Trương Định


Trương Định sinh năm 1820 quê ở huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ ông là Lãnh binh Trương Cầm, sinh trưởng trong một gia đình võ quan phong kiến. Ngay từ nhỏ, Trương Định đã tỏ ra xuất sắc hơn người, “tướng mạo khôi ngô, thông hiểu binh thư, kiếm cung rất giỏi”. Năm 1844, ông theo cha vào Nam. Sau khi cha mất, ông chọn Tân An làm nơi lập nghiệp. Năm 1848, ông bắt đầu chiêu mộ những nông dân lưu tán quanh vùng, bắt tay khai hoang lập ấp. Năm 1850, hưởng ứng chính sách khẩn hoang của Nguyễn Tri Phương, ông đứng ra lập đồn điền ở Gia Thuận (Gò Công) và được triều đình Huế phong chức Phó Quản cơ, rồi Quản cơ, hàm chánh Lục phẩm. Từ đây, nhân dân trong vùng thường gọi ông với tên thân mật là Quản Định.
Tháng 9/1858, thực dân Pháp tấn công thành Đà Nẵng, Trương Định vừa tổ chức xây dựng đồn điền, vừa gấp rút chuẩn bị lực lượng đánh Pháp. Tháng 02/1859, Pháp đánh vào Gia Định, Trương Định là người tiên phong và lập nhiều chiến công, diệt nhiều tên địch (đặc biệt đã phục kích giết chết tên Đại úy Barbé (12/1860) và tổ chức bắt giết tên Việt gian tay sai Bá hộ Huy ở Đồng Sơn). Trương Định được làm Chánh Quản cơ, chỉ huy sáu liên đội phòng ngự đồn Chí Hòa. Khi đồn Chí Hòa bị vỡ, các tướng lĩnh Triều đình rút về Biên Hòa “án binh bất động”, còn Trương Định rút về Tân Hòa xây dựng căn cứ, liên kết các văn thân sỹ phu yêu nước, với một địa bàn hoạt động rộng lớn: Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Gia Định, Đồng Tháp Mười,… lan rộng hai nhánh sông Vàm Cỏ từ biển Đông đến tận biên giới Campuchia, phục kích nhiều trận ở Mỹ Tho, Chợ Lớn, giải phóng Gò Công (01/1862 – 3/1862), được Triều đình phong chức Phó Lãnh binh Gia Định. Ông khiến thực dân Pháp vô cùng hoang mang với “cuộc khởi nghĩa như từ dưới đất mọc lên”. Vào ngày 05/6/1862, Triều đình nhà Nguyễn kí với Pháp Điều ước Nhâm Tuất: Pháp chính thức chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì. Ông đã từ chối thư dụ hàng của tướng Pháp là Bonard, bất chấp chiếu vua ra lệnh bãi binh, rút quân về Gò Công, cùng nhân dân Gò Công tiếp tục kháng chiến. Trong tình thế ấy, nhân dân và nghĩa quân đã tôn Trương Định là Bình Tây Đại Nguyên soái: “Bởi lòng chúng chẳng nghe Thiên tử chiếu; đón ngăn mấy dặm mã tiền; theo bụng dân phải chịu Tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại”. Ông lấy Gò Công làm bản doanh, xây dựng các căn cứ địa kháng chiến. Trương Định tiếp tục xây dựng phòng tuyến ở Tân Hòa, phối hợp chặt chẽ ở các địa phương bằng chiến thuật đánh du kích, giành thắng lợi vào năm 1862 với các trận: Sông Tra, Qui Sơn, Rạch Lá, Gò Xoài, Trại Cá, Giồng Tháp, Giồng Ông Lãnh, Bến Chùa, Cửa Khâu, Rạch Tra,… Nghĩa quân làm chủ đường Sài Gòn, Biên Hòa, cắt đường giao thông Chợ Lớn - Bến Lức.
Trước tình hình đó, đầu tháng 02 - 1863, thực dân Pháp đã huy động lực lượng hùng hậu tấn công căn cứ Gò Công. Ông đã bình tĩnh và mưu trí chỉ huy nghĩa quân kiên cường đánh trả, nhưng do quân đông lại được liên tục bổ sung quân số và vũ khí, nên quân Pháp đã phá được căn cứ của nghĩa quân. Để tiếp tục cuộc chiến đấu, ông cho rút quân qua Lý Nhơn (nay thuộc huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh), lập căn cứ mới.
Nhận thấy hoạt động của nghĩa quân có chiều hướng ngày càng gia tăng, ngày 25 - 9 - 1863, quân Pháp mở cuộc đột kích vào căn cứ Lý Nhơn. Nghĩa quân phá vòng vây, trở về vùng Gò Công và chọn khu vực Đám lá tối trời làm nơi ẩn náu. Với chủ trương “tịnh vi dân, động vi binh”, ông cho nghĩa quân vừa sản xuất, vừa chiến đấu, tiếp tục chiêu mộ nhân tài, luyện tập binh sĩ chuẩn bị cuộc tấn công quy mô đánh úp Tân Hòa. Tiếc thay, vào đêm 19/8 rạng sáng 20/8/1864, do có sự phản bội của tên Việt gian Huỳnh Công Tấn, Trương Định bị phục kích bất ngờ, ông bị thương nặng. Để khỏi sa vào tay giặc, ông rút gươm tuẫn tiết:
“Tiếng đồn đám lá tối trời
Có ông Trương Định trải phơi gan vàng”.
Trương Định là nhà quân sự lỗi lạc, là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân và tinh thần kiên trung bất khuất. Tuy nghiệp lớn không thành, nhưng Trương Định và cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo đã ghi một dấu son vào lịch sử kháng chiến chống Pháp oanh liệt của nhân dân Nam bộ nửa sau thế kỷ XIX. Ông sống mãi trong lòng của nhân dân Gò Công: “Gò Công Trương chánh khí. Gia Thuận Định trung can”. Tên Ông đã trở thành tên của ngôi trường trọng điểm phía Đông tỉnh Tiền Giang: Trường Trung học phổ thông Trương Định.
Sau khi ông mất, nhà yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã làm bài văn tế và mười hai bài thơ điếu Trương Định, ca ngợi cuộc đời chiến đấu hào hùng và cái chết lẫm liệt của ông. Hiện nay, ngoài lăng mộ và đền thờ chính tọa lạc tại thị xã Gò Công (Tiền Giang), chính quyền và nhân dân ở nhiều nơi, như Gia Thuận, Tân Phước, Tân Tây, Tân Hòa (Gò Công Đông, Tiền Giang), Bửu Hòa, Phước Hòa (Biên Hòa, Đồng Nai), Sơn Tịnh (Quảng Ngãi), v.v... còn thiết lập đền thờ và miếu thờ ông. Lễ giỗ Ông ngày 20/8 hàng năm đã trở thành một sự kiện văn hóa và Lễ hội Trương Định đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia.



