâm chỉ huy có hầm ngầm kiên cố. Toàn bộ căn cứ được bao bọc bởi 9 lớp rào kẽm gai đủ loại, xen kẽ mìn sát thương bộ binh và mìn chống xe tăng. Có thể nói, căn cứ Gia Vực thuộc vào loại mục tiêu công sự vững chắc, hệ thống vật cản phức tạp. Lữ đoàn 52 đã triệt để lợi dụng địa hình rừng núi, đưa pháo vào gần, lên cao. Toàn bộ căn cứ địch nằm dưới tầm hỏa lực của ta. Các loại hỏa lực ngắm bắn trực tiếp, xác suất trúng mục tiêu rất cao. Nhờ vậy đã chi viện đắc lực cho bộ binh đột phá, tiến công đánh chiếm toàn bộ căn cứ, diệt gọn tiểu đoàn đồn trú của địch, thu toàn bộ vũ khí. Do có ưu thế về địa hình, vận dụng cách đánh sáng tạo, sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, bộ đội ta đã loại trừ được sự chi viện bằng bộ binh, pháo binh và không quân của địch.
Qua những trận đánh điển hình của Lữ 52, của sư đoàn bộ binh 2 và 3 trên địa bàn các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đã nói lên những vấn đề sau đây:
1. Thiên nhiên đã tạo cho chiến trường khu 5 có được một địa thế lý tưởng, có điều kiện phát huy tốt cách đánh truyền thống của quân đội ta, sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam được nhân lên; khơi thêm những điểm yếu, những bất lợi không dễ gì khắc phục được đối với kẻ thù; nhất là kẻ thù xâm lược.
2. Lực lượng ba thứ quân của ta trên chiến trường, nhất là quân chủ lực đã có bước phát triển nhanh chóng toàn diện về nghệ thuật chỉ huy chiến dịch và chiến đấu.
3. Thắng lợi này là tiền đề mở ra khả năng đánh tập trung với quy mô cao hơn, lớn hơn; có thể mở các chiến dịch tổng hợp và tiến công địch trong căn cứ, có công sự vững chắc; đồng thời vận động tiêu diệt địch bung ra phản kích trong một không gian rộng, thời gian dài ngày ở vùng rừng núi và đồng bằng. Nhờ vậy mà sau một loạt các trận đánh tiếp theo trên địa bàn các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Quảng Tín và Đà Nẵng, vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, vùng bị địch tạm chiếm ngày càng thu hẹp. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và Ngụy quyền Sài Gòn tiến hành trên chiến trường miền Nam nói chung, trên địa bàn Liên khu 5 nói riêng, sẽ bị phá sản.
Trước tình hình đó, đế quốc Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam Việt Nam và cho máy bay, tàu chiến ra khiêu khích, đánh phá miền Bắc nước ta. Vai trò của quân Mỹ, từ chỗ làm cố vấn cho quân đội và chính quyền Sài Gòn, đến chỗ trực tiếp tham chiến để cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chính quyền tay sai. Trên chiến trường Liên khu 5 lúc bước vào mùa khô lần thứ nhất (1965) có 120000 lính 1 Mỹ, bằng 2/3 tổng số lực lượng Mỹ tại miền Nam..
Tại tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, Đà Nẵng và Phú Bài có hai Sư đoàn thủy quân lục chiến, Sư đoàn bộ binh American, Lữ đoàn dù 196, Lữ đoàn xe tăng (thiết xa vận) Mỹ, Sư đoàn Thanh Long (Rồng Xanh) lính Nam Triều Tiên, Sư đoàn bộ binh 2 của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và các liên đoàn biệt động.
Tại tỉnh Bình Định có 20000 lính Mỹ, 500 máy bay, hàng chục tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, pháo binh. Sang mùa khô thứ 2 (1966) số binh lính Mỹ, cả bộ binh và Binh khí kỹ thuật tăng lên gấp đôi, chủ yếu tập trung ở chiến trường Bắc Bình Định - Nam Quảng Ngãi, có Sư đoàn không vận số 1 (Sư đoàn kỵ binh bay) Mỹ, Lữ đoàn dù 101 và Sư đoàn Mãnh Hổ Nam Triều Tiên cùng với Sư đoàn bộ binh 22 và các Liên đoàn biệt động của quân đội Sài Gòn. Tại tỉnh Phú Yên có sư đoàn Bạch Mã (Đại Hàn), Lữ đoàn dù 173 (sau này được trang bị xe tăng, trở thành Lữ đoàn Kỵ binh Thiết giáp).
Chiến trường Tây Nguyên (mặt trận B3) có 2 Sư đoàn bộ binh đánh rừng núi là sư đoàn bộ binh số 25 và sư đoàn bộ binh số 4 của Mỹ, sư đoàn 23 lính Sài Gòn và các Liên đoàn biệt động. Ngoài ra còn có một đội quân đông đảo bao gồm các đơn vị bảo an, dân vệ, các lực lượng cảnh sát đô thị với hệ thống đồn bốt, ấp chiến lược dày đặc. Các lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu của các quốc gia đồng minh của Mỹ như Thái Lan, Úc, Phi Luật Tân và một số nước khác cũng đã hiện diện trên chiến trường miền Nam nói chung và Liên khu 5 nói riêng.
Trên biển Đông, Hạm đội 7 của Mỹ thường xuyên túc trực, với các loại pháo tầm xa có thể bắt sâu vào nội địa miền Trung. Lính thủy đánh bộ Mỹ có thể đổ bộ từ Hạm đội 7 vào đất liền bất cứ lúc nào... Ở mặt trận Quảng Trị có Sư đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, sư đoàn bộ binh số 1 quân lực Việt Nam Cộng hòa và nhiều Sư đoàn, Lữ đoàn thiện chiến khác...
Lúc bấy giờ, trên chiến trường Liên khu 5 mạnh nhất là Sư đoàn không vận số 1 Mỹ. Chúng tập trung trọng điểm đánh phá trên một địa bàn không lớn so với chiến trường Khu 5, là Bắc Bình Định, Nam Quảng Ngãi, bao gồm các huyện như An Lão, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Vân Canh, Phù Cát, Phù Mỹ, An Nhơn, Tuy Phước thuộc tỉnh Bình Định; Sơn Tịnh, Bình Sơn, Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Cùng với lính Nam Triều Tiên và các lực lượng thuộc ngụy quyền Sài Gòn, nên có thể nói mật độ của các sắc lính ở đây rất cao.
Cả miền Nam tràn ngập lính Mỹ, và quân Đồng minh với Mỹ. Riêng lính Mỹ, đã có lúc lên đến nửa triệu tên.
Sư đoàn Bộ binh 3 Sao Vàng tác chiến trên chiến trường Khu 5, chủ yếu là hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi. Trong hai mùa khô đỏ lửa (1966 - 1967) chúng tôi đã phải giáp mặt với Sư đoàn không vận số 1 và Sư đoàn Mãnh Hổ lính Đại Hàn, là những lực lượng ngoại bang, mạnh nhất, thiện chiến nhất, hung bạo nhất lúc bấy giờ. Cuộc chiến diễn ra rất ác liệt và không cân sức Cả hai bên đều thương vong cao. Chiến thắng của sư đoàn 3 ở Bồng Sơn, Thuận Ninh, chợ Cát, chợ Gồm, đồi Mười, Quy Thuận, An Lão, Hoài Ân, suối Đá Tượng, Long Giang, Lộc Giang, Xuân Sơn và nhiều nơi khác đã ghi vào lịch sử của sư đoàn 3 nói riêng, của quân đội ta nói chung1.
Cùng với việc máy bay B52 rải bom xuống các vùng rừng núi, nông thôn, làng mạc của miền Trung, địch còn dùng máy bay phun chất độc hóa học làm trụi lá cây, hoa màu, hủy diệt sự sống. Song song với các hoạt động về quân sự, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn ráo riết thực hiện chính sách dồn dân vào các ấp chiến lược, với âm mưu “tát nước, bắt cá”, đẩy lực lượng ta ra khỏi đồng bằng để dễ dàng tiêu diệt bằng chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận”. Các lực lượng liên quân Mỹ - Ngụy - chư hầu càn quét liên tục, chà đi xát lại khắp nơi... Cái danh từ “Mỹ Lết”, hay địa danh “Dốc Lết”, có thể cũng được sinh ra từ âm mưu thủ đoạn của giặc Mỹ lúc này.
Ngoài các thủ đoạn đánh phá ta về quân sự, đế quốc Mỹ và chính cjuyền tay sai còn tiến công ta bằng một thủ đoạn hết sức nham hiểm là đánh vào tinh thần tư tưởng. Chúng mở những trung tâm “chiêu hồi” và cái gọi là các “lớp cải huấn” hòng làm lung lạc ý chí chiến đấu của quân ta. Trong khi trên chiến trường cuộc chiến đấu giữa ta và địch rất gian khổ ác liệt; và trong khi địch đẩy mạnh chiến dịch dồn dân, hàng ngày chúng dùng máy bay L19, máy bay trực thăng phát đi những băng ghi âm kêu gọi bộ đội ta đầu hàng, chạy về với “chính nghĩa quốc gia”, vào các trung tâm “chiêu hồi”. Trong thực tế cũng đã có một số ít bộ đội, du kích ta, không chịu nổi ác liệt, đã buông súng, đầu hàng giặc. Tôi còn nhớ, sau khi đi điều tra căn cứ Gò Loi, một căn cứ vững chắc nhất ở huyện Hoài Ân, một trinh sát do sợ quá đã chạy theo giặc... Hoặc ở nơi này, nơi khác, có một số giảm sút ý chí chiến đấu, nằm im chờ thời cơ thuận lợi với tư tưởng cầu an.
Có những tình huống bất ngờ, mà lúc đầu bộ đội ta cũng phải trả giá bằng xương máu do những thủ đoạn vô cùng nham hiểm của kẻ địch: Có một lần, tại một cửa khẩu (nơi giáp ranh giữa miền núi và đồng bằng, là nơi các lực lượng vận tải hậu cần của các đơn vị thường qua lại để vận chuyển lương thực, thực phẩm từ đồng bằng lên căn cứ) thuộc một vùng kiểm soát của Sư đoàn Mãnh Hổ, Đại Hàn, khi đài quan sát của ta phát hiện một toán lính “mang ba lô” quàng áo mưa, băng qua cánh đồng trống vào chân núi. Khi tạnh mưa, cũng toán lính đó đi ra khỏi khu vực chân núi. Anh em ta cứ đinh ninh cho rằng địch đã rút, đường xuống núi đã an toàn, liền cho bộ đội xuất phát một cách rất chủ quan. Khi ra khỏi bìa rừng thì đội hình lọt ngay vào ổ phục kích của địch. Tất nhiên là ta bị tổn thất nặng nề, vì phần lớn lực lượng này là lực lượng phục vụ chiến đấu, trang bị vũ khí ít, lại bị bất ngờ do chủ quan, mất cảnh giác, trong khi kẻ địch đã có sự theo dõi quy luật của ta và chuẩn bị một cách chu đáo và nham hiểm.
Sau khi bị cú bất ngờ đó, chúng tôi được biết, lợi dụng trời mưa, toán địch đó, cứ mỗi tên cõng theo một tên, trùm áo mưa lên để cho đài quan sát của ta tưởng là chúng mang ba lô hoặc vũ khí. Sau khi vào đến chân núi, chúng để lại những tên đã được cõng vào, phục kích, còn lại công khai đi ra.
Lính Mỹ cũng nham hiểm không kém lính Đại Hàn. Chúng phục kích trên các đường mòn. Khi anh em ta bị hy sinh, chúng cho trực thăng chở các toán lính khác đến, chở toán này về căn cứ. Bộ đội ta cứ tưởng là trực thăng xuống bốc quân rút đi. Khi ta quay lại để đưa tử sĩ về chôn cất thì bọn địch đã được máy bay trực thăng đổ xuống, cài lại nổ súng, và anh em ta lại bị thương vong tiếp.
Cũng như nhiều địa phương trên cả nước, ở Liên khu 5, mỗi tỉnh đều có một đặc sản riêng, thế mạnh về kinh tế riêng: Quế ở Quảng Nam, đường ở Quảng Ngãi (đường phèn), lúa Phú Yên, cà phê Đắc Lắc... Tỉnh Bình Định nổi tiếng về dừa là thế, “Tam Quan bóng mát, xanh tươi rừng dừa”. Rừng dừa bạt ngàn trải dài từ Tam Quan, đến các xã Hoài Châu, Hoài Sơn, Hoài Hảo, Hoài Ân, phía tây quốc lộ số 1 - xuống đến tận Hoài Thanh, Hoài Hương, Phù Mỹ, Phù Cát, phía đông đường số 1, v.v... đâu đâu cũng thấy dừa và dừa. Từ trên máy bay nhìn xuống, bạn sẽ thấy những rừng dừa xanh tươi bát ngát, xen lẫn với những cánh đồng ruộng lúa chín vàng và những dòng sông, lũy tre bao quanh những khu nhà ngói mới... tạo nên bức tranh tuyệt đẹp của vùng đồng bằng Khu 5. Dừa ở đây được sử dụng hầu như không bỏ đi một cái gì. Nước dừa dùng để uống, cùi dừa ép dầu, chế biến thành thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày, làm xà phòng, kẹo bánh; sọ dừa làm gáo, làm than hoạt tính trong công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao; lá dừa lợp nhà, cây dừa làm khung nhà không thua loại gỗ tốt, xơ dừa làm dây thừng, làm võng... Trong chiến tranh cây dừa làm công sự, tránh bom, đạn của địch và các công trình chiến đấu của bộ đội.
Thế mà chỉ trong một thời gian ngắn, do chất độc hóa học của Mỹ, màu xanh của rừng dừa bị biến mất, chỉ còn lại thân cây. Hàng triệu cây dừa đã bị giết chết, cụt ngủn, chọc lên trời.
Vùng giáp ranh các huyện An Lão, Hoài Ân, Nghĩa Điền, Dốc Lết, Kim Sơn, Xuân Phong, An Đỗ thuộc tỉnh Bình Định; Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Đức Phổ... thuộc tỉnh Quảng Ngãi, là trọng điểm của chiến dịch phát quang, dồn dân của địch. Đồng ruộng, hoa màu, cỏ cây, nương rẫy khô héo. Còn chút hoa màu nào sót lại cũng không có người thu hoạch. Chất độc hóa học tan trong nước, thấm vào đất đai, vào các lớp tế bào của cây cỏ, củ đậu, hạt lúa, quả dừa, từ đó len lỏi vào cơ thể con người để lại di chứng qua bao thế hệ không dễ gì xóa đi được. Đó là những hậu quả của cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai gây ra cho nhân dân ta nói riêng và loài người nói chung phải gánh chịu...
Nhân dân bị dồn vào các ấp chiến lược, bộ đội ta gặp rất nhiều khó khăn về lương thực.
Chúng tôi phải thay đổi phương thức tác chiến trong từng trận chiến đấu, từng đợt hoạt động, từ tác chiến tập trung, đến phân tán, linh hoạt. Đội hình Sư đoàn Bộ binh số 3 phải cơ động liên tục. Khi thì ở tỉnh Quảng Ngãi, lúc thoắt xuống Bình Định. Có những lúc Sở chỉ huy Sư đoàn vừa chuyển đến buổi chiều thì buổi tối máy bay B52 đến “rải thảm”... Tháng 3 năm 1967, Sở chỉ huy Sư đoàn đóng tại Dốc Lá Lốt, khu vực Sông Re, bị máy bay B52 đến ném bom, phải di chuyển đến Vực Lim (đông nam Ba Tơ 10 km). Đài kỹ thuật báo tin địch sẽ cho máy bay B52 đến ném bom. Sở chỉ huy phải di chuyển gấp về Sa Lung, huyện An Lão (phía Bắc tỉnh Bình Định). Vừa đến Sa Lung hôm trước, hôm sau máy bay B52 đến “rải thảm”. Hồi đó có tin địch đã cài được gián điệp vào nội bộ ta...
Pháo đài bay B52 là loại máy bay chiến lược, bay ở độ cao trên 10000 m. Song, trên chiến trường Khu 5, B52 đã như loại máy bay chiến thuật, có thể ném bom chính xác trong mọi điều kiện, địa hình, thời tiết... phục vụ trực tiếp các chiến dịch “tìm diệt” của liên quân Mỹ và đồng minh trên chiến trường.
Phương châm chiến lược của ta lúc bấy giờ là kết hợp “Hai chân, ba mũi”, bao gồm: Quân sự - Chính trị - Binh vận. Phương châm này đã được quán triệt ở mọi đơn vị, từ Quân khu đến tận cơ sở. Đây là sợi chỉ đỏ, xuyên suốt quá trình đấu tranh vũ trang trong cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, trên khắp các chiến trường. Nổi bật nhất là trong hai mùa khô 1966 - 1967, rồi đến cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam sau này.
Tại các vùng nông thôn, bộ đội chủ lực sát cánh với bộ đội địa phương và dân quân du kích cùng với “đội quân tóc dài” tiến công địch khắp nơi, bằng quân sự kết hợp với binh vận, vận động binh lính địch đầu hàng, phản chiến, chạy về với đội ngũ cách mạng. Tại các đô thị, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo, của học sinh, sinh viên liên tục nổ ra, gây cho địch nhiều lúng túng. Các đơn vị biệt động đã đánh nhiều trận ngay trong sào huyệt của địch, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề. Chưa có thời kỳ nào phương thức tác chiến lại phong phú như thế, phong trào đấu tranh, chống Mỹ lên cao như thế...
Từ kinh nghiệm đánh Mỹ của quân và dân Quảng Nam (ngọn cờ đi đầu diệt Mỹ của cả nước), tư tưởng chỉ đạo tác chiến lúc này là “Bám thắt lưng địch mà đánh”. Lợi dụng ưu thế về địa hình rừng núi, bộ đội ta phát huy sở trường đánh đêm để tập kích tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch phá huỷ phương tiện chiến tranh của chúng. Kết hợp đánh vừa và đánh nhỏ, tiến công mọi nơi, mọi lúc, tiến công liên tục, đều khắp cả ba vùng chiến lược và tận hang ổ của chúng. Ta đã tạo được thế bố trí, xen kẽ với địch, nên đã hạn chế được sức mạnh của pháo binh, máy bay trên phạm vi từng khu vực, từng trận chiến đấu cụ thể. Muốn tiêu diệt được xe tăng, ta ít thương vong, phải đánh gần, khoét sâu điểm yếu cơ bản của xe tăng, tiếp cận “góc chết”, góc an toàn dùng thủ pháo, lựu đạn và súng phóng hỏa tiễn mà tiêu diệt.


