Trường học trong lao
Cuộc sống nơi nhà lao Phú Quốc không chỉ có công việc tạp dịch nặng nề và đòn roi tra tấn, đó còn là cuộc sống chiến đấu và học tập say sưa, sôi nổi, tinh thần sáng tạo, vượt khó, bản lĩnh vững vàng của nhiều chiến sỹ kiên trung.
Cuộc sống nơi nhà lao Phú Quốc không chỉ có công việc tạp dịch nặng nề và đòn roi tra tấn, đó còn là cuộc sống chiến đấu và học tập say sưa, sôi nổi, tinh thần sáng tạo, vượt khó, bản lĩnh vững vàng của nhiều chiến sỹ kiên trung.
Trường học trong lao
Người cựu tù Trần Xuân Quyết, tên trong tù gọi là Công, giờ đang ở tại xóm 4, xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, kể lại: Anh em đã sáng tạo, chế tác mọi dụng cụ học tập. Mực lấy từ con cá mực hiếm hoi trong khẩu phần ăn. Bìa cacton nhặt về ngâm nước, bóc thành miếng mỏng, đem "ủi" dưới cà mèn đựng đầy than nóng cho tới khi thật mịn, rồi cắt thành mảnh nhỏ vuông vức, đóng thành vở. Vải bạt cắt từ quân phục ngụy được phát, dấp nước, lấy xà phòng xoa lên một lớp bọt trắng toát rồi phơi khô cũng thành trang giấy trắng. Dùng đầu đũa vót nhọn, dây thép gai, mảnh tôn hay ống bơ gỉ uốn lại làm bút viết lên đó. Khi quân cảnh kiểm tra đột xuất, chỉ cần vò nhàu miếng bạt, những chữ viết trên xà phòng sẽ biến mất.

Ông Trần Xuân Quyết đang hồi tưởng lại những ngày tháng học tập trong tù. (Ảnh: Thúy Hiền).
Học môn triết, ông Quyết tự chế cho mình cuốn vở làm bằng bìa cacton. Người bạn thân cùng học sau đó tặng ông cuốn vở chép nội dung từ cuốn sách “Duy vật lịch sử”. Hai cuốn vở chỉ bằng bao diêm nhưng ông luôn nâng niu, gìn giữ.
Nhưng cuốn vở mà ông yêu quý nhất là cuốn “Danh ngôn”. Nhiều câu nói của các lãnh tụ và những chiến sĩ cộng sản nổi tiếng được ghi trong đó, tới giờ ông vẫn thuộc nằm lòng: "Người chiến sĩ cộng sản như người vượt đường dài trong giông tố. Nếu ai không xuýt xoa run rẩy thì sẽ tới được chân trời nắng ấm". Ông bảo, trong cuốn vở ấy là lý tưởng, niềm tin, là ánh sáng của ông và bao bạn tù khác trong những ngày tăm tối. Vì thế, để cất dấu hai cuốn vở kia, ông chôn ở dưới sàn xà lim, khi học mới lấy ra. Chỉ duy nhất cuốn Danh ngôn ông luôn mang theo bên mình, chờ có cơ hội là giở ra đọc cho anh em. Có lần, cai ngục vào đột xuất, cuốn vở ông bọc nilon nhét trong cạp quần chưa kịp giấu. Khi chúng khám xét, ông phải vội "tuồn" bọc giấy bé bằng điếu thuốc cho anh bạn ở hàng đối diện.
Lần khác, nhận thông báo đột xuất chuyển từ khu D4 sang trại biệt giam, ông Quyết nghĩ ra mẹo rút cói chiếu, dùng kim tự chế khâu mép chiếc chiếu cầm theo, để hở một khe nhỏ đủ nhét mấy cuốn vở. Khi cai ngục trở lại, ông đàng hoàng mang những cuốn vở ra khỏi trại ngay trước mắt chúng.
Để đảm bảo bí mật, việc học chỉ được tổ chức thành từng nhóm nhỏ một thầy - một trò hoặc tổ ba người. Riêng anh em du kích miền Nam, sống dưới chế độ ngụy quyền nên khi bị bắt vào trại phần lớn chưa qua trường lớp nào. Nhưng nhờ ham học, cần cù, sáng tạo mà nhiều người lúc ra tù đã qua “đọc thông, viết thạo”. Ông Quyết còn nhớ người bạn tù tên là Nguyễn Văn Dân, quê ở Long An, khi mới vào trại còn chưa biết đọc biết viết, lúc được trao trả đã học xong trình độ văn hoá lớp 7, lại nhớ và bình thơ Tố Hữu rất hay.

Ba cuốn vở quý của ông Quyết đang được trưng bày ở bảo tàng Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày.


