Bài viết

Trường Chinh

Trường Chinh (tên thật là: Đặng Xuân Khu; 9 tháng 2 năm 1907 – 30 tháng 9 năm 1988) là một nhà cách mạng, nhà chính trị và lý luận chính trị người Việt Nam. Ông từng đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị như: Chủ tịch Hội đồng Nhà nước giai đoạn 1981–1987, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1941–1956 và 1986, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội giai đoạn 1960–1975 và Chủ tịch Quốc hội khóa V, VI. Ngoài các hoạt động chính trị, Trường Chinh c

An Giang07/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Ông sinh ngày 9 tháng 2 năm 1907 tại thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (nay là xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình). Ông nội ông là cụ Đặng Xuân Bảng, đỗ Tiến sĩ tam giáp đệ nhất danh năm 1856. Cha ông là cụ Đặng Xuân Viện (1880 – 1958), là một nhà nho không thành đạt trong đường khoa bảng, là một thành viên trong nhóm Nam Việt đồng thiên hội, là người biên soạn bộ Minh đô sử (gồm 100 quyển đóng thành sách). Sau này, ông học chữ quốc ngữ và trở thành nhà báo, viết cho nhiều tờ báo lớn ở Hà Nội như: Nam Phong, Trung Bắc Tân Văn, Ngọ Báo. Thân mẫu của Trường Chinh là bà Nguyễn Thị Từ.

Do truyền thống gia đình, được sự giáo dục của cha, từ nhỏ, Đặng Xuân Khu đã làm quen với Tứ thư, Ngũ kinh, thơ Đường và được đào tạo bài bản về văn hóa và lịch sử theo truyền thống Nho học. Khi lớn lên, ông bắt đầu tiếp xúc Tây học và theo học bậc Thành chung tại Nam Định. Rời trường Thành Chung Nam Định, Trường Chinh lên Hà Nội nộp đơn xin theo học Trường Cao đẳng Thương mại thuộc Đại học Đông Dương (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội).

Giữa thời kỳ chuyển đổi chính trị và xã hội ở Đông Dương, đặc biệt là sự lan rộng của hệ thống giáo dục Pháp vào thế kỷ XIX. Trường Chinh được cử đi học ở trường Pháp, đây là điểm khởi đầu cho phong trào chính trị của ông. Năm 1923, ông được cử đi học trường Thành Chung, trường cấp hai đầu tiên của người dân địa phương và dạy theo hệ thống giáo dục phương Tây, đóng tại tỉnh Nam Định. Ở trường, Trường Chinh được truyền cảm hứng từ các tác phẩm của các triết gia Pháp như Jean-Jacque Rousseau và Montesquieu cũng như Cách mạng Pháp năm 1789 và cách mạng Trung Quốc năm 1911. Ở Nam Định, ông sống với một gia đình lao động nghèo làm việc trong nhà máy công nghiệp. Kinh nghiệm thời thơ ấu đã thôi thúc ông thành lập phong trào sinh viên cùng với các bạn cùng trường là Nguyễn Văn Hoan, Đặng Châu Tệ, Phạm Năng Độ, Nguyễn Khắc Lương và Nguyễn Đức Cảnh. Nhóm của ông sau này tham gia phong trào sinh viên ở Bắc Kỳ. Họ xuất bản báo chí nhằm truyền bá tư tưởng của mình về phong trào chống thực dân.

Trong năm 1925, khi còn học ở bậc Thành Chung (nay là trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong, thành phố Nam Định), Đặng Xuân Khu đã tham gia phong trào đấu tranh đòi ân xá cho Phan Bội Châu, lãnh đạo cuộc bãi khóa ở Nam Định để truy điệu Phan Chu Trinh. Năm 1926, do tham gia vào các hoạt động chính trị chống lại Pháp, ông bị trường đuổi học.

Năm 1927, Đặng Xuân Khu chuyển lên Hà Nội, tiếp tục học ở trường Cao đẳng Thương mại và tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Năm 1929, ông tham gia cuộc vận động thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ và trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của đảng này.

Năm 1930, Đặng Xuân Khu được chỉ định vào Ban tuyên truyền cổ động Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm này, ông bị Pháp bắt và kết án 12 năm tù và đày đi Sơn La, đến năm 1936 được trả tự do.

Giai đoạn 1936 – 1939, Đặng Xuân Khu là Xứ Ủy viên Bắc Kỳ cùng Hoàng Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt, đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương trong Ủy ban Mặt trận Dân chủ Bắc Kỳ. Năm 1940, ông được cử làm chủ bút báo Cờ giải phóng, cơ quan của Xứ ủy Bắc Kỳ, kiêm phụ trách các tờ báo tiếng Pháp như Le Travail, Rassemblement, En Avant và báo Tin tức.

Hệ tư tưởng của Trường Chinh được lấy cảm hứng từ Chủ nghĩa Marx và Chủ nghĩa Lenin và ông chịu ảnh hưởng của Hồ Chí Minh, thể hiện qua các tác phẩm của ông về cả hệ tư tưởng cách mạng, chính trị và chiến lược cách mạng như chiến lược và chính sách văn hóa. Theo Đảng Cộng sản, Trường Chinh là ""học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh"", mặc dù không phải lúc nào ông cũng đồng ý với tư tưởng của Hồ Chí Minh.

Có hai lập luận chính về ý thức hệ của Trường Chinh. Thứ nhất, hệ tư tưởng của ông được coi là cấp tiến và dựa trên Mao Trạch Đông nghĩ rõ ràng trong các tác phẩm được công bố của ông và mô hình của chương trình Cải cách ruộng đất mà ông đã mượn từ Trung Quốc. Thứ hai, đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Marx và Lenin làm thành cốt lõi hệ tư tưởng của Trường Chinh, ủng hộ phong trào chống thực dân và không chống lại chủ nghĩa dân tộc. Tư tưởng của ông trước hết chịu ảnh hưởng của khối Xô Viết, sau đó là khối Trung Quốc và được vận dụng vào bối cảnh Việt Nam.

Tại Hội nghị Trung ương 7 họp tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 11 năm 1940, Đặng Xuân Khu được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương cùng Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt và được cử làm Quyền Tổng Bí thư Đảng thay Nguyễn Văn Cừ.

Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị Trung ương 8 họp tại Cao Bằng, ông được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, kiêm Trưởng ban tuyên huấn Trung ương, kiêm Chủ bút báo ""Cờ giải phóng"" và ""Tạp chí Cộng sản"", Trưởng ban Công vận Trung ương. Trên số đầu tiên của tờ Cờ Giải Phóng (Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Đông Dương) ra ngày 10-10-1942 bắt đầu xuất hiện bút danh Trường Chinh.

Tháng 3 năm 1945, Đặng Xuân Khu triệu tập và chủ trì Hội nghị Thường vụ Trung ương (Tổ chức tại Chùa Đồng Kỵ, Từ Sơn, Bắc Ninh) ra Chỉ thị nổi tiếng ""Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta"", xác định thời cơ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong giai đoạn chuẩn bị Cách mạng tháng Tám 1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng do ông chủ trì, ông được cử phụ trách Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn