Trường Chinh - Nhà lãnh đạo kiệt xuất và nhà lý luận tiêu biểu của Đảng trong giai đoạn trước năm 1945
Đồng chí Trường Chinh (1907 - 1988), nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam, học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông sớm dấn thân vào con đường cứu nước và trở thành Tổng Bí thư của Đảng vào tháng 5/1941, gánh vác trọng trách hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc. Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa cam go, đồng chí là người trực tiếp soạn thảo bản Chỉ thị lịch sử "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", thổi bùng cao trào kháng Nhật cứu nước và dẫn đường cho toàn dân chớp t
Trường Chinh - Nhà lãnh đạo kiệt xuất và nhà lý luận tiêu biểu của Đảng trong giai đoạn trước năm 1945
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX, giai đoạn trước năm 1945 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Tại bối cảnh thời điểm bấy giờ, đồng chí Trường Chinh là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng Cộng sản Đông Dương, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng đường lối cách mạng, củng cố tổ chức Đảng và chuẩn bị các điều kiện cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Với năng lực lãnh đạo, tư duy lý luận và sự kiên định về lập trường chính trị, đồng chí đã cùng Trung ương Đảng vượt qua nhiều giai đoạn khó khăn, góp phần đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.
Đồng chí Trường Chinh, tên khai sinh là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1907 tại làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Với truyền thống gia đình hiếu học và yêu nước, ngay từ khi còn là học sinh, đồng chí đã sớm tiếp cận tư tưởng cách mạng và tham gia các phong trào yêu nước, các hoạt động đấu tranh chống thực dân Pháp.
Năm 1925, đồng chí tham gia phong trào vận động đòi chính quyền thực dân Pháp trả tự do cho nhà yêu nước Phan Bội Châu. Năm 1926, đồng chí tham gia lãnh đạo cuộc bãi khóa của học sinh Nam Định để tổ chức lễ truy điệu Phan Châu Trinh. Trong những năm tiếp theo, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và tham gia quá trình thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào đầu năm 1930, đồng chí được phân công công tác tại Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương. Cuối năm 1930, thực dân Pháp bắt giữ đồng chí và kết án 12 năm tù giam, đày ra nhà tù Sơn La. Mặc dù vậy, trong thời gian bị giam giữ, đồng chí vẫn tiếp tục tham gia các hoạt động học tập, tuyên truyền và giáo dục lý luận chính trị cho các đảng viên, góp phần duy trì tổ chức và tinh thần đấu tranh của những người cộng sản trong nhà tù.
Sau khi được trả tự do vào năm 1936, đồng chí Trường Chinh nhanh chóng trở lại hoạt động cách mạng và tham gia Ban Chấp hành Xứ ủy Bắc Kỳ. Đồng chí đóng vai trò nổi bật trên các mặt trận báo chí, tuyên truyền và lý luận của Đảng thông qua nhiều tờ báo cách mạng như Lao động, Tiếng trẻ, Tin tức và Đời nay. Cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí là đồng tác giả tác phẩm Vấn đề dân cày, một công trình nghiên cứu có giá trị về thực trạng nông thôn Việt Nam và vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng. Những hoạt động lý luận và tuyên truyền của đồng chí trong giai đoạn này đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ trương của Đảng và mở rộng ảnh hưởng của phong trào cách mạng.
Tháng 11/1940, trong bối cảnh nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bị địch bắt hoặc hy sinh, đồng chí Trường Chinh được giao đảm nhiệm cương vị Quyền Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trên cương vị này, đồng chí tập trung củng cố hệ thống tổ chức của Đảng, duy trì sự lãnh đạo thống nhất và chuẩn bị cho những chuyển biến mới của phong trào cách mạng. Tháng 5/1941, tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Pác Bó (Cao Bằng), đồng chí chính thức được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị đã xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp lực lượng cho cuộc đấu tranh giành độc lập.
Trong những năm 1941 - 1945, đồng chí Trường Chinh có nhiều đóng góp quan trọng trong việc hoàn thiện đường lối cách mạng và chuẩn bị các điều kiện cho Tổng khởi nghĩa. Năm 1943, đồng chí trực tiếp tham gia xây dựng Đề cương về Văn hóa Việt Nam, văn kiện đặt nền tảng cho đường lối văn hóa của Đảng với ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học và đại chúng. Sau cuộc đảo chính Pháp của Nhật Bản tháng 3/1945, đồng chí chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng và tham gia soạn thảo Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị đã đánh giá đúng tình hình, xác định nhiệm vụ cấp bách của cách mạng và phát động cao trào kháng Nhật cứu nước trên phạm vi cả nước.
Tháng 8/1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào, đồng chí Trường Chinh được giao phụ trách công tác khởi nghĩa trong cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí đã tham gia chỉ đạo việc chuẩn bị và phát động Tổng khởi nghĩa đúng thời cơ khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đưa nhân dân Việt Nam giành được chính quyền trên phạm vi cả nước và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Những hoạt động cách mạng của đồng chí Trường Chinh giai đoạn trước năm 1945 thể hiện vai trò của một nhà lãnh đạo, nhà tổ chức và nhà lý luận quan trọng của cách mạng Việt Nam, là minh chứng về sự kết hợp chặt chẽ giữa tư duy lý luận và thực tiễn hành động. Những quyết sách mang tính bước ngoặt do đồng chí đề xuất và trực tiếp chỉ đạo đã góp phần quyết định vào sự thành công của Cách mạng Tháng Tám, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đối với lịch sử dân tộc và thế hệ mai sau, đồng chí luôn là một biểu tượng mẫu mực về lòng kiên trung, trí tuệ và tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh của quốc gia.


