Cựu chiến binh

Trường MG Hoa Ban Trắng câu chuyện thời hoa lửa Bài 1 "Người lính bước qua chiến tranh từ tuổi 16"

Câu chuyện kể về cụ Nguyễn Xuân Thanh – người lính trẻ mới 16 tuổi đã rời quê hương lên đường nhập ngũ vào năm 1971. Cụ tham gia chiến đấu tại các chiến trường ác liệt Quảng Trị – Quảng Nam – Đà Nẵng – Kon Tum, nơi bom đạn, thiếu thốn và mất mát luôn rình rập. Giữa “mùa hè đỏ lửa”, cụ cùng đồng đội kiên cường bám trụ, vượt qua những trận chiến khốc liệt để bảo vệ Tổ quốc. Nhiều ký ức về tình đồng đội, những hy sinh thầm lặng và khát vọng hòa bình đã trở thành dấu ấn không thể quên trong cuộc đời

Đắk Lắk06/12/2025Hà Diễm Lệ (Đoàn xã Đliê Ya)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Trường MG Hoa Ban Trắng câu chuyện thời hoa lửa Bài 1 "Người lính bước qua chiến tranh từ tuổi 16"

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

“NGƯỜI LÍNH BƯỚC QUA CHIẾN TRANH TỪ TUỔI 16”

Trong tiết trời mưa bão nặng hạt, con đường vào thôn Hòa Bình xã Krông Năng trở nên lầy lội và trơn trượt hơn bao giờ hết. Thế nhưng, điều đó không làm chùn bước tinh thần của Đoàn thanh niên Trường Mẫu giáo Hoa Ban Trắng. Vượt qua quãng đường khó khăn, chúng tôi tìm đến ngôi nhà nhỏ của cụ Nguyễn Xuân Thanh một cựu chiến binh đã từng trải qua những năm tháng chiến đấu ác liệt trên các chiến trường Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng và Kon Tum.

Hình ảnh con đường vào nhà cụ Nguyễn Xuân Thanh

Giữa tiếng mưa rơi bên hiên và hơi lạnh của gió mùa, hình ảnh cụ với bộ quân phục và những tấm huân chương lấp lánh khiến chúng tôi bồi hồi xúc động, như được trở về với một thời hoa lửa đầy hy sinh của thế hệ đi trước.Tháng năm trôi đi, màu bạc trên mái tóc cụ Nguyễn Xuân Thanh như những vệt thời gian khắc lại từ quá khứ. Nhưng mỗi khi nhắc đến những năm tháng chiến tranh, đôi mắt cụ vẫn ánh lên sự kiên nghị của một người lính từng đi qua “thời hoa lửa” nơi tuổi trẻ được cụ luyện trong bom đạn.

Hình ảnh Đoàn TN trường MG Hoa Ban Trắng chụp chung khung hình cùng cụ Nguyễn Xuân Thanh

Trong không gian ấm cúng của ngôi nhà nhỏ, cụ Nguyễn Xuân Thanh chậm rãi kể lại những tháng ngày chiến đấu đầy gian khổ. Cụ nhập ngũ khi mới qua mười sáu tuổi, tuổi mà ngày nay các cháu học sinh còn đang vui chơi dưới mái trường. Thế nhưng năm ấy, Tổ quốc cần, cụ đã lên đường với trái tim của người lính trẻ mang theo lòng quyết tâm bảo vệ quê hương. Cụ kể về những trận đánh ác liệt, về những đêm hành quân trong mưa rừng lạnh buốt, về những người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường. Mỗi câu chuyện của cụ không chỉ là ký ức, mà còn là những trang lịch sử sống, được chắt chiu bằng máu, bằng mồ hôi và nước mắt. Lắng nghe cụ, chúng tôi không khỏi xúc động trước tinh thần kiên cường, lòng dũng cảm và sự cống hiến thầm lặng của cụ, người đã dành trọn tuổi xuân cho độc lập và hòa bình của dân tộc. Cuộc trò chuyện giữa ngày mưa bão càng làm không khí thêm sâu lắng. Nhìn đôi tay gầy nhưng rắn rỏi của cụ và những tấm huân chương đeo trước ngực, chúng tôi hiểu rằng mỗi tấm không chỉ là vinh dự mà còn là minh chứng cho một cuộc đời chiến đấu bền bỉ, một tấm lòng yêu nước nồng nàn. Năm 1953, cụ Thanh sinh ra giữa vùng quê yên bình. Nhưng đến 16 tuổi, khi đất nước chìm trong ly loạn, cụ không chọn con đường êm ả của tuổi trẻ mà tình nguyện nhập ngũ. Không một chút do dự, không kịp một lời từ biệt mẹ cha, cậu thiếu niên ngày ấy khoác balô, rời nhà, để lại sau lưng cha mẹ và cánh đồng tuổi thơ. “Đánh giặc để đất nước được yên, để mẹ không còn khóc vì bom rơi”. Đó là lý do giản dị mà mạnh mẽ của một người lính trẻ. Những năm tháng giữa khói lửa chiến trường. Từ năm 1971, cụ được điều về chiến trường miền Trung nơi được gọi là tọa độ lửa. Quảng Trị vùng đất gió Lào bỏng rát. Quảng Nam nơi ngày đêm pháo sáng rực trời. Đà Nẵng tuyến đánh chặn ác liệt. Kom Tum được ví như rừng sâu mịt mù và bom đạn trùm lên lối đi. Cụ chiến đấu trong Đơn vị 272, sau chuyển về Đơn vị 224, thuộc Quân khu 5. Những người lính nơi đây phần lớn chỉ trạc mười tám đôi mươi, nhưng đã phải đối mặt với cái chết từng phút từng giây. Trong ký ức của cụ Thanh, những đêm hành quân xuyên rừng, những bữa cơm chỉ có nắm gạo trộn muối, hay những lần băng bó cho đồng đội ngay trên hố bom… vẫn nguyên vẹn như mới hôm qua. “Mùa hè đỏ lửa – ký ức không thể quên”. Năm 1972, chiến trường miền Trung bước vào giai đoạn ác liệt nhất. Trận đánh lớn tại Quảng trị - Quảng Ngãi được gọi là “Mùa hè đỏ lửa” gần như là dấu mốc không thể nào quên trong cuộc đời người lính Nguyễn Xuân Thanh. Bom rơi nổ dồn dập, đất trời rung chuyển, nắng miền Trung đỏ quạch như đổ lửa. Người lính trẻ ấy cùng đồng đội cắm chốt giữ từng cao điểm, từng con suối, từng lối mòn trong rừng. Có những đồng đội sáng còn nói cười, tối đã nằm lại dưới lòng đất. Nhưng họ vẫn bước lên phía trước, bởi phía sau lưng họ là quê nhà, là nhân dân, là Tổ quốc. “Không ai muốn chết, nhưng tất cả đều sẵn sàng hy sinh.” cụ Thanh từng kể như thế. Hòa bình vềKhi đất nước thống nhất, cụ trở về với thân thể còn mang nhiều vết tích của chiến tranh nhưng trái tim vẫn bền bỉ một ý chí: xây dựng quê hương.Năm 1977, cụ công tác tại Quản lý thị trường tỉnh Thái Bình. Tác phong quân đội giúp cụ luôn làm việc thẳng thắn, trách nhiệm, không lùi bước trước khó khăn.Đến 1993, gia đình cụ vào Đắk Lắk làm kinh tế mới – nơi đất đỏ bazan còn hoang sơ, thiếu thốn đủ bề. Nhưng như từng quen với gian khổ giữa rừng núi Trường Sơn, cụ lại tiếp tục bắt tay dựng xây vùng đất mới. Tại xã Phú Lộc (cũ), cụ được nhân dân tín nhiệm bầu giữ nhiều trọng trách: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã - Phó Bí thư Đảng ủy xã. Trong mắt bà con, cụ là người chân chất, nghĩa tình, luôn lo cho dân hơn lo cho mình.

Trên bộ trang phục là những tấm huy chương, quân hàm, phù hiệu – không chỉ là kim loại vô tri, mà là cả một đời binh nghiệp, một phần ký ức thiêng liêng của người lính. Mỗi tấm huân chương là một câu chuyện, mỗi ngôi sao là một dấu mốc, và mỗi tấm hy chương là một chứng nhân của thời chiến. Những ngôi sao chiến công: Những huy chương hình ngôi sao năm cánh thể hiện sự ghi nhận của Tổ quốc đối với người chiến sĩ đã lập công trong chiến đấu. Đằng sau mỗi ngôi sao là: Những trận đánh ác liệt, những ngày hành quân xuyên rừng lửa đạn, và cả những đồng đội đã ngã xuống. Chúng là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần quả cảm và sự hy sinh không ngại gian nguy. Huy chương "Chiến sĩ giải phóng" chiến công trong những năm tháng không thể quên: Những huy hiệu có hình bản đồ miền Nam hay biểu tượng giải phóng thường được trao cho các chiến sĩ tham gia chiến đấu trực tiếp tại chiến trường miền Nam. Đó là minh chứng cho: Ý chí giải phóng dân tộc, Sự kiên cường trước bom đạn, Tinh thần “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Huy chương “Chiến sĩ thi đua – Dũng sĩ”. Những tấm huy chương mang hình ngôi sao lớn, kèm theo hình ảnh của Bác hay dòng chữ "Dũng sĩ" thể hiện sự xuất sắc vượt trội trong nhiệm vụ, là phần thưởng dành cho người lính có thành tích đặc biệt. Chúng khẳng định người được trao không chỉ dũng cảm, mà còn gương mẫu – là tấm gương sáng giữa chiến trường. Quân hàm, phù hiệu, cấp hiệu. Hai chiếc quân hàm màu vàng với những ngôi sao bạc là biểu tượng của cấp bậc quân đội. Chúng cho thấy: Sự trưởng thành trong quân ngũ, quá trình rèn luyện và cống hiến lâu dài. Trách nhiệm và vị trí của người lính trong hàng ngũ chiến đấu. Dù đã phai màu theo năm tháng, nhưng chúng mang giá trị tinh thần vô giá. Dải ruy băng bạc màu – dấu ấn thời gian. Những dải ruy băng đã cũ, sờn rách theo năm tháng, chính là chứng nhân cho những năm chiến đấu gian khổ. Chúng như nói thay người lính: “Ta đã sống, đã chiến đấu, đã cống hiến tuổi trẻ cho đất nước.” Nhìn những tấm huân, huy chương cụ gìn giữ cẩn thận, ta như thấy cả một thời máu lửa hiện: Thông điệp “Đó là máu và mồ hôi của một thế hệ anh hùng. Là ký ức không bao giờ phai của thời hoa lửa. Là niềm tự hào để thế hệ trẻ hôm nay sống xứng đáng hơn”. Có nước mắt – có hy sinh – có những mất mát không tên – nhưng cũng có niềm tự hào của một thế hệ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Hơn nửa thế kỷ đứng trong hàng ngũ Đảng. Đến nay, cụ Nguyễn Xuân Thanh đã nửa thế kỉ son sắt. sau hòa bình cụ Thanh trở về đời thường, nhưng tinh thần chiến sĩ, tác phong người lính Cụ Hồ vẫn sáng mãi. Cụ tiếp tục tham gia công tác địa phương, đi đầu trong phong trào, luôn giữ phẩm chất “ Đảng viên đi trước – làng nước đi sau”. Đến nay cụ đã 51 năm tuổi Đảng, 51 năm kiên trung, 51 năm sống vì lý tưởng. 51 năm đứng trong hàng ngũ của Đảng là : 51 năm rèn luyện, 51 năm cống hiến, 51 năm giữ trọn lời thề danh dự của người Đảng Viên.

Hình ảnh: Vinh danh cụ Nguyễn Xuân Thanh

Trước khi chia tay, cụ Nguyễn Xuân Thanh ân cần ra vườn hái tặng chúng tôi những quả cam chín vàng. Món quà mộc mạc ấy mang theo bao tình cảm của người lính già dành cho thế hệ trẻ. Những quả cam không chỉ ngọt bởi hương vị của đất vườn quê, mà còn ngọt bởi nghĩa tình, bởi sự truyền trao giữa hai thế hệ. Rời nhà cụ khi mưa vẫn còn nặng hạt, trong lòng mỗi đoàn viên đều đọng lại niềm tự hào và biết ơn sâu sắc. Cuộc gặp gỡ đã trở thành bài học sống động về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, về lòng yêu nước và về trách nhiệm của người trẻ trong thời đại mới.

Đoàn thanh niên Trường Mẫu giáo Hoa Ban Trắng xin hứa sẽ tiếp tục lan tỏa những giá trị tốt đẹp mà cụ và các thế hệ cha anh đã dày công vun đắp; giáo dục các em nhỏ biết yêu thương, biết trân trọng và biết ơn; để ngọn lửa mà cụ Nguyễn Xuân Thanh đã giữ gìn suốt một đời sẽ tiếp tục tỏa sáng trong trái tim thế hệ hôm nay và mai sau.

Câu chuyện thời hoa lửa của cụ Nguyễn Xuân Thanh không chỉ là ký ức của riêng một người. Đó là bản anh hùng ca của cả một thế hệ đã sống đẹp, sống trọn vẹn cho Tổ quốc. Mái tóc bạc, dáng người trầm tĩnh của cụ hôm nay là sự lắng đọng của bao năm bom đạn, của một đời chiến đấu – cống hiến – và dựng xây. Cụ là niềm tự hào của gia đình, của quê hương, và của tất cả những ai vẫn đang giữ trong tim mình một ngọn lửa yêu nước không bao giờ tắt.

Hà Diễm Lệ

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn