TRƯƠNG DUY TOẢN – NGƯỜI THẮP LỬA BẰNG CHỮ NGHĨA
Trương Duy Toản (1885–1957), quê Tam Bình, Vĩnh Long, là nhà văn, nhà báo, chí sĩ yêu nước tiêu biểu của Nam Bộ đầu thế kỷ XX. Ông dùng chữ nghĩa, báo chí và sân khấu làm vũ khí đấu tranh chống thực dân, tham gia phong trào Minh Tân, Đông Du, từng hoạt động cùng Phan Bội Châu và Cường Để. Là cây bút sắc sảo với nhiều tác phẩm giàu tinh thần yêu nước, đồng thời là người đặt nền móng cho nghệ thuật ca ra bộ – cải lương Nam Bộ, Trương Duy Toản được nhớ đến như người thắp lửa cách mạng bằng văn chươ
Ở vùng đất Tam Bình, Vĩnh Long, nơi những giồng đất nổi lên giữa đồng bằng sông nước, năm Ất Dậu 1885, có một cậu bé ra đời mang tên Trương Duy Toản. Thuở ấy, đất nước đang chìm trong ách đô hộ, làng quê yên ả nhưng lòng người thì sôi sục. Cậu bé ấy lớn lên giữa tiếng ru của sông rạch và nỗi uất ức mất nước của bao thế hệ.
Thuở nhỏ, Trương Duy Toản học chữ Hán, rồi theo thời cuộc mà học chữ Quốc ngữ, Pháp ngữ ở Sài Gòn. Con đường học vấn của ông không chỉ để mưu sinh, mà để mở mang trí tuệ, để tìm lời giải cho câu hỏi lớn nhất của đời mình: Dân tộc này sẽ đi về đâu?
Năm 1905, ông ra làm Kinh lịch tại Tòa Khâm sứ Nam Vang. Nhưng chiếc ghế công chức không trói buộc được một tâm hồn đang sục sôi thời cuộc. Hai năm sau, ông trở về Sài Gòn, hòa mình vào Hội Minh Tân do Trần Chánh Chiếu đứng đầu – một phong trào canh tân đất nước bằng tri thức, bằng báo chí, bằng lòng yêu nước tỉnh táo và bền bỉ.
Năm 1908, khi thực dân Pháp ngang nhiên truất phế vua Thành Thái, Trương Duy Toản không cầm gươm súng, mà cầm bút. Ông viết một bài ca theo điệu “tứ đại cảnh”, đăng trên Lục tỉnh tân văn, lời ca mộc mạc nhưng đanh thép, cổ động lòng yêu nước, đánh thẳng vào sự hèn yếu và bất công của chế độ thuộc địa. Chữ nghĩa của ông lúc ấy không còn là văn chương thuần túy, mà là lời hiệu triệu.
Không dừng lại ở đó, ông lên đường sang Nhật Bản, tham gia phong trào Đông Du, làm thư ký cho Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại hầu Cường Để. Những ngày nơi đất khách, ông vừa làm việc, vừa học hỏi, vừa nuôi trong lòng khát vọng giải phóng dân tộc. Nhưng phong trào Đông Du sớm bị bóp nghẹt. Tháng 9 năm 1908, Pháp ký hiệp ước với Nhật, đẩy những người yêu nước vào cảnh tan tác. Trương Duy Toản buộc phải trở về.
Năm 1910, ông cho xuất bản tiểu thuyết “Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân”. Bề ngoài là một truyện lịch sử, nhưng ẩn sâu trong từng chương hồi là nỗi đau mất nước và ý chí phục hưng dân tộc. Quyển sách gây tiếng vang, đưa tên tuổi Trương Duy Toản trở thành một cây bút đặc biệt của Nam Kỳ: viết văn mà làm cách mạng.
Năm 1913, ông bí mật sang Thượng Hải, rồi theo Cường Để sang châu Âu, làm thông dịch viên, làm sứ giả chữ nghĩa. Ở Paris, ông mang thư của Cường Để đến gặp Phan Châu Trinh, phê phán chính sách thuộc địa của Pháp ngay trên đất Pháp. Nhưng chính nơi kinh đô ánh sáng ấy, ông cũng rơi vào tay mật thám. Ông bị bắt, bị quản thúc, bị giam cầm. Đến khoảng 1916, ông bị trục xuất về nước, rồi bị an trí ở Nhơn Ái – Phong Điền – Cần Thơ.
Những tưởng bị quản chế là chấm hết, nhưng với Trương Duy Toản, đó lại là một con đường khác. Không diễn thuyết được, ông soạn ca. Không viết báo được, ông viết tuồng. Những bài “ca ra bộ” như Bùi Kiệm thi rớt trở về, Kim Kiều hạnh ngộ ra đời năm 1917, lan truyền khắp thôn xóm. Người dân nghe hát mà hiểu đời, hiểu người, hiểu nỗi nhục mất nước, hiểu khát vọng làm người tự do.
Từ ca ra bộ, ông tiến thêm bước nữa: cải lương. Những vở Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều, Lưu Yến Ngọc cứu cha… ra đời, làm rung động sân khấu Nam Bộ. Người ta nói, Trương Duy Toản chính là người đặt những viên gạch đầu tiên cho nghệ thuật cải lương, dùng sân khấu làm diễn đàn của lòng yêu nước.
Khi sự theo dõi của đối phương lơi dần, ông trở lại với báo chí. Từ Thời vụ báo, Trung Lập, Sài Thành đến Dân quyền, ngòi bút Đổng Hổ của ông vẫn sắc sảo, châm biếm, đả kích, bảo vệ quyền sống và quyền làm người của dân chúng. Báo bị đóng, ông lại viết báo khác. Tờ này bị tịch thu, ông vẫn không im lặng.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông sống lặng lẽ ở Sài Gòn, tiếp tục làm báo. Đến năm 1955, khi tuổi đã cao, ông viết hồi ký “Phong trào cách mạng trong Nam Kỳ” – như một lời tổng kết đời mình, đời của một thế hệ lấy chữ nghĩa làm gươm giáo.
Những năm cuối đời, ông về Thanh Đa, sống thanh đạm. Năm 1957, Trương Duy Toản qua đời, thọ 72 tuổi, được đưa về an táng tại quê nhà Tam Bình, Vĩnh Long.
Ông ra đi, nhưng chữ nghĩa ông để lại vẫn còn. Trên trang sách, trên sân khấu, trong ký ức của Nam Bộ, Trương Duy Toản hiện lên như một chí sĩ áo vải, không cầm súng ngoài chiến địa, nhưng đã đốt lên ngọn lửa yêu nước bằng văn chương, báo chí và nghệ thuật. Một đời người lặng lẽ mà bền bỉ, một ngọn lửa không bùng cháy dữ dội, nhưng âm ỉ cháy suốt nửa đầu thế kỷ đầy bão táp của dân tộc.



