TRƯỞNG THÀNH TRONG CHIẾN ĐÂU Ở QUÊ CHA
Mùa thu năm 1950, tác giả được điều về Trung đoàn 36 tham gia Chiến dịch Biên giới 1950, chiến dịch lớn mở đầu giai đoạn tổng phản công của quân ta trong cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp 1945–1954. Trung đoàn đã chiến đấu quyết liệt tại các trận Khâu Luông và Cốc Xá, góp phần tiêu diệt các binh đoàn của địch do Marcel Le Page và Pierre Charton chỉ huy, làm tan rã hệ thống phòng tuyến trên Đường số 4 và giải phóng vùng biên giới phía Bắc. Sau chiến thắng này, trung đoàn tiếp tục tham gia Chi
Vào mùa thu 1950, tôi được chuyển ra đơn vị trực tiếp chiến đấu ở Trung đoàn 36, Đại đoàn 308 – đại đoàn chủ lực đầu tiên của bộ. Từ đây cũng là thời gian ta bắt đầu vào giai đoạn Tổng phản công. Ta đã phải trải qua một giai đoạn chiến tranh quyết liệt với kẻ thù để giữ và giành lại chủ động chiến trường, tạo thế lực và điều kiện chuyển sang quyết chiến chiến lược cuối cùng. Tôi ở đơn vị chiến đấu đã thấy rõ tình chất quyết liệt, khó khăn ở chiến trường.
Trung đoàn 36 thành lập ngày 10 tháng 1 năm 1946 là một trong những trung đoàn thành lập đầu tiên của quân đội. Ngày đầu thành lập trung đoàn có tên là Chi đội Bắc Bắc, gồm một tiểu đoàn tập trung và các đại đội địa phương thuộc khu 12 bao gồm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Trung đoàn đã chiến đấu cấp đại đội, tiểu đoàn độc lập hoặc trong đội hình của trung đoàn, giỏi đánh vận động, riêng tiểu đoàn tập trung nay là Tiểu đoàn 80 đánh được các đồn nhỏ có ít công sự, ở địa hình trung du hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Cán bộ chiến sĩ hầu hết là quê ở đây nên quan hệ gắn bó với nhân dân hai tỉnh này.
Trước khi đi chiến dịch, trung đoàn đã có thời gan huấn luyện quân sự, chính trị, đã được tăng cường thêm vũ khí do hai trung đoàn khác của đại đoàn giao lại, sức chiến đấu được tăng lên.
Tháng 8, tôi được lệnh về làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 36 khi ta đang khẩn trương chuẩn bị chiến dịch Biên Giới, trung đoàn đã hành quân lên vị trí tập kết ở Bố Trạch, Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Tôi tự đi tìm đến đơn vị bằng xe đạp. Tôi định qua Bắc Kạn lên Cao Bằng trước. Ở đấy có nhà anh Kim Hùng là trưởng ban quân báo Đại đoàn 308, từ đấy tôi có thể theo trinh sát đi đến trung đoàn. Đường đi qua nhiều đèo dốc, phải học tập người đi đường buộc một cành cây to khi xuống dốc mới đi được. Dọc đường có khi lên cơn sốt rét phải vào nhà dân nghỉ, dùng thuốc mang theo, dứt cơn sốt lại tiếp tục đi. Đến nơi tôi gặp anh Kim Hùng đang đi lên đài quan sát để trinh sát thị xã Cao Bằng. Trước khi lên đường tôi đã được biết Đại đoàn 308 đang chuẩn bị để đánh Cao Bằng nên tôi đi theo anh Kim Hùng lên đài luôn. Từ trên đìa nhìn thị xã thật đẹp và nên thơ, ba mặt đều có sông, thật hiếm thấy một thành phố ở một địa thế đẹp như vậy. Hai bên sông cây cối xanh tốt, dòng nước lờ lững trôi thật hiền lành, nhưng tiếc thay, các cứ điểm phòng ngự với các công sự đỏ ối của địch dường như những vết thương lở loét nhức nhối. Tôi suy nghĩ, dự đoán hướng chính của đại đoàn phải đánh vào pháo đài vì chỉ có hướng này mới có đất liền. Nhưng ở đây thật khó đánh vì có thành cao, công sự vững, tôi dự kiến hướng của Trung đoàn 36 có thể ở hướng Đông vì ở dấy có cây cầu, làm sao chiếm giữ nó trước và quan sát sâu vào trong… Tôi rời khỏi đài lòng băn khoăn: đánh trận này liệu có chắc thắng không?
Đến đơn vị vừa kịp đi chuẩn bị chiến trường. Lúc này quyết tâm của chiến dịch đã có thay đổi. Trận đầu của chiến dịch là Đông Khê. Trung đoàn làm nhiệm vụ đánh vận động là hợp với sở trường rồi. Thật là may! Tôi phải tranh thủ tìm hiểu nhiệm vụ, tình hình địch và tình hình chung của ta, chưa kịp làm quen với cán bộ, nhân viên cơ quan trung đoàn. Mấy ngày đi chuẩn bị chiến trường là dịp đầu tiên để hiểu tất cả cán bộ chủ chốt về quân sự của trung đoàn. Chỉ huy trung đoàn lúc đó tôi chỉ gặp anh Hồng Sơn – Trung đoàn trưởng, anh Lê Linh – Chính ủy. Tôi cũng không gặp được anh Tham mưu trưởng cũ để nhận bàn giao. Đó là khó khăn ban đầu.
Chiến địch Biên Giới là chiến dịch lớn nhất. Đại đoàn 308 là lực lượng chủ yếu, mở đầu giai đoạn tổng phản công, dùng toàn bộ chủ lực của Bộ và lực lượng vũ trang của hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và của Liên khu. Mục đích rất kiên quyết, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; giải phóng biên giới phía Bắc, giải tỏa uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc.
Bác Hồ cũng đi chiến dịch. Anh Văn trực tiếp làm Chỉ huy trưởng, Bí thư Đảng ủy của Bộ chỉ huy chiến địch, có cố vấn Trung Quốc giúp sức. Điều đó nói lên tầm quan trọng của chiến dịch này. Lần đầu tiên số lượng dân công lớn ngang số bộ đội ra mặt trận.
Sự có mặt của Bác là nguồn cổ vũ lớn. Tranh vẽ và bài hát “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” là sáng tác trong thời gian này. Hai trung đoàn của Đại đoàn 308 đã sang Trung Quốc học thêm cách đánh địch trong công sự và lô cốt, có K50 cho chiến sĩ, có pháo 75 (sơn pháo) và trọng liên bắn máy bay, đã tăng sức mạnh chiến đấu lên nhiều.
Khu vực chiến dịch địa hình rừng núi hiểm trở, nhiều núi đá, đường sá kém phát triển. Đường số 4 là con đường chiến lược quan trọng chạy dọc biên giới Việt – Trung dài 300 ki-lô-mét, từ Hồng Quảng qua Lạng Sơn lên Cao Bằng. Đây là “liên khu biên giới phía Bắc” của địch do 13 tiểu đoàn chiếm đóng nhằm bao vây căn cứ ta về phía Bắc. Trọng điểm là thị xã Cao Bằng và Lạng Sơn, các cứ điểm chốt ở ngã ba giao thông chính là Đông Khê, Thất Khê, Na Sầm.
Ý định quyết tâm của chiến dịch lúc đầu định đánh Cao Bằng kéo viện lên để diệt. Sau Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định chuyển sang đánh Đông Khê là rất hay. Đó là do tác phong chỉ huy sâu sát, dân chủ, cẩn trọng nắm chắc phần thắng như chỉ thị của Bác: “Chiến dịch này chỉ được đánh thắng!”
Đông Khê là một cụm cứ điểm mạnh đã bị Trung đoàn 174 diệt gọn cuối tháng 5 năm 1950 (ngoài dự kiến của Bộ), nay đã được củng cố, tăng cường. Hai trung đoàn 209 và 174 tăng cường sơn pháo 75 đánh Đông Khê. Đại đoàn 308 chuẩn bị đánh viện.
Địch quyết giữ Đông Khê nên trận đánh kéo dài, nhưng ta quyết đánh tiêu diệt. Trận đánh kéo dài từ 6 giờ sáng ngày 16 đến 5 giờ ngày 18 tháng 9. Ta toàn thắng.
Nhiệm vụ của Trung đoàn 36 là đánh viện cả dù lẫn bộ binh ở Nam Đông Khê, trọng điểm là Khâu Luông, Nà Pá đến Trọc Ngà.
Sau khi đoàn cán bộ từ đại đội trưởng trở lên đi chuẩn bị chiến trường vừa đi vừa trao đổi, khi về tôi đã hình thành quyết tâm. Đồng chí Trung đoàn trưởng họp Đảng ủy thông qua quyết tâm, tôi làm kế hoạch.
Núi Khâu Luông cao nhất khu vực, sườn núi rất dốc, có bốn mỏm cách nhau qua cá “yên ngựa”, toàn cỏ tranh. Nó có vị trí khống chế toàn khu vực, địch có thể chiếm để bảo vệ sườn. Nhưng chung quanh không có địa hình đặt hỏa lực để chi viện cho bộ binh xung phong, chúng tôi phải tìm một vị trí kín đáo ở sườn đồi ít dốc gần mỏm núi để nhanh chóng chiếm trước bàn đạp khi địch đến. Các đơn vị giấu quân kín ở phía Đông đường là chính, một bộ phận ở phía Tây đường; tất cả khu vực chuẩn bị đường xuất kích, tính toán hiệp đồng các mũi, giữ bí mật với máy bay trinh sát, ngụy trang đánh ngày; điện thoại liên lạc với các mũi và hỏa lực chuẩn bị tín hiệu chỉ huy khi vận động; hỏa lực chính là cối đặt dưới chân núi chi viện sát cho bộ binh.
Thế trận đã bày xong, chờ bảy ngày địch không lên. Địch chủ trương bí mật rút khỏi Cao Bằng, lệnh cho Lơ Pa-giơ từng chặng. Ta không phát hiện được. Sau mới biết địch cho binh đoàn Lơ Pa-giơ đi rất bí mật lên đón binh đoàn Sác-tông từ Cao Bằng rút về hẹn hợp điểm ở Nậm Nàng – Bắc Đông Khê 15 ki-lô-mét, sau đó hành quân về Thất Khê.
Từ ngày 25 tháng 9, ta chuẩn bị đánh Thất Khê. Tôi cùng cán bộ tiểu đoàn, đại đội đi chuẩn bị chiến trường, hai phần ba quân số bộ đội đi lấy gạo. Khi địch đi qua trận địa phục kích của Đại đoàn 308 ở phía Nam ban đêm, trận địa bỏ trống. Đến đêm ngày 1 tháng 10, Trung đoàn 209 ở Đông Khê phát hiện địch đã nổ súng mới biết. Vì vậy Trung đoàn 36 thế trận không sẵn sàng, không thực hiện được kế hoạch chiếm trước đỉnh Khâu Luông, lực lượng còn ít lại xộc xệch, hôm sau đánh chiếm lại rất khó khăn.
Binh đoàn do đại tá Lơ Pa-giơ chỉ huy có ba tiểu đoàn Âu Phi, tăng cường tiểu đoàn dù 1, chiếm các núi cao Nam Đông Khê trải dài đến Lũng Phầy (hơn 10 ki-lô-mét). Ngày 1 tháng 10, chúng thả dù thêm một đại đội pháo xuống Nà Pá. Hôm sau tiểu đoàn dù 1 và một tiểu đoàn Âu Phi đi vòng phía Tây lên đón binh đoàn Sác-tông.
Chiều 2 tháng 10, Đại đoàn 308 dồn quân còn lại xuất kích chiếm Trọc Ngà diệt một đại đội, đến tối chiếm được đường số 4 từ Trọc Ngà đến Lũng Phầy. Địch dồn lại cố thủ ở Khâu Luông, Nà Pá, Khâu Áng.
Trung đoàn 36 được lệnh xuất kích chiều ngày 2 tháng 10, bộ đội chưa kịp ăn cơm, tập trung lực lượng xuất kích ngay, không kịp nắm tình hình cụ thể của địch, triển khai tiến công Khâu Luông. Lực lượng chỉ có hai tiểu đoàn 80 và 84 xộc xệch dồn lại mỗi tiểu đoàn được một đại đội do Trung đoàn trưởng và Chính ủy trực tiếp chỉ huy. Đồng chí Trung đoàn phó và tôi đi chuẩn bị chiến trường ở Thất Khê. Đây là vị trí chủ yếu của địch đóng trên địa điểm cao rất dốc, có hỏa lực mạnh. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, trung đoàn tổ chức hai đợt xung phong đánh giáp lá cà với địch từ 22 giờ ngày 2 và 8 giờ ngày 3 tháng 10, nhưng chỉ chiếm được đầu cầu, không có hỏa lực yểm hộ chặt chẽ nên lại bị bật xuống sườn núi ở lưng chừng đồi. Có nhiều gương anh dũng như Tiểu đội trưởng Trần Quang Vinh, Đại đội phó Phan Đề Yên (Đại đội 62), Đại đội phó Kim Thảo (Đại đội 63) bị thương không rời trận địa, kiên quyết chỉ huy đơn vị liên tục tiến công. Hai đồng chí Vi Văn Lực, Nguyễn Công Bằng quật ngã, tiêu diệt nhiều quân địch.
Mặc dù máy bay, pháo địch bắn phá, trong khói lửa, trung đoàn quyết tâm động viên bộ đội chủ cố tổ chức, đạn dược, rút kinh nghiệm hai đợt qua, tổ chức hiệp đồng lại chặt chẽ, có thêm sức của bộ đội, cán bộ đi lấy gạo về. Tiểu đoàn 80 qua hai ngày đêm chiến đấu liên tục bị tiêu hao và mệt mỏi, trung đoàn đưa Tiểu đoàn 11 thuộc Trung đoàn 209 Bộ tăng cường vào thay. Đến trưa ngày 3 tháng 10, đợt tiến công thứ ba có hai tiểu đoàn 11, 84 lại bắt đầu. Bộ binh và pháo binh phối hợp chặt chẽ, các mũi tiến lên đều, bấm sát địch đánh gần giáp lá cà vật lộn với địch rất quyết liệt. Sau 2 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 84 chiếm được mỏm Đông Nam. Tiểu đoàn 11 đã tiến sát mỏm Đông Bắc, hai mũi hiệp đồng chặt chẽ, đánh bật địch, làm chủ trận địa, diệt một đại đội Âu Phi. Đến 12 giờ đêm, địch rút chạy về phía Cốc Xá, bỏ lại toàn bộ pháo (4 khẩu 105mm), lừa, ngựa và 500 xác chết tại chiến trường.
Chiến thắng oanh liệt của trung đoàn tại Khâu Luông đã làm kế hoạch của địch bị đảo lộn. Hai cánh quân này phải tìm nhau giữa khu rừng Tây Đông Khê. Theo tin trên thông báo điểm hẹn tới là 477, Tây Cốc Xá vì lúc khẩn cấp chúng đánh điện rõ hết.
Cánh quân Sác-tông gồm hai tiểu đoàn Âu Phi, một tiểu đoàn ngụy và 500 dân sự có tỉnh trưởng Cao Bằng. Ngày 4 tháng 10, địch phải bỏ hết xe cộ để đi theo đường đất vào Quang Liệt. Đội hình địch dài 6 ki-lô-mét, đường có nhiều bụi rậm phải phát cây để đi, dọc đường gặp những toán quân nhỏ của ta đánh, chúng phải đi vòng để tránh, mỗi ngày chúng chỉ đi được 4 đến 6 ki-lô-mét.
Đài phát thanh của địch ngày 4 và 5 tháng 10 còn nói ra rả: “Khi hai cánh quân Lơ Pa-giơ và Sác-tông gặp nhau thì phải trở thành một lực lượng mà Việt Minh không thể làm gì nổi”.
Ngày 4 tháng 10, cánh Lơ Pa-giơ đến Cốc Xá, có ba tiểu đoàn bị thiệt hại nặng, đã phái một tiểu đoàn đi liên lạc ở 477 nhưng dọc đường gặp Tiểu đoàn 18, Trung đoàn 102 chặn đánh phải lui về Cốc Xá.
Đến ngày 6 tháng 10 thì hình thái chung như sau: Binh đoàn Sác-tông lực lượng còn tương đối nguyên vẹn nhưng mệt rã rời, mất tinh thần, chiều ngày 6 tháng 10 mới đến 477, chưa gặp cánh Lơ Pa-giơ đang còn ở Cốc Xá. Cũng đến ngày 6 tháng 10, lần đầu tiên chúng liên lạc với nhau bằng vô tuyến điện.
Chiều 4 tháng 10, tôi đã về kịp đưa bộ đội đi truy kích địch. Tôi đi cùng anh Hồng Sơn theo vết của địch, cho điện thoại kéo theo, đến xế chiều thì đến đỉnh núi 765, đã thấy dãy núi đá trước mặt, máy bay đang thả dù tiếp tế, đoán biết địch ở đó. Một lúc sau điện thoại kéo đến, anh Hồng Sơn đã kịp cầm máy trả lời cho đồng chí Tổng tư lệnh trực tiếp hỏi tình hình. Chúng tôi được biết binh đoàn Lơ Pa-giơ đang ở Cốc Xá và hai binh đoàn của địch đang hẹn nhau ở 477. Chặp tối, chúng tôi gặp anh Chu Phương Đới – Tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn 154 – Trung đoàn 209 sang tăng cường cho Trung đoàn 36. Chúng tôi được biết bộ đội 154 đang bám địch hướng Đông Bắc núi đá Cốc Xá. Anh Hồng Sơn giao cho Tiểu đoàn 154 đánh địch từ hướng Bắc vào theo đường địch rút rồi thông báo cho anh Chu Phương Đới biết để hiệp đồng. Tiểu đoàn 11 sẽ đánh từ Tây Nam lên, Tiểu đoàn 89 đánh cắt ngang ở giữa. Lúc này anh Văn Nhân – Tiểu đoàn trưởng 89 cũng đã có mặt. Sau đó đến tối thì gặp anh Dũng Mã của Tiểu đoàn 11, giao cho Tiểu đoàn 11 đánh hướng Tây Nam theo đường địch rút, hướng này có đường sang 477.
Trong ngày 5 tháng 10, địch mở đường máu để đi qua 477 nhưng bị Tiểu đoàn 11 đánh lui 4 đợt tiến công của chúng.
Địch được máy bay chi viện dựa vào thế núi chống cự. Ta chiếm được các điểm cao đồi đất, địch co lại cố thủ trong các hang đá trong đó có hang đá lớn gọi là hang Cốc Xá.
Lệnh của đại đoàn giao cho Trung đoàn 36 bao vây, tiêu diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ ở Cốc Xá, không cho chúng liên lạc với binh đoàn Sác-tông, lực lượng còn lại của địa đoàn bao vây tiêu diệt binh đoàn Sác-tông ở 477.
Bác Hồ gửi lá thư ngắn: “hiện nay tình hình rất có lợi cho ta. Vậy các chiến sĩ phải quyết tâm tiêu diệt địch cho kỳ hết, giành lấy toàn thắng”.
Đại tướng Tổng tư lệnh điện lệnh: “Bắt sống Lơ Pa-giơ, bắt lính Ta-bo về đi tải gạo”.
Sáng ngày 6 tháng 10, trung đoàn tổ chức lại trận tiến công với ý chí quyết diệt địch bằng được. Các hướng tổ chức hỏa lực yểm hộ có hiệu lực, bộ đội mang nhiều lựu đạn, len lỏi đánh từng hốc đá. Đặc biệt, nhất là Đại đội 395 thuộc Tiểu đoàn 89 do Đại đội trưởng Tiến Trang chỉ huy đã dũng cảm, chịu đau, khắc phục khó khăn trèo lên một ngọn cao đánh xuống bất ngờ nổ súng vào bọn chỉ huy của binh đoàn Lơ Pa-giơ. Chúng hoảng hốt bỏ chạy ào xuống hướng Tiểu đoàn 11, bị hỏa lực quật ngã rất nhiều nhưng chúng vẫn chạy bừa xuống đạp vào các ổ súng ở gần. Ở sở chỉ huy trung đoàn còn nhìn thấy nhiều tên từ trên cao ba bốn mét thả dây leo xuống, có đứa nhảy ào xuống suối… cố thoát thân trên các hướng, nhưng chúng lại rơi vào trận địa của ta, bị diệt bị bắt rất nhiều. Sau 30 phút, toàn bộ binh đoàn Lơ Pa-giơ đã hoàn toàn tan rã. Một số trong đó có ban tham mưu của Lơ Pa-giơ chạy thoát, nhưng đói mệt, mất tinh thần, gặp ta ở đâu là ra hàng ở đó, nhất là anh nuôi vừa đi vừa giơ cao nắm cơm gọi hàng bắt được rất nhiều tù binh. Một số chạy cả vào Sở chỉ huy của trung đoàn. Trong một ngày ta đã bắt hơn trăm tên. Sáng ngày hôm sau, Đại đội 42 thuộc Tiểu đoàn 84 đi phối thuộc cho Trung đoàn 88 do đồng chí Đại đội trưởng Trần Đăng Khiêm chỉ huy, có đồng chí Trần Phòng giỏi tiếng Pháp làm phên dịch đã bắt gọn ban tham mưu của đại tá Lơ Pa-giơ đưa về báo cáo với trung đoàn biết rõ, trong đó còn có đại tá bác sĩ quân y Du-rích và nhiều sĩ quan đi cùng.
Tin binh đoàn Lơ Pa-giơ bị tiêu diệt là một đòn cân não nặng nề giáng vào binh đoàn Sác-tông đang bị quây đánh ở điểm cao 477. Bị các trung đoàn 88 và 102 đánh mạnh, chúng lập tức tan rã, tháo chạy bừa bãi. Chiều ngày 7 tháng 10, toàn bộ binh đoàn Sác-tông đã bị quân ta tiêu diệt và bắt sống.
Sác-tông và hầu hết ban tham mưu của hắn cùng Hai Thu – tên tỉnh trưởng bù nhìn Cao Bằng bị Tiểu đoàn 18 Trung đoàn 102 bắt sống.
Ngày 8 tháng 10 nhận được thư Bác: “Các chú không quản mệt nhọc, đói rét, chỉ ra sức thi đua giết địch, các chú đã đánh tan đoàn quân tinh nhuệ nhất của địch… Bác và Tổng tư lệnh đã ra lệnh khao các chú một bữa thịt bò. Bác hôn tất cả các chú”.
Nghe thư Bác ai nấy đều vui mừng khôn xiết, vỗ tay, hô khẩu hiệu, hát vang cả khu rừng nơi bộ đội tập kết sinh hoạt.
Được tin hai binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông bị tiêu diệt, cánh quân Đờ La Bôm tháo chạy về Thất Khê. Tiếp đó, quân địch ở Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đình Lập nằm trên đường số 4 đều hốt hoảng rút chạy hết. Hệ thống phòng tuyến được mệnh danh là “Vành đai khép chặt biên giới” hoàn toàn bị đập vỡ. Từ Bắc đến Đông Bắc được giải phóng. Những ngày sau đó, địch rút từ An Châu (23-10) đến sát Tiên Yên. Tổng cộng đường số 4 được giải phóng gần 100 ki-lô-mét. Vũ khí, quân trang, quân dụng, xe cộ, đạn dược thu được rất lớn. Riêng Lạng Sơn, theo tin địch, chúng bỏ lại “1.500 tấn trang bị, 2.000 tấn quân nhu, 4.000 khẩu tiểu liên, 10.000 viên đạn pháo, 150 tấn thuốc nổ, ước tính đủ trang bị cho tám trung đoàn đối phương”.
* *
Chiến dịch Biên Giới là một thất bại khủng khiếp của thực dân Pháp. Theo chúng thì Hà Nội đã bị trực tiếp uy hiếp. Cũng không phải chỉ Pháp nghĩ như vậy. Chúng tôi có được nghe kể lại rằng đồng chí Trần Canh – Tư lệnh dã chiến quân Trung Quốc sang thăm ta, khi nghe nói về kết quả chiến dịch Biên Giới, đồng chí ước lượng đường đến Hà Nội, rồi vẽ ba cái vòng lớn và nói: 200 ki-l.ô-mét, chỉ ba chiến dịch nữa! Nhà văn Hội văn nghệ quân đội Pháp A-ri-ghi viết: “Cuối tháng 12 năm 1950, Bắc Kỳ như chiếc đèn trước gió, nhân dân Hà Nội chờ đợi điều xấu nhất xảy ra. Việt Minh say sưa vì chiến thắng đường 4 ở Cao Bằng và cuộc rút lui vội vã của Lạng Sơn, chỉ còn một tham vọng chiếm đồng bằng Bắc Kỳ vựa lúa và biển người không bao giờ cạn… Ngày 25 tháng 12 năm nay đã phát hiện đối phương bắt đầu tiến công trên hai hướng: Tám chín tiểu đoàn chủ lực tiến công hướng xứ Nùng hoạt động hướng Móng Cái giáp Trung Quốc. Hai mươi tiểu đoàn khác thuộc Đại đoàn 308 và toàn bộ Đại đoàn 312 ở hai bên dãy núi Tam Đảo cách Hà Nội 65 ki-lô-mét. Mục tiêu đã rõ ràng: Chiếm Hà Nội”.
Thực dân Pháp vội vã điều tướng Đờ Lát mà họ tin tưởng chỉ có ông ta mới cứu vãn được tình hình. Đờ Lát là tướng 5 sao đầu tiên sang Việt Nam làm cao ủy kiêm tổng tư lệnh, mà Pháp coi là anh hùng, là tướng tài đã từng cứu nước Pháp khỏi bàn tay của phát xít Đức.
Ngày 6 tháng 12 năm 1950 Đờ Lát sang Việt Nam đã vội vã vét quân từ trong Nam đưa ra tăng viện cho Tiên yên và lo ngăn chặn ta tiến công vào Hà Nội. Ông ta trưng dụng cả máy bay dân dụng lập cầu hàng không ra Bắc để đưa gấp quân, pháo, đạn pháo, bom na-pan mà ông ta sẽ dùng với số lượng lớn để chặn đứng các cuộc tiến công của quân ta.
Đờ Lát tiếp tục thúc đẩy thực hiện kế hoạch bình định, dựa vào viện trợ Mỹ phát triển lực lượng ngụy để tập trung lực lượng cơ động hòng giành lại chủ động; mặt khác gấp rút xây tuyến vài đai boong-ke từ Đông sang Tây ngăn chặn chủ lực ta xuống đồng bằng để mở rộng vùng tạm chiếm.
| Để phá âm mưu của địch, Trung ương Đảng ta chủ trương mở các chiến dịch liên tiếp, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phát triển du kích chiến tranh, phá bình định, phá khối ngụy quyền, giữ quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ. Theo tình hình cụ thể từng địa bàn, mỗi chiến dịch còn có những yêu cầu riêng. Hai đại đoàn 308 và 312 làm nòng cốt,. liên tục tham gia các chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch đều do anh Văn làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy. Chiến dịch Trần Hưng Đạo ở trung du bắt đầu ngày 25 tháng 12 năm 1950. Ngoài các mục đích nói trên, chiến dịch còn nhằm phá kế hoạch củng cố của địch và mở rộng khu lương thực. Hướng chủ yếu là Vĩnh Yên – Phúc Yên, hướng phụ là Bắc Ninh. Thủ đoạn tác chiến của Đờ Lát có thay đổi: tăng viện binh thận trọng hơn, nhưng kiên quyết hơn, tập trung số lượng phi pháo, bom na-pan lớn hơn rất nhiều, bước đầu có gây khó khăn cho ta. Trở về trung du, chiến trường cũ vốn là quê hương của mình, các chiến sĩ Bắc Bắc rất nô nức, phấn khởi. Sau nửa tháng hành quân, trung đoàn đã về vị trí tập kết chiến dịch. Đợt 1 chiến dịch. Các trung đoàn 88, 102 thuộc Đại đoàn 308 diệt Tú Tạo, Cà Phê, Thằn Lắn, Hữu Bằng. Tiểu đoàn 80 Trung đoàn 36 dùng chiến thuật “bôn tập” diệt gọn đồn Yên Phụ nằm trong tuyến vành đai của Đờ Lát. Đợt 2 ta đánh điểm diệt viện. Trung đoàn 141 diệt cơ bản cứ điểm Ba Huyên. Tiểu đoàn 89 Trung đoàn 36 diệt vị trí Tam Lộng. Địch đưa binh đoàn 3 tăng viện. Trận vận động diễn ra ác liệt ở Tam Dương, tiểu đoàn đi đầu của địch lọt vào trận địa của Trung đoàn 36 ở Long Trí, Cẩm Thạch đã bị đánh tan tác. Địch bị diệt hơn 700 tên, 3 xe tăng. Địch cho hai tiểu đoàn lên đón bị Trung đoàn 88 và Trung đoàn 209 quây đánh trên cánh đồng Thanh Vân, Đạo Tú, chúng hoảng loạn tháo chạy về thị xã. Ta truy kích diệt thêm một số và giải phóng một loạt cứ điểm nhỏ: Phổ Sơn, Mậu Thông, Mậu Lan, Khai Quang. Do ta không có mục đích chiếm Vĩnh Yên và không có thông tin kịp thời điều động lực lượng nên đã bỏ lỡ thời cơ. Nhân đó, địch huênh hoang rằng đã đánh lui quân ta và bảo vệ được Vĩnh Yên. Sáng hôm sau, chúng đã kịp cho một tiểu đoàn dù xuống thị xã và tăng viện binh đoàn 1 cùng binh đoàn 4 giải vây cho Vĩnh Yên. Một trận “tao ngộ” rất quyết liệt ở Ngoại Trạch giữa Trung đoàn 102, Tiểu đoàn 89 Trung đoàn 36 với binh đoàn 1 diễn ra trong cả ngày. Ta diệt 100 tên, 3 xe tăng, 3 xe vận tải của địch. Trận chiến đấu trên dãy núi Đanh cũng rất quyết liệt. Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 đánh tan hai đại đội địch ở điểm cao 101, diệt và bắt hơn 200 tên. Tiểu đoàn 29 Trung đoàn 88 đánh tan một đại đội địch ở điểm cao 41 và 47. Tiểu đoàn 80 Trung đoàn 36 cùng Trung đoàn 209 đánh điểm cao 210. Địch tập trung pháo chi viện đến 2.000 quả đạn pháo, thả bom na-pan tràn lan. Ta đánh lên lại bị bật xuống, giành giật hết sức quyết liệt nhưng không dứt điểm được do hiệp đồng không tốt. Đến đây sức chiến đấu của bộ đội đã giảm, nhiệm vụ chiến dịch đề ra đã hoàn thành, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch, chuyển hướng chiến dịch sang mặt trận khác. Địch huênh hoang rằng Vĩnh Yên là bản anh hùng ca của Đờ Lát, nhờ tài chỉ huy của Đợt Lát mà chúng đã giành chiến thắng lớn bảo vệ được Vĩnh Yên. Chúng không ngờ rằng chỉ hai tháng sau chúng bị chính những đơn vị có mặt hôm nay đánh cho thiệt hại nặng nề ở đường số 18 vùng Đông Bắc. Từ Trung du, trung đoàn về nghỉ ở Thái Nguyên đón Tết Nhâm Thìn (1951) thật vui vẻ. Một buổi, tôi ngồi nói chuyện, tâm sự với anh Hồng Sơn và Lê Linh. Anh Hồng Sơn nói: - Tôi với anh Linh bàn và có ý để đồng chí làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 80 đang thiếu, ý đồng chí thế nào? - Có phải tôi làm điều gì không phải với hai anh không? - Không có! - Thế thì tôi nhất trí. Nếu tôi xuống đó giúp cho đơn vị được tốt hơn. Tôi nhớ lại, trong ngày đầu làm việc với anh Văn, anh đã nói: - Cậu có văn hóa, sau này rất cần để đào tạo cán bộ đánh “vận động chiến”. Nay anh đã cho tôi xuống đơn vị, tôi nghĩ mình xuống đây cũng chưa trực tiếp “làm”. Người ta thường nói: Trăm “thấy” không bằng một “làm”. Ở tiểu đoàn mới thật trực tiếp chiến đấu, thế cũng hay! Tôi đi thăm anh em rồi mang ba lô về đơn vị. |



