TRƯỚC KHI TIẾNG PHÁO VANG LÊN
TRƯỚC KHI TIẾNG PHÁO VANG LÊN
Hồi ức của thương binh Trần Văn Vực – người lính công binh trong những ngày lặng thầm trước cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979.
Cuối năm 1978, khi nhiều người tin rằng đất nước đã bước hẳn vào một thời kỳ yên bình sau những thập kỷ bom đạn, thì nơi biên cương phía Bắc, hòa bình chỉ là một lớp sương mỏng. Từ những lãnh đạo cấp cao đến những người lính nơi núi rừng lạnh giá cảm nhận rất rõ: chiến tranh đang đến gần.
Nó chưa xuất hiện bằng tiếng pháo hay khói lửa, mà bằng những điều rất nhỏ: những đoàn quân đối phương tăng dần bên kia đường biên, những lần trinh sát lặng lẽ, những ánh mắt cảnh giác không rời tay súng. Một cảm giác bất an len lỏi trong từng đêm rừng, nặng nề và dai dẳng.
Trong những người lính có mặt nơi tuyến đầu khi ấy có ông Trần Văn Vực, sinh năm 1958, quê Lý Nhân, Hà Nam (nay sinh sống tại phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai). Vừa tốt nghiệp lớp 10, ở cái tuổi mà nhiều người còn đang ấp ủ những ước mơ rất đỗi đời thường, ông khoác ba lô lên đường nhập ngũ. Đơn vị của ông là Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, đóng quân tại Na Lốc, Mường Khương, Lào Cai – một vùng biên giới heo hút, núi rừng hiểm trở, theo địa giới hành chính của thời kỳ đó.
Năm 1978, trước yêu cầu nhiệm vụ mới, ông được cử đi học công binh – lực lượng âm thầm nhất, nhưng cũng đối diện với hiểm nguy nhiều nhất. Công binh mở đường giữa bom mìn, dựng công sự trong tầm hỏa lực, gài mìn và gỡ mìn – nơi cái chết luôn ở khoảng cách rất gần, đôi khi chỉ bằng một bước chân lệch hướng.
Khóa huấn luyện dự kiến kéo dài 18 tháng. Nhưng lịch sử không chờ đủ thời gian. Khi tình hình biên giới Việt – Trung ngày càng căng thẳng, đối phương liên tục tăng quân, áp sát và khiêu khích, toàn bộ kế hoạch buộc phải thay đổi. Chương trình huấn luyện bị rút ngắn tối đa. Những người lính trẻ chưa kịp học trọn giáo trình đã phải trở về đơn vị, mang theo kiến thức cấp tốc để bước thẳng vào thực địa – chuẩn bị chiến tranh.
Không có khoảng lặng cho sự bỡ ngỡ. Từ thao trường dã chiến, họ bước thẳng ra chiến trường thầm lặng.
Đầu tháng 1 năm 1979, đơn vị công binh của ông Trần Văn Vực triển khai nhiệm vụ tại khu vực Km 6, vùng Mành Trúc, đối diện trực tiếp với các cao điểm bên kia biên giới Trung Quốc. Địa hình nơi đây rừng núi chằng chịt, suối nhỏ đổ về biên giới, được xác định là một trong những hướng tiến công trọng yếu nếu chiến tranh nổ ra.
Ông cùng đồng đội phối thuộc với Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2, tổ chức gài các loại mìn: mìn vướng, mìn đè, mìn tăng… tạo thành tuyến cảnh báo, ngăn chặn từ xa. Điều kiện vô cùng thiếu thốn. Nhờ có sự hỗ trợ của lực lượng lâm sinh mà việc đào hố, chôn cọc, căng dây thép gai, gài mìn hoàn thành. Ban ngày căng dây, gài mìn; ban đêm rà soát lại toàn bộ sơ đồ trận địa trong ánh đèn pin mờ và hơi sương lạnh buốt.
Trong khu vực gài mìn có khoảng 6–7 hộ dân sinh sống. Đó là một bài toán không dễ có lời giải. Giữ dân ở lại thì nguy hiểm tính mạng. Di dời quá sớm lại dễ gây hoang mang, lộ bí mật quân sự. Bộ đội phải làm công tác tư tưởng rất kiên trì, mềm mỏng. Vẫn sinh hoạt bình thường, giữ cho dân yên tâm. Chỉ đến thời điểm phù hợp, mới vận động bà con rời đi tạm thời.
Mỗi bãi mìn hoàn thành là một lần bước qua ranh giới sống – chết.
Có lần, khi ông Trần Văn Vực đang cúi vẽ sơ đồ mìn thì trượt chân vì lớp lá mục. Tiếng đồng đội thét lên trong khoảnh khắc. Chỉ cách quả mìn chừng hai mươi phân. Những quả mìn thời đó phần lớn không có cơ cấu tháo an toàn. Một sai sót nhỏ cũng đủ khép lại cả cuộc đời.
Có những mỏm đất nhô ra sát suối biên giới, địa hình quá độc lập và quá nguy hiểm. Dù đã có hầm hào, ông vẫn quyết định gài mìn phong tỏa hoàn toàn rồi báo cáo đơn vị: coi như bỏ điểm, chỉ quan sát từ xa theo hướng quy định. Giữ người còn quan trọng hơn giữ một vị trí có thể trở thành tử địa.
Nguy hiểm không chỉ đến từ mìn. Ở biên giới lúc bấy giờ, mọi thứ đều bị ràng buộc bởi những giới hạn chính trị – quân sự. Bộ đội ta đi làm nhiệm vụ có súng, nhưng không được nổ súng. Chỉ một phát súng bắn trước, dù trong tình huống nguy hiểm, cũng có thể bị đối phương lợi dụng để leo thang xung đột. Vì thế, người lính phải giữ bình tĩnh đến cùng – quan sát, kiềm chế, bảo vệ; khi tình thế quá căng thẳng, buộc phải rút lui.
Đó là một cuộc chiến không tiếng súng, nhưng căng thẳng đến nghẹt thở.
Khi các trận địa mìn hoàn tất, lực lượng công binh rút đi. Những quả mìn nằm lại trong lòng đất lạnh, trong sương mù và giá rét, như những người lính vô danh lặng lẽ canh giữ biên cương.
Rồi rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, tiếng nổ dữ dội vang lên dọc tuyến biên giới phía Bắc. Trung Quốc chính thức nổ súng xâm lược Việt Nam.
Khi ấy, những người lính công binh như ông Trần Văn Vực hiểu rất rõ: cuộc chiến này không bắt đầu từ sáng hôm đó. Nó đã bắt đầu từ những ngày cuối năm 1978 – từ những khóa huấn luyện bị rút ngắn, từ những bãi mìn âm thầm chôn sẵn trong lòng đất, từ sự dự báo sớm và quyết đoán của những người chỉ huy, và từ sự sẵn sàng hy sinh không cần gọi tên của những người lính nơi tuyến đầu.
Lịch sử có thể được ghi lại bằng mốc thời gian, bằng bản đồ tác chiến. Nhưng với những người đã đi qua những ngày ấy, ký ức còn lại là mùi đất ẩm khi chôn mìn, là tiếng lá khô vỡ dưới chân, là cảm giác lạnh sống lưng khi biết chỉ cần lệch một bước là không còn ngày trở về.
Đó là những ngày im lặng trước cơn bão lửa. Và chính sự im lặng ấy đã giữ cho biên cương Tổ quốc được đứng vững. Hôm nay, khi được sống trong hòa bình, thế hệ trẻ càng hiểu rằng sự bình yên này không tự nhiên mà có, mà được đánh đổi bằng mồ hôi, máu xương và những hy sinh lặng thầm của cha anh đi trước.


