TRƯƠNG ĐỊNH – NGƯỜI KHÔNG BỎ DÂN MÀ ĐI
Giữa những năm tháng đầu tiên thực dân Pháp mở rộng cuộc xâm lược Nam Kỳ, Trương Định nổi lên như một trong những thủ lĩnh kháng chiến tiêu biểu nhất. Từ một người chiêu mộ dân nghèo khai hoang ở Gò Công, ông trở thành vị tướng được hàng vạn người đi theo. Khi triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862 và yêu cầu ông bãi binh, Trương Định đứng trước một lựa chọn nghiệt ngã: tuân lệnh triều đình hay ở lại cùng nhân dân tiếp tục chiến đấu. Ông đã chọn ở lại. Nhân dân suy tôn ông là “Bình Tây Đại Nguyên soái”. Cho đến ngày hy sinh năm 1864, Trương Định vẫn chiến đấu không ngừng nghỉ, để lại hình ảnh một người thủ lĩnh đặt vận mệnh của nhân dân và đất nước lên trên sự an toàn của chính mình.

TỪ NGƯỜI CON QUẢNG NGÃI ĐẾN “QUẢN ĐỊNH” ĐẤT GÒ CÔNG
Năm 1820, Trương Định sinh ra tại vùng đất Quảng Ngãi.
Thuở nhỏ, ông được học chữ Nho nhưng sau đó chuyển sang học võ, nghiên cứu binh thư và rèn luyện võ nghệ.
Năm 24 tuổi, ông theo cha vào Gia Định.
Mảnh đất phương Nam khi ấy đang trong quá trình khai phá.
Và cũng chính nơi đây, cuộc đời Trương Định bắt đầu gắn chặt với người dân Nam Bộ.
Khoảng năm 1850, hưởng ứng chính sách khai hoang của triều đình, ông đứng ra chiêu mộ khoảng 500 dân nghèo về Gò Công lập đồn điền, khai phá đất đai.
Không chỉ là người có võ nghệ, Trương Định còn có khả năng tập hợp lòng người.
Những người dân theo ông khai hoang dần trở thành lực lượng gắn bó với ông.
Người dân gọi ông bằng cái tên thân mật:
Quản Định.
Không ai khi ấy có thể biết rằng những người nông dân cùng ông khai phá đất đai sau này sẽ trở thành những người cầm vũ khí sát cánh bên ông trong những ngày đất nước bước vào chiến tranh.
KHI GIẶC PHÁP NỔ SÚNG
Năm 1859, quân Pháp tấn công Gia Định.
Tin chiến sự lan nhanh.
Một vùng đất đang yên bình bỗng trở thành chiến trường.
Trương Định không đứng ngoài.
Ông đưa lực lượng của mình tham gia chống Pháp, chiến đấu trên nhiều địa bàn quanh Gia Định.
Những người nông dân từng theo ông khai hoang giờ cầm vũ khí.
Những con người vốn chỉ quen với ruộng đồng trở thành nghĩa binh.
Còn người từng dẫn họ đi khai phá đất đai nay trở thành người dẫn họ ra trận.
Đó là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời Trương Định.
Từ đây, ông không còn chỉ là Quản Định của vùng Gò Công.
Ông trở thành một trong những thủ lĩnh kháng chiến quan trọng nhất ở Nam Kỳ.
GÒ CÔNG – CĂN CỨ CỦA MỘT NGỌN LỬA KHÁNG CHIẾN
Đầu năm 1861, Trương Định đưa lực lượng về Gò Công, xây dựng căn cứ Tân Hòa.
Ông chiêu mộ thêm nghĩa binh, tổ chức lực lượng, tích trữ lương thực, chế tạo và tìm kiếm vũ khí.
Từ một căn cứ ban đầu, lực lượng nghĩa quân ngày càng lớn mạnh.
Các toán nghĩa binh tổ chức phục kích, đánh đồn, tập kích những tuyến giao thông của quân Pháp.
Phong trào không chỉ bó hẹp ở Gò Công.
Địa bàn hoạt động mở rộng đến Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, Gia Định và nhiều khu vực khác.
Nhân dân hưởng ứng.
Các văn thân, sĩ phu và những người yêu nước tìm đến.
Gò Công dần trở thành một trong những trung tâm kháng chiến lớn nhất Nam Kỳ lúc bấy giờ.
Quân Pháp có súng đạn hiện đại hơn.
Có quân đội chính quy.
Có những phương tiện chiến tranh mà nghĩa quân không thể sánh bằng.
Nhưng Trương Định có một thứ mà quân xâm lược không dễ dàng có được:
lòng dân.
NHỮNG TRẬN ĐÁNH LÀM QUÂN PHÁP KHIẾP SỢ
Dưới sự chỉ huy của Trương Định, nghĩa quân liên tiếp tổ chức những trận đánh vào các vị trí của quân Pháp.
Có khi là một cuộc phục kích giữa đồng ruộng.
Có khi là một trận đánh trên đường giao thông.
Có khi nghĩa quân bất ngờ xuất hiện rồi nhanh chóng rút đi trước khi quân địch kịp phản ứng.
Cuối năm 1862, sau khi triều đình ký Hiệp ước Nhâm Tuất, Trương Định vẫn tiếp tục chỉ huy nghĩa quân tấn công nhiều vị trí của quân Pháp.
Ngày 17 tháng 12 năm 1862, nghĩa quân đánh đồn Rạch Tra.
Ngày hôm sau, trên sông Vàm Cỏ Đông, nghĩa quân tiếp tục tiến công các pháo hạm Pháp.
Những trận đánh ấy cho thấy cuộc kháng chiến của Trương Định không phải một cuộc nổi dậy nhất thời.
Đó là một phong trào có tổ chức, có căn cứ, có lực lượng và có sự tham gia rộng rãi của nhân dân.
Nhưng rồi một biến cố xảy ra.
Và nó đặt Trương Định trước lựa chọn khó khăn nhất trong cuộc đời.
KHI MỆNH LỆNH TỪ KINH ĐÔ ĐI NGƯỢC LÒNG DÂN
Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế ký Hiệp ước Nhâm Tuất với Pháp.
Ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Gia Định, Định Tường và Biên Hòa bị nhượng cho Pháp.
Triều đình yêu cầu các lực lượng kháng chiến ngừng chiến đấu.
Trương Định được lệnh bãi binh và nhận chức ở nơi khác.
Về lý, ông là một võ quan của triều đình.
Mệnh lệnh đã ban xuống.
Ông có thể rời Gò Công.
Có thể nhận chức mới.
Có thể giữ lấy sự an toàn của bản thân.
Nhưng khi ấy, nhân dân Gò Công lại tìm đến ông.
Họ không muốn vị chủ tướng của mình rời đi.
Họ muốn ông ở lại.
Và Trương Định đã đưa ra quyết định làm thay đổi phần còn lại của cuộc đời ông:
Ở lại Gò Công.
Không nhận lệnh bãi binh.
Không giải tán nghĩa quân.
Không rời bỏ những người đã theo mình từ những ngày đầu khai hoang.
“BÌNH TÂY ĐẠI NGUYÊN SOÁI”
Nhân dân và nghĩa quân suy tôn Trương Định làm Bình Tây Đại Nguyên soái.
Đó là một danh xưng không phải do triều đình ban cho.
Mà do chính nhân dân trao tặng.
Từ khoảnh khắc ấy, Trương Định trở thành một biểu tượng của phong trào kháng Pháp ở Nam Kỳ.
Sự lựa chọn ấy cũng đặt ông vào một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt.
Một bên là mệnh lệnh của triều đình.
Một bên là lời gọi của nhân dân.
Một bên là chức tước.
Một bên là con đường kháng chiến đầy hiểm nguy.
Trương Định đã chọn con đường thứ hai.
Không phải vì con đường ấy dễ dàng hơn.
Mà chính bởi ông hiểu rằng nếu mình rời đi, những người dân đã đặt niềm tin vào mình sẽ phải tự đối mặt với quân xâm lược.
Ông ở lại.
Và từ đó, Gò Công tiếp tục trở thành một ngọn lửa kháng chiến.
BA NGÀY ĐÊM GIỮ CĂN CỨ TÂN HÒA
Quân Pháp không thể để Trương Định tiếp tục tồn tại như một trung tâm kháng chiến.
Ngày 25 tháng 2 năm 1863, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn vào căn cứ Tân Hòa – Gò Công.
Trận chiến diễn ra dữ dội.
Nghĩa quân chống trả quyết liệt.
Trương Định tổ chức phòng thủ, tận dụng địa hình để gây khó khăn cho quân Pháp.
Ba ngày.
Ba ngày đêm chiến đấu.
Cuối cùng, trước lực lượng và vũ khí vượt trội của đối phương, căn cứ Tân Hòa thất thủ.
Nhưng mất căn cứ không có nghĩa là mất ý chí.
Trương Định đưa nghĩa quân rút lui, củng cố lực lượng và tiếp tục chiến đấu ở những vùng khác.
Từ căn cứ mới, ông tiếp tục xây dựng lực lượng và tổ chức các trận đánh vào quân Pháp.
Có những lúc lực lượng nghĩa quân phát triển lên hàng vạn người.
Cuộc chiến vẫn tiếp diễn.
HAI NĂM KHÔNG HẠ CỜ
Sau khi mất căn cứ Tân Hòa, Trương Định không đầu hàng.
Ông tiếp tục hoạt động ở vùng Phước Lộc, ven sông Soài Rạp và nhiều địa bàn khác.
Nghĩa quân tổ chức các trận đánh ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Vàm Cỏ Đông và vùng ven Sài Gòn.
Quân Pháp nhiều lần tìm cách truy quét.
Nhưng Trương Định vẫn tồn tại.
Ông trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất của quân Pháp tại Nam Kỳ.
Có thể căn cứ này mất.
Có thể một trận đánh thất bại.
Có thể nghĩa quân phải rút lui.
Nhưng lá cờ của Bình Tây Đại Nguyên soái vẫn chưa hạ xuống.
Bởi phía sau lá cờ ấy vẫn còn những người dân tin tưởng vào ông.
ĐÊM CUỐI CÙNG
Đêm 20 tháng 8 năm 1864.
Trương Định cùng khoảng 25 nghĩa binh đang chuẩn bị cho một kế hoạch chiến đấu mới tại khu vực Tân Phước.
Nhưng quân Pháp đã bí mật lần theo dấu vết và bất ngờ bao vây.
Cuộc chiến diễn ra trong đêm.
Lực lượng của Trương Định ít hơn rất nhiều.
Ông vẫn tổ chức chống trả và tìm đường phá vòng vây.
Nhưng trong trận chiến ấy, ông bị thương nặng.
Trương Định hiểu rằng mình khó có thể thoát khỏi vòng vây.
Ông cũng hiểu một điều:
Nếu còn sống và rơi vào tay quân Pháp, kẻ thù có thể dùng ông để khuất phục nghĩa quân và làm lung lay lòng dân.
Ông đã chọn cái chết.
Trương Định rút gươm tự sát, quyết không để mình rơi vào tay quân thù.
Ông hy sinh khi mới 44 tuổi.
NGƯỜI ANH HÙNG KHÔNG ĐỂ LẠI MỘT LỜI ĐẦU HÀNG
Tin Trương Định hy sinh lan ra.
Một vị chủ tướng đã nằm xuống.
Nhưng điều ông để lại không phải là một lời đầu hàng.
Mà là một tấm gương về sự lựa chọn.
Khi đứng trước mệnh lệnh và lòng dân, ông đã chọn ở lại.
Khi đứng trước chức tước và cuộc chiến, ông đã chọn chiến đấu.
Khi đứng trước sống và chết, ông chọn giữ khí tiết.
Chính vì thế, dù cuộc khởi nghĩa cuối cùng không thể đánh bại quân Pháp, tên tuổi Trương Định vẫn sống trong lòng nhân dân Nam Bộ.
Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng dành những câu thơ đầy khí phách để ca ngợi ông:
“Trong Nam tên họ nổi như cồn
Mấy trận Gò Công nức tiếng đồn…”
Những câu thơ ấy không chỉ nói về một vị tướng.
Mà nói về một người đã trở thành biểu tượng của lòng dân.
“NGƯỜI Ở LẠI” GIỮA MỘT THỜI ĐẤT NƯỚC ĐAU THƯƠNG
Có lẽ điều khiến Trương Định được nhớ mãi không chỉ nằm ở những trận đánh.
Mà nằm ở quyết định ở lại.
Ông hoàn toàn có thể rời Gò Công.
Có thể nhận một chức quan khác.
Có thể sống tiếp một cuộc đời bình yên hơn.
Nhưng ông đã không làm vậy.
Bởi ông hiểu rằng phía sau mình không chỉ có nghĩa quân.
Mà còn có những người dân đã đặt niềm tin vào ông.
Họ từng theo ông khai phá đất đai.
Rồi theo ông cầm súng.
Họ gọi ông là chủ tướng.
Và khi ông đứng trước lựa chọn lớn nhất, chính tiếng gọi của họ đã giữ ông ở lại.
Một vị tướng có thể được phong chức bởi triều đình.
Nhưng một vị tướng được nhân dân suy tôn thì phải trả lời trước lòng dân.
Trương Định đã trả lời bằng cả cuộc đời mình.
TRƯƠNG ĐỊNH – NGỌN CỜ KHÔNG HẠ
Hơn một thế kỷ rưỡi đã trôi qua kể từ ngày Trương Định hy sinh.
Gò Công hôm nay đã khác xưa.
Những chiến địa năm nào đã trở thành phố thị.
Những người từng cầm súng theo Bình Tây Đại Nguyên soái cũng đã trở về với đất.
Nhưng tên ông vẫn còn.
Trong đền thờ.
Trên những con đường.
Trong những trang sử.
Và trong ký ức của người dân Nam Bộ.
Bởi có những người anh hùng không được nhớ đến vì họ đã giành được bao nhiêu thành trì.
Họ được nhớ đến vì họ đã không bỏ cuộc khi đất nước ở vào lúc khó khăn nhất.
Trương Định đã chiến đấu từ năm 1859 cho đến khi hy sinh năm 1864.
Năm năm ấy không đủ dài để thay đổi hoàn toàn vận mệnh Nam Kỳ.
Nhưng đủ để chứng minh một điều:
Khi đất nước bị xâm lăng, lòng yêu nước có thể biến những người nông dân thành nghĩa sĩ, biến một vùng đất thành căn cứ kháng chiến và biến một người thủ lĩnh thành biểu tượng.
Trương Định đã nằm xuống.
Nhưng ngọn cờ Bình Tây không biến mất.
Nó tiếp tục được những người khác giương lên.
Bởi một người có thể hy sinh.
Một căn cứ có thể thất thủ.
Một cuộc khởi nghĩa có thể bị đàn áp.
Nhưng ý chí không chịu khuất phục của một dân tộc thì không dễ dàng bị dập tắt.
Trương Định – người đã chọn ở lại khi có thể ra đi, chọn chiến đấu khi có thể im lặng, và chọn cái chết khi không chịu khuất phục.
Để rồi hơn một trăm năm sau, nhắc đến ông, người ta vẫn nhớ về một vị tướng của lòng dân:
Bình Tây Đại Nguyên soái Trương Định – người không bỏ dân mà đi.



