TRƯỚC NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN Ở HẢI PHÒNG
Sau thắng lợi của phe Đồng minh, cách mạng Tháng Tám bùng nổ, tác giả tham gia giành chính quyền ở Tràng Định (Lạng Sơn), rồi về Hà Nội trong không khí tưng bừng độc lập. Đầu tháng 9/1945, ông được cử làm Tư lệnh Chiến khu 3 (duyên hải Bắc Bộ), phụ trách xây dựng, đoàn kết lực lượng và bảo vệ chính quyền non trẻ trước nhiều thế lực: tàn quân Pháp, Quốc dân đảng, thổ phỉ và quân Tưởng. Ông cùng lực lượng vũ trang tổ chức trinh sát, đánh chiếm lại Móng Cái – Hà Cối, ổn định vùng duyên hải từ Thái
Sau khi Hồng quân Liên Xô và phe đồng minh thắng Phát xít Đức và Đế quốc Nhật, Đảng ta đã ra kêu gọi toàn quốc chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, cả nước ta dấy lên khí thế cách mạng rất sôi sục, với nhiều hoạt động vũ trang và chính trị công khai đêm ngày. Trong khi nhiều đồng chí khác được tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở thủ đô Hà Nội, thì chúng tôi lại tham gia cướp chính quyền ở Tràng Định (Lạng Sơn). Mặc dù không được chứng kiến không khí cướp chính quyền ở Hà Nội, nơi đông dân, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, song tâm trạng anh em chúng tôi rất phấn khởi lòng tưng bừng rộn rã với niềm tin sâu sắc trước khí thế sôi sục của cả nước bước vào cuộc đời mới.
Tình hình cách mạng lúc bấy giờ diễn ra hết sức mau lẹ, có thể tính bằng ngày, bằng giờ. Quả thật khi tôi về đến Lạng Sơn thì lúc này ở đây đã hoàn thành việc cướp chính quyền rồi. Ít ngày sau đó, tôi cùng anh Đàm Minh Viễn về Hà Nội. Về đây chúng tôi lại được gặp anh Hoàng Văn Thái, anh Đàm Quang Trung. Gặp nhau ai nấy tay bắt mặt mừng, vì đã lâu lắm rồi, sau nhiều năm tham gia cách mạng gian khổ, giờ đây chúng tôi mới thực sự được hoà với mềm vui chung của mọi người ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội. Lúc này Hà Nội vẫn còn đọng lại không khí tưng bừng của ngày hội khởi nghĩa. Ngồi trong nhà, chúng tôi vẫn còn được trông thấy các cháu thiếu niên tay cầm cờ đỏ sao vàng ríu rít trên đường phố, vừa đi vừa hát vang bài Tiến quân ca giục giã lòng người, trong lòng tôi lại rạo rực khí thế tưng bừng sục sôi của cách mạng.
Đầu tháng 9 năm 1945 thì Bộ Quốc phòng cử tôi về làm Tư lệnh chiến khu 3 - vùng duyên hải Bắc Bộ. Lúc đó anh Lê Quang Hòa là phái viên chính trị, được trên cử về trước tôi để nhận bàn giao công việc với anh Nguyễn Bình để anh ấy đi nhận nhiệm vụ mới ở miền Nam. Vào một buổi chiều, có đồng chí đến báo cho tôi là đi Hải Phòng; Tôi ngạc nhiên hỏi lại là chiều rồi thì còn đi sao được? Đồng chí ấy trả lời là đi bằng ô tô. Lúc đó tôi mới sực nhớ ra là mình đã bị thói quen đi bộ trên rừng "thôi miên" mất rồi. Khi tôi về tới Hải Phòng tiếc là không gặp được anh Nguyễn Bình.
Chúng tôi về đến Hải Phòng thì ở đây nhân dân đã cướp chính quyền xong. Ở Hải Phòng, lúc này chúng tôi có tiếp một đồng chí du kích ở phía Nam Trung Quốc sang. Anh tên là Trần Quang - người của đảng Cộng sản Trung Quốc cử sang liên lạc với ta, cùng với ta bàn kế hoạch hiệp đồng tác chiến trên biên giới phía nam Trung Quốc, giáp với Việt Nam. Đó là vùng biên giới Quảng Đông - Quảng Tây. Thời gian ở Hải Phòng, anh ăn nghỉ với chúng tôi ở bộ chỉ huy chiến khu 3 rất thoải mái và an toàn. Nói vậy là vì, khởi nghĩa vừa xong bọn Lam y (y phục màu lam - tình báo của Tưởng) vẫn còn hoạt động rất nguy hiểm. Chính bọn Lam y cũng định ám sát Uông Tinh Vệ ở Hà Nội. Sau đó ta có đưa anh ấy về Trung ương.
Bấy giờ, tôi đã nhận một trách nhiệm mới rất nặng nề, khó khăn: phụ trách một địa bàn lớn, với bao công việc chồng chất, phức tạp. Ở cương vị này, chắc chắn không chỉ riêng tôi mà bất kỳ ai cũng phải lo lắng, trăn trở, suy nghĩ rất nhiều.. Lo sao cho mình hoàn thành được nhiệm vụ và trách nhiệm trên cương vị mới. Lo là vì, từ một người phụ trách cương vị nhỏ, vài chục người, với lối hoạt động du kích, đánh nhỏ lẻ trên một địa bàn hẹp, nay lại phụ trách đơn vị trên một địa bàn rộng. Đó là những công việc hoàn toàn mới mẻ và thật sự là một thử thách lớn đối với tôi. Lúc này, ta mới thành lập chiến khu 3, nhiệm vụ trọng tâm của chúng tôi là phải tập hợp đoàn kết được anh em càng nhiều càng có sức mạnh. Phần đông anh em về với chiến khu là các anh em ở chiến khu Đông Triều cũ và một số anh em khác từ các vùng lân cận trở về, đây là lần đầu tiên biết nhau. Anh em tham gia bộ đội là những người yêu nước, mong nước nhà độc lập, thoát khỏi ách nô lệ thực dân. Trong hàng ngũ bộ đội có những đồng chí là nông dân, công nhân, các sĩ quan hạ sĩ quan và binh lính yêu nước trong quân đội Pháp và có cả những anh em một thời là "anh hùng hảo hán" ở đất cảng, do có lòng yêu nước, quý mến Vệ quốc quân, ưa thích hành động dũng cảm. Ngoài ra còn có những thanh niên, sinh viên yêu nước. Trong số đó có cả một số anh em là con quan tổng đốc tuần phủ, như anh Lê Tôn Hy con một ông quan tuần phủ quê ở Hưng Yên; anh chiến đấu rất dũng cảm sau làm tiểu đoàn trưởng và bị hy sinh trong một trận ở Từ Ô (Tứ Hồ) Hưng Yên năm 1947. Phải thường xuyên đi sát anh em, gần gũi để tìm hiểu, để đoàn kết được anh em trong một khối thống nhất, đó là trách nhiệm của người chỉ huy mà tôi luôn ý thức được trong quá trình công tác của mình. Đó cũng là một yếu tố quan trọng để tiến hành công tác được thuận lợi và đạt kết quả tốt. Đây là một bức tranh sinh động và kỳ vỹ của một dân tộc đoàn kết đứng lên đấu tranh để giành và giữ quyền độc lập tự do của mình. Nó thể hiện đúng lời nói bất hủ của Hồ Chủ tịch là "Không có gì quí hơn độc lập tự do". Đảng ta đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và nêu lên chân lý sáng ngời, nên đã đoàn kết được toàn dân tộc.
Nhiệm vụ của chúng tôi lúc này là vừa ổn định tổ chức vừa phải tìm cách đối phó với bọn tàn quân Pháp còn lảng vảng ở một số đảo đang chiếm giữ ngoài vịnh Hạ Long; phải chống lại bọn Quốc dân đảng, bọn thổ phỉ và cả quân Tưởng nữa. Đối với quân Tưởng, nhiệm vụ chủ yếu của ta là cùng nhân dân giữ gìn chính quyền non trẻ của mình, chống sự cướp bóc quấy nhiễu nhân dân của chúng. Mặt khác lại phải hạn chế đến mức tối đa khả năng xung đột vũ trang với chúng. Đó là mâu thuẫn cần được giải quyết hết sức khôn khéo, mềm mỏng và đó cũng là sách lược trong việc đấu tranh phân hoá hàng ngũ kẻ thù mà Đảng và Hồ Chủ tịch đã chỉ bảo.
Lúc này, do phong trào cách mạng của ta đang ở thế mạnh nên bọn Quốc dân đảng cũng không còn hoạt động mạnh như trước nữa. Riêng ở vùng Quảng Yên tuy lực lượng Quốc Dân đảng đã cướp được chính quyền ở một vài nơi, nhưng ta đã cử lực lượng vũ trang đến và cùng với nhân dân địa phương đã giành lại được chính quyền ở những nơi đó. Với bọn tàn quân Pháp ở đảo Cô Tô, có bị ta tổ chức đánh nhưng chúng hơn ta về tàu chiến và các loại vũ khí khác, nên ta không đánh lui được chúng, chỉ có thể hạn chế tối đa khả năng chúng không mở rộng chiếm đóng được nữa. Trái lại, lúc này gay go nhất đối với ta vẫn là bọn thổ phỉ. Bọn chúng đã chiếm được hai vùng Móng Cái và Hà Cối. Hai vùng này nằm dưới sự kiểm soát của bọn thổ phỉ, đứng đầu chỉ huy là tên Vũ Kim Thành. Còn ta vẫn giữ được Tiên Yên, Đầm Hà. Chủ trương của Trung ương và Bộ Quốc phòng là phải chiếm lại được hai vùng Móng Cái và Hà Cối. Yêu cầu đó thật nặng nề, song chúng tôi đã xác định quyết tâm và tích cực tìm mọi cách thực hiện.
Để đánh chiếm được Móng Cái, Hà Cối, cần phải có kế hoạch điều tra, nắm tình hình thực tế thật cụ thể, tỉ mỉ. Đối với chúng tôi, điều này cần thiết hơn bao giờ hết, vì vùng này đã lâu chúng tôi không hoạt động. Biết được băn khoăn lo lắng của chúng tôi, trên Trung ương đã giới thiệu tôi với người cháu của ông Trần Tề Đường, ông Đường lúc đó là Tổng đốc Lưỡng Quảng (vùng Quảng Đông và Quảng Tây). Tôi đã gặp người đó ở Hà Nội và sau đó anh ta cùng tôi và một đồng chí cán bộ nữa đi sang Đông Hưng. Hoạt động trinh sát của chúng tôi là ban đêm chúng tôi ăn nghỉ ở Đông Hưng, ban ngày trở lại Móng Cái để quan sát và nắm tình hình. Vì thị trấn Đông Hưng và thị trấn Móng Cái nằm hai bên bờ sông chỉ cách nhau có một chiếc cầu, nên việc đi lại của chúng tôi phần nào cũng có thuận lợi. Có lần anh ta đã dẫn chúng tôi vào cả khu doanh trại của bọn thổ phỉ. Vì thế chúng tôi nắm tình hình địch khá cụ thể tỉ mỉ.
Sau khi nghiên cứu và nắm chắc tình hình địch, chúng tôi trở về Tiên Yên bàn kế hoạch với Trung đoàn Vệ quốc quân đóng ở Tiên Yên và Đầm Hà. Trung đoàn này do đồng chí Đinh Thịnh làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Đàm Quang Thìn là chính trị viên Trung đoàn. Do công tác chuẩn bị chu đáo nên trận đánh Hà Cối – Móng Cái thắng lợi nhanh gọn. Sau trận này, về phía chính quyền, Trung ương có cử anh Vũ Đình Đức giữ chức chủ tịch tỉnh Hải Ninh.
Như vậy, lúc này ta đã giải phóng được cả vùng Duyên hải Khu 3 từ Thái Bình đến Móng Cái. So với trước tình hình có phần nào ổn định, mặc dù trên thực tế vẫn còn bọn tàn quân thổ phỉ lén lút hoạt động ở vùng rừng núi. Tôi lúc đó phải thường xuyên viết thư tướng thổ phỉ tên là Nghiêm Cảnh Đông ở Tiên Yên, nên dần dần cũng cảm hoá được. Họ cũng nằm im không hoạt động như trước nữa.
Nước ta mới giành được độc lập, nhân dân ta tràn ngập niềm vui sướng hân hoan, nhưng từ sau ký Hiệp định sơ bộ với Pháp (6/3/1946) tinh thần của mọi người càng nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với tai hoạ xâm lược mới đang rình rập phía trước. Trong lịch sử dân tộc ta chưa bao giờ lại có nhiều thù trong, giặc ngoài mạnh như thế, đóng ngay trên đất nước ta, hàng ngày hàng giờ uy hiếp nền độc lập của dân tộc và chính quyền cách mạng của ta.
Với dã tâm xâm lược đất nước ta một lần nữa, núp phía sau danh nghĩa Đồng minh, quân Pháp từng bước mở rộng chiến tranh, nhanh chóng tăng cường đạo quân Viễn chinh trên chiến trường Đông Dương.
Sau khi gây hấn ở Nam Bộ, Trung Bộ, nuốt lời hứa trong Hiệp định sơ bộ, gạt bỏ mọi khả năng thương lượng quân Pháp âm mưu chuyển sang giai đoạn bình định và tiến quân ra Bắc.
Hải Phòng là cửa ngõ chính của Bắc Bộ, là đầu cầu của quân xâm lược Pháp. Với vị trí chiến lược quan trọng như thế, nên sự đối đầu giữa ta và địch ở Hải Phòng là rất quyết liệt và phải là trước tiên. Ở Hải Phòng, lực lượng quân Pháp ngày càng được tăng cường, có lục quân, hải quân và một số máy bay. Tình hình Hải Phòng ngày càng trở nên căng thẳng. Quân Pháp ngày càng kiêu căng, ngạo mạn. Chúng ngang nhiên cướp bóc, bắn giết bừa bãi, uy hiếp chính quyền ta, lấn chiếm mở rộng vị trí chiếm đóng, vi phạm rồi phá hoại các hiệp định đã ký kết. Ta đã hết sức cố gắng hạn chế các cuộc xung đột để kéo dài hoà hoãn, chuẩn bị kháng chiến. Sau mỗi lần đàm phán, sự yên ắng ấy chỉ được mấy ngày, rồi những vụ khiêu khích, gây rối mới lại nổ ra, và lần sau lại bùng to hơn lần trước. Sự khiêu khích gây rối của quân Pháp ngày càng bộ lộ rõ âm mưu chiến tranh của chúng. Để chuẩn bị đối phó, Hải Phòng đã tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân gồm các đơn vị công an xung phong và các đơn vị tự vệ ở khu phố và Xí nghiệp. Toàn dân Hải Phòng sôi sục lòng yêu nước, chuẩn bị kháng chiến, thanh niên nô nức tham gia Vệ quốc đoàn, công an xung phong, tự vệ chiến đấu. Công tác huấn luyện cho các lực lượng vũ trang cũng diễn ra rất khẩn trương. Các tầng lớp nhân dân đều sôi nổi tích cực ủng hộ và thiết thực tham gia đào hầm, đào ngách đục tường trong các dãy phố và chuẩn bị rào cản ở các ngả đường.
Một vấn đề nổi lên trong tình hình thời sự lúc đó là vũ khí. Trang bị vũ khí cho lực lượng vũ trang gặp rất nhiều khó khăn. Ta hoàn toàn phải tự giải quyết. Nếu trước đây, vũ khí trang bị của ta có được là do lấy được của quân Pháp và quân Nhật trong cuộc tổng khởi nghĩa Tháng tám, thì bây giờ ta phải mua vũ khí của quân Tưởng, quân Nhật và một số vũ khí quân Pháp còn sót lại để trang bị cho lực lượng vũ trang. Lúc này ở Hải Phòng là cái chợ Trời về mua bán vũ khí của quân Tưởng và quân Nhật. Người ta bán súng bán đạn như người ta bán ốc bán rau. Các loại vũ khí bộ binh nhẹ được bày bán la liệt. Không phải chỉ có dân Hải Phòng mua, mà dân ở nhiều tỉnh khác cũng đổ xô về đây để mua vũ khí. Nhờ đó các lực lượng vũ trang Hải Phòng có điều kiện về trang bị vũ khí khá hơn nhiều địa phương trong nước.
Hải Phòng vốn là một thành phố công nghiệp, nên Đảng bộ và bộ chỉ huy chiến khu 3 có chủ trương, kịp thời di chuyển một số máy móc sơ tán về vùng nông thôn Kiến An, Thuỷ Nguyên để lập xưởng quân giới, rèn đúc vũ khí, nghiên cứu sản xuất bom mìn, lựu đạn, chai xăng Crếp.
Điều bất ngờ là một số công nhân ta đã ra Cát Bà, Đồ Sơn thu lượm pháo 138 ly ở pháo đài cũ của Pháp về nghiên cứu và chế tạo thành công ra mìn đánh xe cơ giới. Lúc bấy giờ cũng xuất hiện một "hiện tượng đặc biệt" có một ông cố đạo với cái tên thật là mềm mại, triết lý, đó là ông Nguyễn Công Lý. Tuy là cha cố nhưng hình như cuộc đời ông rất gần gũi với cuộc sống thường nhật. Tính tình ông rất hiền lành, chất phác, có tinh thần yêu nước, được anh Nguyễn Bình giác ngộ cách mạng đã tham gia chiến khu Đông Triều và sau khi giải phóng cũng tham gia Ban quân giới Chiến khu 3. ông đã cùng anh em công nhân chế tạo sản xuất bom mìn, lựu đạn. Chính ông đã thường làm thử nghiệm, mặc dù bị cụt tay do một lần thử lựu đạn, với bàn tay giả ông vẫn dũng cảm tiếp tục hăng say trong công việc của mình, tích cực chuẩn bị vũ khí cho kháng chiến. Cùng làm việc với cha Lý có ông Lê Quang Thiệu, Trịnh Văn Yên, là công nhân kỹ thuật - Quân giới Chiến khu 3. Các ông đã cùng nhau nghiên cứu chế tạo ra nhiều loại vũ khí như lựu đạn, bom, mìn và đặc biệt chế tạo được cả Bazôka 75 ly để đánh xe tăng, ô tô địch trên đường 5. (Sau rút vào Thanh Hoá bộ phận này còn xây dựng cả lò cao để chế tạo vũ khí). Anh Lê Thanh Nghị bí thư khu uỷ Khu 3 rất chú ý sản xuất vũ khí.
Đến tháng 11 năm 1946, thực dân Pháp tăng thêm quân số bộ lên Đồ Sơn, Cát Bà và Đà Nẵng. Đặc biệt nghiêm trọng là việc chúng thực hiện đánh chiếm Lạng Sơn và Hải Phòng.
Ngày 20 tháng 11 năm 1946, Pháp đánh chiếm Hải Phòng, một cửa ngõ của Bắc Bộ - đầu cầu để xâm lược Bắc Bộ và là nơi quân Pháp có sức mạnh hơn ta và có thế tác chiến thuận lợi. Đằng sau chúng có hải quân và mặt biển làm chỗ dựa và ta thì không thể bao vây được chúng. Quân và dân Hải Phòng đã kiên quyết đánh trả. Cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt. Công an xung phong do đồng chí Trần Thành Ngọ chỉ huy chiến đấu rất dũng cảm làm cho mỗi bước tiến của địch đều bị đánh trả. Quân và dân ta chiến đấu giữ từng khu phố, từng căn nhà. Quân Pháp phải đối phó với nhiều lực lượng cùng một lúc. Đặc biệt đội vũ trang tuyên truyền Khu 3 chiến đấu ở Nhà hát thành phố với tinh thần cách mạng rất cao, đã tiêu diệt nhiều giặc Pháp kể cả sĩ quan. Đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Đạo phụ trách tuy trang bị vũ khí ít, song đã biết phối hợp với đội tự vệ nhà máy nước do đồng chí Nở chỉ huy chiến đấu quyết liệt với quân Pháp có trang bị xe tăng và nhiều vũ khí hiện đại. Trong khi đó anh em công nhân quân giới bằng tìm tòi sáng tạo, dùng các khẩu pháo cũ của Pháp ở Thuỷ Nguyên đã cùng với Vệ quốc quân đánh tàu chiến địch ở bến Bính, làm cho quân Pháp phải phân tán lực lượng không tập trung được phần lớn lực lượng dể đánh vào Trại Cau (Quận Lê Chân). Trong khi đó ta tích cực phát động chiến tranh nhân dân trên toàn địa bàn chiến khu và tích cực sản xuất bom mìn cung cấp cho bộ đội và dân quân. Do có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có một nguyên nhân không kém phần quan trọng là kiến thức chỉ huy tác chiến của ta còn kém, còn ấu trĩ và không bao vây được đường sông và đường biển nên không thể kéo dài được cuộc chiến đấu, mà chỉ duy trì được trong một tuần lễ ở nội thành. Sự thành công của ta lúc đó là đã chủ động, có kế hoạch xây dựng và bảo vệ hành lang Trại Cau - An Dương - Cầu Niệm - Kiến An, nên khi chiến sự nổ ra trong thành phố thì nhân dân và các cơ quan đã kịp thời rút sang Kiến An được an toàn. Sau khi rút lui ta vẫn tổ chức được những đợt tiến công vào sân bay Cát Bi, Quán Toan, trên đường 5 và phát động chiến tranh nhân dân rộng khắp. Cùng với bộ đội chủ lực từ Trung ương về tăng cường, quân và dân Hải Phòng kịp thời chặn được bước tiến của địch đánh lên Hải Dương trước ngày toàn quốc kháng chiến. Du kích phát triển trên đường số 5.
Cuộc chiến đấu ở Hải Phòng là một trong những nét vẽ tuyệt vời rung động lòng người trong bức tranh hoành tráng về những ngày đầu kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. Đó còn là một phác hoạ đặc sắc về cuộc chiến tranh nhân dân ta chống xâm lược trên địa bàn thành phố Cảng trước ngày toàn quốc kháng chiến. Như đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tác phẩm "Những chặng đường lịch sử" đã viết:
"Trận chiến đấu anh dũng” tại Hải Phòng đã có tác dụng của một cuộc tổng diễn tập thực sự cho trận đánh kéo dài ngày ở Thủ Đô Hà Nội xảy ra sau đó hơn một tháng”.



