Trường THPT Nguyễn Siêu (1)
Vào những năm đầu thế kỉ thứ III, khi đất nước còn chìm trong bóng tối của ách đô hộ nhà Ngô, ở vùng núi Nưa thuộc Thanh Hóa đã xuất hiện một người con gái phi thường, đó là Triệu Thị Trinh, người mà nhân dân đời đời kính trọng gọi là Bà Triệu.
Từ nhỏ, bà đã có chí khí hơn người. Khi cha bà hỏi về chí hướng mai sau, tuy còn ít tuổi, bà đã rắn rỏi thưa:
- Lớn lên con sẽ đi đánh giặc như bà Trưng Trắc, Trưng Nhị.
Ai nghe qua cũng phải sững người, bởi trong đôi mắt ấy là cả ngọn lửa đang bùng cháy dữ dội. Cha mẹ mất sớm, bà sống cùng người anh là Triệu Quốc Đạt. Trái tim bà luôn đau đáu trước cảnh dân lành lầm than, bị bọn quan quân Đông Ngô bóc lột tàn nhẫn. Không cam chịu kiếp sống nô lệ, bà nuôi chí lớn đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại tự do cho dân tộc.
Khi lớn lên, Triệu Thị Trinh càng không chịu nổi cảnh dân chúng bị bóc lột, đàn áp. Sau khi Quốc Đạt qua đời vì bệnh, Triệu Thị Trinh không còn gì để do dự nữa. Bà khoác giáp, lên núi Nưa dựng cờ khởi nghĩa. Những ngày đầu, lực lượng chỉ có vài chục người, nhưng khí phách của bà như ánh lửa soi đêm. Dân chúng truyền tai nhau về người con gái một lời nói làm rung chuyển núi rừng, rồi từng đoàn trai tráng lần lượt tìm đến.
Một buổi chiều, giữa doanh trại, một nghĩa quân trẻ tuổi lo lắng hỏi:
-Nữ tướng, giặc đông và mạnh… chúng ta có cơ hội không?.
Bà bước lại gần, đặt tay lên vai cậu ta, giọng dõng dạc như tiếng trống trận:
-Chỉ cần còn một người Việt đứng lên, đất này sẽ không bao giờ khuất phục.
Câu nói ấy khiến cả doanh trại như được tiếp thêm sức mạnh. Bà Triệu đã thể hiện được sự mạnh mẽ, toát lên khí phách của một vị tướng, chấp nhận hi sinh hạnh phúc bản thân để dốc lòng theo con đường cứu nước. Người đời đã truyền nhau câu nói bất hủ của bà:
-Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!.
Khi nghĩa quân đã lớn mạnh, Bà Triệu cùng tướng lĩnh, binh sĩ tiến ra khỏi rừng Nưa, mở đầu cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô. Mỗi khi Bà Triệu ra trận, bà mặc áo giáp vàng, cưỡi voi, tay cầm kiếm, dáng uy nghi hiện lên sự oai phong của nữ anh hùng. Quân giặc nhìn thấy cũng khiếp sợ, gọi bà là “Nhụy Kiều Tướng Quân”. Tương truyền rằng nhiều lần tướng Ngô muốn mua chuộc bà, giặc đã phong cho Bà Triệu đến chức Lệ Hải Bà Vương (nữ vương xinh đẹp của vùng ven biển), có lần một sứ giả của giặc đến, mở lời dụ dỗ:
-Nếu bà chịu hàng, chúng ta sẽ phong cho bà chức Lệ Hải Bà Vương, ban nhiều vàng bạc…
Bà bật cười khinh miệt:
-Ta thà chết chứ không bao giờ cúi đầu trước kẻ xâm lược.
Tên sứ giả cũng phải tái mặt, lùi bước trước khí phách như muốn thiêu đốt của bà.
Sau nhiều trận thất bại, hễ nghe tới việc phải đi đàn áp Bà Triệu là binh lính giặc lại lo lắng, chúng phải thốt lên rằng:
“Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà vương nan.”
(Vung tay đánh cọp xem còn dễ/ Đối diện Bà Vương mới khó sao)
Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Quân Ngô hơn hẳn quân khởi nghĩa về mặt tổ chức cũng như về mặt vũ khí. Quân ta suy yếu dần và tan vỡ, lực lượng nghĩa quân còn non trẻ, không đủ sức chống lại đạo binh lớn hơn mình gấp bội. Sau một cuộc bao vây ráo riết của quân giặc, Bà Triệu phải rút về núi Tùng Sơn (nay thuộc huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa). Đêm cuối cùng, bà một mình bước lên mỏm đá nhìn xuống cánh rừng đang chìm trong khói lửa. Gió thổi mạnh khiến áo giáp lấp lánh ánh trăng. Một nghĩa sĩ chạy đến, nghẹn ngào:
-Nữ tướng! Chúng con nguyện ở lại cùng người, dù có chết cũng không lùi!.
Bà khẽ lắc đầu, đôi mắt sáng lên một vẻ bình thản lạ thường:
-Các con phải sống. Đất nước này cần những người còn biết căm thù mà đứng lên.
Rồi bà quay mặt về trời, nói như lời thề cuối:
-Sinh vi tướng, tử vi thần.
(sống làm tướng, chết làm thần)
Ngay sau đó, bà rút gươm, chọn cái chết để giữ trọn khí tiết, khi tuổi đời mới 23.
Bà để lại biết bao sự hối tiếc cho nhân dân, đó là vào ngày 22 tháng 2 năm Mậu Thìn - 248.
Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu tuy thất bại, nhưng đã để lại một dấu son sáng ngời trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Nhân dân ta tự hào vì đã sinh ra một vị nữ anh hùng với những chiến công oanh liệt với tinh thần yêu nước, chí khí quật cường cùng sự hy sinh lẫm liệt của Bà Triệu không chỉ khiến kẻ thù khiếp sợ mà còn trở thành nguồn cổ vũ lớn lao cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự chủ của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử.
Ngày nay, người Việt vẫn tưởng nhớ Bà Triệu như một biểu tượng bất khuất, một người con gái “tài sắc vẹn toàn, trí lớn hơn người,” dám đứng lên chống giặc ngoại xâm giữa thời buổi đen tối nhất của dân tộc. Bà ra đi, nhưng tinh thần dũng cảm, kiên cường, không chịu khuất phục vẫn sống mãi cùng non sông.



